HƯỚNG DẪN ÔN TẬP TRIẾT HỌC MÁCLÊNIN - Pdf 15

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUÊ
KHOA MÁC-LÊNIN
BỘ MÔN TRIẾT HỌC
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
(TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ)
HUẾ, 1998
1
BAN BIÊN TẬP
(tháng 9/1998)
Trưởng ban: ThS Nguyễn Xuân Hoan, trưởng Bộ môn Triết học
Phó trưởng ban: ThS Hoàng Ngọc Vĩnh, phó trưởng Bộ môn Triết học
GV CN Nguyễn Thanh Tân, phó trưởng Bộ môn Triết học
Các ủy viên: Nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Sung
PTS Nguyễn Tiến Dũng
PTS Đoàn Đức Hiếu
GVC Võ Ngọc Huy
CN Nguyễn Cảnh Chắt
CN Phan Doãn Việt
(Hoàng Ngọc Vĩnh đính chính và công bố tháng 8/2010)
2
Lời nói đầu
- Căn cứ vào thông báo số 7785/CTCT ngày 12.9.1998 của Bộ giáo dục
và Đào tạo về việc dạy và học các môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh năm học 1998-1999.
- Căn cứ vào nhu cầu về tài liệu học tập của sinh viên và học viên Cao
học, nghiên cứu sinh không chuyên ngành Mác-Lênin, Bộ môn Triết học Trường
Đại học Khoa học Huế biên soạn cuốn: “Hướng dẫn ôn tập Triết học Mác –
Lênin”.
Đây là tài liệu giúp cho người học nắm được một cách có hệ thống những
nguyên lý cơ bản của Triết học Mác-Lênin và những quan điểm của Đảng ta vận

động trí óc và lao động chân tay; nhưng quá trình phân công lao động này trong
thực tế chỉ diễn ra khi lịch sử nhân loại bước vào giai đoạn có phân chia giai
cấp.
2. Vấn đề cơ bản của triết học:
Theo Ăng-ghen, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa
tồn tại và tư duy, hay là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Vấn đề
này có hai mặt:
- Mặt thứ nhất, đó là vấn đề giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước? cái
nào quyết định cái nào? Tùy theo cách giải quyết vấn đề này mà triết học chia
thành hai trào lưu chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất, nên vật chất
có trước, tồn tại độc lập với ý thức và quyết định ý thức; còn ý thức là thuộc
tính, là sự phản ánh vật chất. Chủ nghĩa duy vật trải qua nhiều giai đoạn phát
triển với năm hình thức lịch sử cơ bản: duy vật cổ đại (mộc mạc, chất phác), duy
vật tầm thường thế kỷ V-XV, duy vật cơ học máy móc thế kỷ XVII-XVIII, duy
vật siêu hình thế kỷ XIX và duy vật mác-xít (biện chứng).
4
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức (tinh thần) là bản chất của thế giới,
nên ý thức là cái có trước và quyết định vật chất; còn vật chất là cái có sau, là sự
“biểu hiện” của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm có hai hình thức cơ bản: duy tâm chủ
quan (coi ý thức là bản chất của thế giới, nhưng đó là ý thức của con người nằm
trong con người) và duy tâm khách quan (cũng coi ý thức là bản chất của thế
giới, nhưng đó là một thực thể tinh thần tồn tại bên ngoài con người và độc lập
với con người).
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật: là sự phát triển của tri thức, của khoa
học; là lợi ích và cuộc đấu tranh của các giai cấp, các lực lượng xã hội tiến bộ,
cách mạng ở mỗi giai đoạn phát triển của lich sử. Nguồn gốc của chủ nghĩa duy
tâm: là sự tuyệt đối hóa một hình thức hay một giai đoạn của quá trình nhận thức
dẫn đến tách nhận thức và ý thức khỏi thế giới hiện thực khách quan; thông
thường là lợi ích và sự phản kháng của các giai cấp, các lực lượng bảo thủ trước

sự phát triển của khoa học tự nhiên đòi hỏi phải phân chia giới tự nhiên thành
những lĩnh vực riêng biệt để nghiên cứu. Chính cách nghiên cứu ấy đã đem lại
cho các nhà khoa học một thói quen, xét sự vật và quá trình trong trạng thái cô
lập ở ngoài mối liên hệ, vận động và phát triển của chúng. Khi cách xem xét này
được các nhà duy vật đưa vào triết học thì nó đã tạo ra phương pháp siêu hình.
Như vậy, thuật ngữ “phương pháp siêu hình” được dùng để chỉ phương pháp
triết học đặc trưng cho chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII. Phương pháp siêu
hình là cách xem xét thế giới trong sự cô lập tác biệt lẫn nhau hoặc không vận
động, hoặc không phát triển, hoặc vận động và phát triển theo chu kỳ khép kín.
Thuật ngữ “biện chứng” (dialectics), đầu tiên được Platon dùng để chỉ
một nghệ thuật trong tranh luận, theo đó nó được hiểu là những thủ đoạn biện
bác chủ quan. Tuy vậy ở thời cổ đại đã có những tư tưởng biện chứng khách
quan (triết học Hêraclít), nhưng vẫn còn mang tính tự phát và chưa trở thành hệ
thống. Đến thế kỷ XVIII, những tư tưởng biện chứng được phục hồi và được
xây dựng thành hệ thống, đặc biệt là ở trong các học thuyết của những nhà triết
học duy tâm cổ điển Đức. Từ lúc này những tư tưởng biện chứng mới hợp thành
một phương pháp triết học đối lập với phương pháp siêu hình. Đến giữa thế kỷ
XIX, khái quát hiện thực xã hội, tổng kết những thành quả lý luận và khoa học,
Mác và Ăngghen xây dựng lại phương pháp biện chứng trên lập trường duy vật
đã sáng tạo ra phương pháp biện chứng mác-xít. Phương pháp biện chứng là
cách xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc nhau và
luôn vận động và luôn phát triển.
- Sự đối lập giữa phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng diễn
ra trong cách giải quyết mọi vấn đề triết học, song có thể khái quát ở những nội
dung chính sau đây:
Thứ nhất: Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong trạng thái cô lập
của các sự vật hiện tượng; cái này được xét tách rời cái kia mà không thừa nhận
rằng giữa chúng có sự ràng buộc lẫn nhau. Vì vậy phương pháp siêu hình chỉ
nhìn thấy tính cá biệt mà không nắm được mối liên hệ, thấy được sự khác biệt
mà không nắm được sự thống nhất giữa các sự vật hiện tượng; chỉ thấy cái bộ

trò của phép siêu hình. Trong thực tế, có những mối liên hệ, có những mặt, có
những lúc đặc biệt lại rất cần đến phép siêu hình.
Câu 3: Trình bày những tiền đề ra đời của triết học Mác-Lênin.
1. Tiền đề kinh tế-xã hội:
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX, thời kỳ mà chủ
nghĩa tư bản đã trở thành hệ thống kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai
cấp vô sản đã bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập.
Mác nhận xét rằng, đến thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã trở thành một cơ
thể hoàn chỉnh, làm bộc lộ đầy đủ các mâu thuẫn trong bản chất của nó. Trước
hết là mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất có tính chất xã hội với quan hệ
sản xuất có tính chất tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này biểu hiện
về mặt xã hội là mâu thuẫn xung đột giữa lao động với tư bản, giữa giai cấp vô
sản với giai cấp tư sản. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu
thuẫn của nó, đã tạo ra một cơ sở hiện thực cho những phân tích và khái quát lý
luận trong học thuyết của Mác và Ăngghen.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với các mâu thuẫn của nó kéo
theo sự phát triển của phong trào công nhân. Đến cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu
thế kỷ XIX, phong trào công nhân ở các nước Tây Âu đã có bước phát triển mới
về số lượng và chất lượng. Sự tập trung tư bản cùng với sự hình thành những
trung tâm công nghiệp lớn thu hút công nhân thành lực lượng đông đảo, mâu
thuẫn giữa lao động và tư bản trở nên gay gắt làm xuất hiện những cuộc đấu
tranh chính trị ngày càng có tổ chức và tự giác. Các cuộc khởi nghĩa của công
nhân ở Xilêdi (Đức), ở Liông và Pari (Pháp), phong trào Hiến chương (Anh) vào
7
những năm 30-40 chứng minh rằng: giai cấp công nhân trở thành lực lượng
quyết định các quá trình kinh tế-xã hội-chính trị của thời đại và bước lên vũ đài
lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Phong trào công nhân thời kỳ này
làm bộc lộ sai lầm của quan niệm tư sản về sự hân hoan chung giữa lao động và
tư sản, tạo nên những thay đổi căn bản trong quan niệm về lịch sử của Mác và
Ăngghen; mặt khác, nó đề ra nhu cầu giải thích về những thực tế của cuộc đấu

quan điểm siêu hình); quan điểm trực quan, trừu tượng, phi lịch sử về bản chất
con người, duy tâm trong lĩnh vực xã hội. Vì vậy khi sáng lập ra triết học của
mình, Mác và Ăngghen cũng không kế thừa toàn bộ triết học Phơbách mà chỉ kế
thừa hạt nhân cơ bản đúng đắn đó là nguyên lý duy vật, đồng thời cải tạo và xây
dựng lại chủ nghĩa duy vật dựa trên quan điểm biện chứng.
8
- Sự ra đời triết học Mác không chỉ do ảnh hưởng của triết học Hêghen và
triết học Phơbách. Mác và Ăngghen khi tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh
của giai cấp vô sản đã rút ra những tài liệu thực tiễn phong phú cho những kết
luận duy vật-biện chứng của mình. Ngoài ra, việc hai ông đi sâu nghiên cứu kinh
tế-chính trị học cổ điển và chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán, đã góp phần
không nhỏ cho sự hình thành và hoàn thiện thế giới quan triết học của mình.
3. Tiền đề khoa học tự nhiên:
Sự ra đời triết học Mác còn được chuẩn bị bởi những thành quả của khoa
học tự nhiên. Những thành quả của khoa học tự nhiên từ cuối thế kỷ XVIII đến
đầu thế kỷ XIX làm bộc lộ những hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình,
ngày càng chứng minh tính đúng đắn của các nguyên lý duy vật và biện chứng.
Phát hiện bằng thực nghiệm của Maye (được Lômônôxốp công bố) về sự
bảo toàn vật chất và vận động, lý luận của Can-tơ về sự hình thành thái dương
hệ đã góp phần khẳng định quan điểm biện chứng về lịch sử vũ trụ và giới tự
nhiên: mặt khác đả phá quan niệm duy tâm, tôn giáo siêu hình về thế giới.
Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những
thành tựu to lớn. Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò quan trọng
trong cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình và chuẩn bị cho sự ra đời của
chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX phát minh ra quy luật bảo toàn và
chuyển hóa năng lượng. Quy luật này chứng minh rằng: lực cơ học, nhiệt, ánh
sáng, điện, từ các quá trình hóa học, nghĩa là các hình thức khác nhau của vận
động vật chất không tách rời nhau, mà liên hệ và chuyển hóa lẫn nhau nên
không hề mất đi. Nó chứng minh rằng không có sự sinh ra và mất đi của năng

một bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học. Điều đó thể hiện ở những nội
dung sau đây:
- Triết học Mác ra đời lần đầu tiên đem lại cho giai cấp vô sản một hệ tư
tưởng; một lý luận dẫn đường thực hiện bước giải phóng giai cấp vô sản về mặt
tinh thần. Mác cho rằng, nếu trái tim của sự giải phóng nhân loại là giai cấp vô
sản, thì khối óc sự giải phóng đó là triết học của giai cấp vô sản, là thế giới quan
của nó. Triết học Mác là vũ khí lý luận chung cấp cho giai cấp vô sản những
công cụ nhận thức và cải tạo thế giới, cho nên Mác viết: “giống như triết học tìm
thấy ở giai cấp vô sản là một vũ khí vật chất, giai cấp vô sản tìm thấy ở triết học
là một vũ khí tinh thần”. Như vậy, với sự ra đời ở triết học Mác, phong trào vô
sản đã có một bước ngoặt, từ chỗ là một phong trào tự phát, chưa có lý luận, bị
lệ thuộc vào tư tưởng, nó trở thành một phong trào tự giác, có lý luận và độc lập
về tư tưởng.
- Với sự ra đời của triết học Mác, lần đầu tiên thực tiễn trở thành phạm trù
trung tâm của triết học. Điều đó làm biến đổi tận gốc vai trò xã hội của triết học
và khắc phục được những thiếu sót căn bản của triết học trước kia. Trung tâm
chú ý của triết học Mác không chỉ là giải thích, mà còn và chủ yếu là vạch ra
con đường, những phương tiện cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách mạng. Đối
với triết học Mác thì thực tiễn có vai trò quyết định mọi sự phát triển xã hội,
khoa học và cả triết học. Không một nhà triết học nào trước Mác hiểu được vai
trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận và đối với toàn bộ lịch sử nhân loại.
Vì hạn chế đó, các nhà duy vật trước Mác đã rơi vào quan điểm duy tâm siêu
hình khi đề cập đến những vấn đề xã hội. Chủ nghĩa duy tâm phản ánh lợi ích
của giai cấp thống trị bảo thủ, cho nên nó xa rời thực tiễn, tách khỏi hiện thực,
làm cho quần chúng không thấy được những cơ sở vật chất của các quan hệ bóc
lột.
Chỉ ra vai trò quyết định của thực tiễn, Mác và Ăngghen cũng luôn nhấn
mạng vai trò to lớn của hoạt động tinh thần, của lý luận. Vì vậy hai ông đã phát
triển học thuyết cân đối về mối liên hệ giữa lý luận cách mạng và thực tiễn cách
mạng. Lý luận cách mạng có vai trò chỉ đạo thực tiễn, làm cho thực tiễn từ tự

học cụ thể khác. Triết học Mác không hòa lẫn vào các khoa học cụ thể mà cũng
không tách rời chúng. Trong sự hình thành và phát triển của mình, triết học Mác
không chỉ dựa trên sự khái quát thực tiễn xã hội, mà còn dựa trên sự khái quát
của những thành tựu khoa học cụ thể (cả tự nhiên và xã hội). Khoa học cụ thể
cung cấp những tài liệu hết sức phong phú cho triết học Mác nghiên cứu các quy
luật chung nhất của hiện thực khách quan. Đồng thời triết học Mác cung cấp
những hiểu biết về các quy luật chung nhất của hiện thực khách quan sẽ giúp
cho các khoa học cụ thể nghiên cứu có hiệu quả các quy luật đặc thù.
Câu5: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin và ý nghĩa khoa
học của định nghĩa này?
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những
thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về
11
mặt triết học trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật
chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất như sau:
1. Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập,
T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.151).
2. Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu sau
đây:
a. “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận
thức.
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ
không phải dưới góc độ của các khoa học cụ thể. Điều này sẽ giúp chúng ta
tránh được sai lầm khi đồng nhất phạm trù vật chất trong triết học với các khái

c. Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Đến đây, Lênin đã khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức
được thế giới hiện thực khách quan. Tức là Lênin đã giải quyết được mặt thứ hai
của vấn đề cơ bản triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
3. Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
- Giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường
chủ nghĩa duy vật và biện chứng.
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật
chất của chủ nghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng của nó trong trào lưu
triết học tư sản hiện đại.
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và tạo ra căn cứ vững chắc để
nghiên cứu xã hội.
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn
vận động và phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ
các nhà khoa học khi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm
phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.
Câu 6: Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức?
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức của con người là sản phẩm của
quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử-xã hội. Do đó, muốn hiểu được nguồn
gốc và bản chất của ý thức, cần phải xem xét trên cả mặt tự nhiên và xã hội.
I. Nguồn gốc ý thức:
1. Nguồn gốc tự nhiên:
a. Ý thức là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao là
bộ não người.
- Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh đó là năng lực giữ
lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất
khác và ngược lại. Nó được thực hiện trong sự tác động qua lại giữa các hệ
thống vật chất.
- Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao,

+ Trong lao động, con người đã biết chế tạo ra các công cụ lao động và sử
dụng các công cụ đó để tạo ra của cải vật chất.
+ Lao động là hành động có mục đích, tác động vào thế giới khách quan
nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Do đó, ý thức con người phản ánh một
cách tích cực, chủ động và sáng tạo.
- Trong quá trình lao động, bộ não con người phát triển và ngày càng hoàn
thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người cũng ngày càng phát
triển.
- Lao động ngay từ đầu đã liên kết mọi thành viên trong xã hội với nhau,
làm nảy sinh ở họ nhu cầu giao tiếp. Vì vậy, ngôn ngữ ra đời và không ngừng
phát triển cùng với lao động.
b. Ngôn ngữ:
- Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là “vỏ vật chất” của tư duy, là
phương tiện, là công cụ để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh khái quát
sự vật, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và trao đổi chúng giữa các thế hệ.
- Ý thức là một hiện tượng xã hội, do đó, nếu không có ngôn ngữ thì ý
thức không thể hình thành và phát triển được.
- Chính vì vậy, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Sau lao động, đồng thời
với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu của sự chuyển biến
14
bộ não của loài vật thành bộ não của con người, tâm lý động vật thành ý thức”
(Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên, NXB Sự thật, Hà Nội,1974, tr. 257)
II. Bản chất của ý thức:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh
thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản
chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh
sáng tạo, tích cực và chủ động về thế giới khách quan. Đó chính là sự khác biệt
rất cơ bản của ý thức con người so với tâm lý động vật và sự “suy nghĩ” của
máy móc.
Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn

động thấp và ngược lại.
15
Tuy có sự khác nhau về chất, nhưng giữa các hình thức vận động có sự
liên hệ, tác động chuyển hóa qua lại. Thông qua sự liên hệ, chuyển hóa phổ biến
của mọi hình thức vận động trong vũ trụ mà vận động vật chất được bảo toàn.
Những dạng vật chất phức tạp như cơ thể sống, xã hội loài người bao hàm
nhiều hình thức vận động trong sự liên hệ tác động qua lại, nhưng bao giờ cũng
được đặc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản xác định. Ví dụ, trong cơ thể
sống bao gồm các hình thức vận động cơ học, lý học, hóa học, sinh học, song
hình thức vận động sinh học là hình thức đặc trưng cơ bản quy định sự khác
nhau giữa cơ thể sống với những dạng vật chất khác.
d. Vận động và đứng im.
Trong khi coi vận động là thuộc tính bên trong vốn có của vật chất, chủ
nghĩa duy vật không phủ nhận sự đứng im, mà coi đứng im như một trường hợp
riêng của vận động. Không có đứng im tương đối thì không thể hình thành các
sự vật, hiện tượng riêng lẻ, cụ thể.
Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối. Đứng im là tương đối bởi vì:
- Hiện tượng đứng im chỉ xảy ra trong một quan hệ nhất định chứ không
phải trong mọi quan hệ cùng một lúc.
- Đứng im chỉ xảy ra đối với một hình thức vận động trong một lúc nào
đó, chứ không phải đối với tất cả mọi hình thức vận động trong cùng một lúc.
- Đứng im chỉ là biểu hiện của một trạng thái vận động: vận động trong
thăng bằng, trong sự ổn định tương đối, khi nó còn là nó mà chưa chuyển thành
cái khác.
- Vận động tuyệt đối. Do đó, nó làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng
biến đổi, làm cho sự đứng im tương đối luôn luôn bị phá vỡ. Đứng im chỉ là tạm
thời vì: vận động cá biệt có xu hướng trở thành cân bằng, vận động toàn bộ lại
có xu hướng phá vỡ sự cân bằng riêng biệt đó.
Tóm lại, vận động là tuyệt đối, vĩnh viễn, đứng im là tương đối, tạm thời,
vật chất không thể nào tồn tại như thế nào khác ngoài cách vận động và vật chất

càng đầy đủ, càng chính xác bao nhiêu thì hiệu quả tác động của nó càng cao
bấy nhiêu.
+ Mức độ xâm nhập của ý thức đó vào trong quần chúng nhân dân, mức
độ xâm nhập của ý thức càng lớn thì hiệu quả tác động của nó càng cao.
3. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nếu vật chất là nguồn gốc khách quan, là cơ sở sản sinh ra ý thức; còn ý
thức là sản phẩm, là sự phản ánh thế giới khách quan thì trong nhận thức và
hành động, con người phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan, chống lại chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
- Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn. Do đó, cần phải phát huy tính tích cực của ý thức đối với vật
chất bằng cách nâng cao năng lực nhận thức các quy luật khách quan và vận
động chúng vào trong hoạt động thực tiễn của con người. Sức mạnh ý thức của
con người không phải ở chỗ tách rời điều kiện vật chất mà là biết dựa vào đó,
phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế giới khách quan.
- Chúng ta phải chống lại bệnh chủ quan duy ý chí cũng như thái độ tiêu
cực, thụ động.
Xuất phát từ ý nghĩa đó, Đảng ta đã chỉ rõ một trong những điều kiện cơ
bản để đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của mình là phải “luôn luôn xuất phát từ
thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan”, (Đảng Cộng sản Việt
Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
1986, tr.30)
17
Câu 9: Phân tích nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
rút ra ý nghĩa phương pháp luận
- Phép siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến của thế giới. Theo
quan điểm này, sự vật hiện tượng trong thế giới về cơ bản không có sự liên hệ,
ràng buộc, quy định lẫn nhau. Cho nên đối với phép siêu hình, thế giới chỉ là
một tập hợp rời rạc các sự vật cô lập nhau. Cách nhìn ấy không cho phép chúng
ta vạch ra cái chung, cái bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng.

luận to lớn đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nếu các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ
biến và nhiều vẻ, thì muốn nhận thức và tác động vào chúng, phải có quan điểm
toàn diện, khắc phục quan điểm phiến diện, một chiều. Quan điểm toàn diện đòi
hỏi chúng ta khi phân tích sự vật phải đặt nó trong mối liên hệ với sự vật hiện
18
tượng khác; phải xem xét tất cả các mặt, các yếu tố, kể cả khâu trung gian, gián
tiếp của chúng. Chỉ có như vậy, chúng ta mới nắm bắt được một cách đầy đủ bản
chất của sự vật, tránh được những kết luận phiến diện chủ quan, vội vàng.
Tuy nhiên quan điểm toàn diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng,
tràn lan mà phải thấy được tính chất, vị trí của từng mối liên hệ, từng mặt, từng
yếu tố trong tổng thể của chúng. Như vậy, quan điểm toàn diện bao hàm quan
điểm lịch sử cụ thể. Quan điểm này đòi hỏi, phải xét sự vật trong từng liên hệ cụ
thể của nó, gắn với những tính chất, vị trí cụ thể của mối liên hệ cụ thể đó; phải
biết phân loại các liên hệ của sự vật để nắm lấy cái cơ bản, cái có tính quy luật
của nó; đồng thời phải xét cả những điều kiện cụ thể của sự vật trong đó xuất
hiện từng liên hệ quy định từng tính chất và xu hướng cụ thể của nó. Từ đó mà
tìm ra những phương thức cụ thể để tác động đến sự vật.
Câu 10: Phân tích nội dung của nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý
nghĩa phương pháp luận
- Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thống
nhất hữu cơ với nguyên lý về sự phát triển, bởi vì liên hệ tức là vận động, mà
không có vận động thì không có sự phát triển. Nhưng “vận động” và “phát triển”
là hai khái niệm khác nhau. Khái niệm “vận động” khái quát mọi sự biến đổi nói
chung, không tính đến xu hướng và kết quả của những biến đổi ấy như thế nào.
Sự vận động diễn ra không ngừng trong thế giới và có nhiều xu hướng.
Khái niệm “phát triển” không khái quát mọi sự biến đổi nói chung; nó chỉ
là khái quát những vận động đi lên, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ. Tiêu
chuẩn để xác định sự phát triển là có xuất hiện “cái mới” trong những biến đổi
của sự vật hiện tượng. Sự phát triển trong thế giới theo các chiều hướng cơ bản

vì vậy mà ông nhấn mạnh rằng, phép biện chứng là học thuyết “hoàn bị nhất,
sâu sắc nhất và không phiến diện về sự phát triển”.
- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta nhận thức
rằng, muốn thực sự nắm được bản chất của sự vật hiện tượng, nắm được quy
luật và xu hướng của chúng phải có quan điểm phát triển, khắc phục tư tưởng
bảo thủ trì trệ.
Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật phải xét nó như một quá
trình; đặt nó trong sự vận động, sự phát triển mới nắm được quy luật và những
xu hướng của nó. Quan điểm phát triển còn bao hàm yêu cầu xét sự vật trong
từng giai đoạn cụ thể của nó nhưng không được tách rời với các giai đoạn khác
mà phải liên hệ chúng với nhau mới có thể nắm được logic của toàn bộ tiến trình
vận động sự vật. Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi tinh thần lạc quan tích cực
trong thực tiễn, khắc phục mọi sụ trì trệ bảo thủ.
Câu 11: Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập - ý nghĩa phương pháp luận của việc nghiên cứu quy luật này
trong hoạt động thực tiễn.
I. Nội dung quy luật:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật
mâu thuẫn) là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là “hạt
nhân của phép biện chứng”. Bởi vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong
của sự vận động và phát triển.
- Khái quát nội dung quy luật:
Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong. Mỗi sự vật,
hiện tượng đều là thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối
lập nhau. Chính sự đấu tranh của các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện tượng
vận động, phát triển.
- Phân tích nội dung quy luật:
1. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến.
- “Mặt đối lập”?
20

đối” (V.I.Lênin toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.379 - 380). Sự
thống nhất của các mặt đối lập có tính chất tạm thời, thoáng qua, tương đối,
cũng như trạng thái đứng im của sự vật, bởi vì mọi sự vật, hiện tượng cụ thể đều
có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để nhường chỗ cho các sự vật,
hiện tượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời.
Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng
đều có mâu thuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển
của sự vật. Tính tuyệt đối của sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận
động, sự biến đổi liên tục của sự vật, hiện tượng. Đấu tranh của các mặt đối lập
là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết định đối với sự chuyển hóa của các
mặt đối lập.
Đối lập
Sự khác nhau
căn bản
Sự khác nhau
Chuyến hóa
Các
giai
đoạn
phát
triển
Khuynh
hướng
phát
triển
22
Hệ thống sự vật,
hiện tượng mới
Sự vật, hiện tượng (hệ thống cũ)
S.1 Quá trình phát triển của một mâu thuẫn.

Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu: Mâu thuẫn chủ yếu là
mâu thuẫn nổi lên hàng đầu và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của
sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển. Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu
thuẫn phát sinh và không giữ vai trò quyết định nhưng gây ảnh hưởng nhất định
đến sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗi giai đoạn phát triển.
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng (loại mâu thuẫn này
chỉ có trong lĩnh vực đời sống xã hội): Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa
các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau. Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết
thông qua cách mạng xã hội. Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các
giai tầng có lợi ích cơ bản không đối lập nhau. Mâu thuẫn này được giải quyết
bằng phương pháp hòa bình thông qua giáo dục và đổi mới xã hội.
II. Ý nghĩa phương pháp luận:
23
- Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và
giải quyết các vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn.
- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn. Yêu cầu này đòi hỏi
chúng ta, muốn nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân
tích các mặt đối lập của mâu thuẫn.
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và phải có biện pháp cụ
thể để giải quyết đối với từng loại mâu thuẫn.
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn: Bất kỳ mâu thuẫn nào,
bất kỳ giai đoạn nào của mâu thuẫn, cũng chỉ được giải quyết bằng con đường
đấu tranh giữa các mặt đối lập, chứ không phải bằng con đường điều hòa giữa
chúng.
Câu 12: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn
đến những thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận của
việc nghiên cứu quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
I. Nội dung quy luật:
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và
số lượng (lượng). Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những thay

không tách rời nhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng.
- “Độ” là khái niệm nói lên mối quan hệ quy định lẫn nhau của chất và
lượng. Nó là giới hạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa biến
thành cái khác. Trong giới hạn “độ” lượng biến đổi nhưng chưa dẫn đến chuyển
hóa về chất.
- Độ cũng biến đổi khi những điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng biến
đổi.
b. Những hình thức biến đổi từ lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
Ranh giới của lượng do chất quy định, nhưng sự chuyển hóa thì bao giờ
cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Các hình thức cơ bản của sự chuyển hóa:
+ Tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng
+ Sự dung hợp của nhiều lực lượng thành một hợp lực về căn bản khác
với tổng số những lực lượng cá biệt.
+ Thay đổi về kết cấu, tổ chức, qui mô của sự vật, hiện tượng.
- Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ thì dẫn đến thay đổi về
chất. Sự thay đổi về chất được gọi là bước nhảy (có 4 loại bước nhảy cơ bản:
bước nhảy toàn phần, bước nhảy cục bộ, bước nhảy dần dần, bước nhảy đột
biến), đó là bước ngoặt căn bản trong sự biến đổi dần dần về lượng.
- Giới hạn mà ở đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút.
- Sự chuyển hóa đòi hỏi phải có điều kiện.
c. Ảnh hưởng của chất mới đối với sự biến đổi của lượng
Khi chất mới ra đời nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có một sự
thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này được biểu hiện ở qui mô và
nhịp điệu phát triển mới của lượng.
Tóm lại, quy luật lượng-chất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng.
Đó là quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng. Lượng biến đổi
mâu thuẫn với chất cũ, chất mới ra đời với lượng mới. Lượng mới lại tiếp tục
biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất đang kìm hãm nó, tạo nên chất mới
với lượng mới. Như vậy phát triển là quá trình vô hạn, vừa mang tính liên tục
(biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa có tính gián đoạn (biểu hiện ở sự thay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status