HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG - Pdf 15

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
I. KHÁI LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ - TRUNG ĐẠI.
1. NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT
VỀ SỰ PHÂN KỲ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ.
Triết học Ấn Độ ra đời trên cơ sở của một nền văn minh cổ nhất của
loài người, những truyền thống hàng ngàn năm của nó bắt nguồn từ thế kỷ
XV TCN - X SCN vẫn được bảo tồn cho đến ngày nay. Có thể chia Lịch sử
các học thuyết Ấn Độ thành bốn thời kỳ:
- Thời kỳ Vệđà (XV TCN - VII TCN).
- Thời kỳ cổ điển hay còn gọi là thời kỳ Phật giáo - Balamôn (VI TCN
đến thế kỷ X SCN).
- Thời kỳ sau cổ điển (X - XVIII).
- Triết học Ấn Độ cận đại và hiện đại.
Cũng có quan niệm triết học Ấn Độ cổ-trung đại là phát triển trong
khoảng từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XV SCN.
1.1 - Thời kỳ văn hóa Veda (XV -VII TCN):
Veda bắt nguồn từ căn tự “vid” có nghĩa đen là “hiểu biết”, “tri thức”.
Veda cũng được dùng chung với ý nghĩa là “kinh thánh”. Đối với các trường
phái chính thống Veda là những tri thức cao cả, thiêng liêng. Trong cụ thể,
Veda là một khối lượng các tác phẩm văn học được sáng tác trong khoảng
thời gian trên dưới 2000 năm, không đồng nhất về nội dung và văn phong.
Cùng với sự hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ, từ thế kỷ X TCN Thánh kinh
Vêda là triết lý tôn giáo đa thần, mà bộ phận mang tính triết học nhiều nhất là
Upansát. Đạo Bàlamôn dựa trên triết lý của Upanisát và chế độ phân biệt
đẳng cấp nghiệt ngã của Ấn Độ cổ, là tôn giáo thờ một thần: Tinh thần tối
cao, toàn năng, tuyệt đối, sáng tạo ra tất cả và chi phối tất cả - Thần Brahman.
Đây là hình thức ban đầu của đạo Hinđu và ảnh hưởng lớn đến thế giới quan
triết học Ấn Độ cổ đại.
Kinh Veda là bộ kinh cổ nhất của Ấn Độ và cũng là cổ nhất của loài
người. Nó được soạn từ thế kỷ XII đến thế kỷ V TCN. Người ta cho rằng, về

trích của Rig-veda, gồm 1549 bài. Nó là những câu hát dành cho các tư tế
(udgtri) trong tiến trình nghi lễ. Trong lễ hiến tế người ta đồng thanh hát ngân
nga những bài ca có vần dài tới 9 giây và thường kết thúc bằng từ UM (ôm)
huyền bí. Nó chuyên dùng cho các bậc Ca vịnh sư (Udgrat). Nó còn được coi
như những quyết định về luật lệ cho sinh hoạt thị tộc. Chính điểm này, làm
Ấn Độ trở nên một quốc gia khó cách tân về phong tục, tập quán. Bởi vì, nếu
cách tân là phạm lời dạy của thánh.
+ Yajur-Veda gọi là Tế tự Veda. Nó là sự tập hợp những công
thức khấn bái dùng trong lễ nghi hiến tế. Đây là bộ kinh dành cho Hành lễ sư
(Adhvaryu). Bộ này gồm 2 bộ (Đen: Krispa và Trắng: Sukla). Bộ Trắng chỉ
2

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
có các thần chú và các công thức sử dụng cho các nghi lễ. Bộ Đen là những ý
kiến về nghi lễ và thảo luận những ý kiến đó.
Thần chú trong Yajur-Veda bao gồm cả thơ và văn xuôi mang tính
công thức khấn bái dùng trong nghi lễ hiến tế. Các công thức này thường
không có nghĩa. Nếu có thì là sự vô lý hỗn loạn nên được coi là có sức mạnh
ma thuật.
Các hành lễ sư phải thuộc lòng các công thức trong thánh kinh này.
Thánh kinh này dạy những thể thức hành lễ, cúng bái, cách bày các loại tế
khí, các đồ lễ lên bàn thờ và cách dâng đồ lễ khi cúng tế.
+ Atharva-Veda là tập các thần chú ma thuật dùng cho các sự
khẩn cầu khác nhau, tách riêng với ba bộ kinh trên. Nó gồm 731 bài văn vần
là những lời khấn bái mang tính bùa chúa, phù phép, ma thuật nhằm đem lại
những điều tốt lành cho bản thân và người thân, gây tai họa cho kẻ thù.
Atharva-Veda buổi sơ khai của đạo Balamôn được coi là thánh kinh quan
trọng nhất. Về sau, Rig-Veda thay thế vị trí của nó, nó dược xếp xuống hàng
thứ tư trong thánh kinh Veda chuyên dùng cho giới thầy pháp, thầy tu.
Trên cơ sở của thánh kinh Veda, đặc biệt là Rig-veda, Veda giáo đã

sinh ra thần mặt trăng Mosa, từ mắt Ngài sinh ra mặt trời Pusan hay Surya, từ
miệng Ngài cũng sinh ra thần sấm sét Indra, thần lửa Agni, bằng hơi thở của
mình Ngài sinh ra cõi Trời, chân làm cõi Đất, Tay làm bốn phương trời đất.
Mỗi bộ kinh trên, đều có những quyển chủ yếu và những quyển không
chủ yếu. Loại chủ yếu gọi là Samhita. Những quyển kinh thuộc Samhita gọi là
thánh kinh Veda. Những thánh kinh căn bản, trọng yếu, thông dụng Samhita
có ba loại: Tế nghi thư (Brahmana), Sâm lâm thư (Aranyaka), Áo nghĩa thư
(Upanishad) quen gọi là các bộ kinh Hậu Veda. Thời Hậu Veda gồm 3 bộ:
Brahmana-Veda, Aranyaka-Veda, Upanisát.
+ Brahmana-Veda (Tế nghi thư) là kinh Balamôn. Bộ này nói về
nghi lễ tế tự (có sách nói là nó bàn về cách thức hiến tế). Tức, nó ghi chép, chỉ
dẫn cách thức và quy định lễ nghi tế tự. Bộ này thường dùng cho những người
có chức sắc cao cấp gần như những giáo chủ, tăng lữ Balamôn. Khi các cao
tăng hành lễ với thánh kinh Brahmana thì được coi là sự thực hành những bí
quyết, phù phép với những thần chú mầu nhiệm có thể sai khiến thần linh.
Theo thánh kinh Brhmanna, các đồ khí tế và lễ vật cũng có năng lực tự
nhiên mạnh mẽ, vô hình, mầu nhiệm có thể chuyển lay được ý muốn, hành
động của thần linh. Bởi thế, với tấm lòng thành thanh khiết, tế lễ đúng phép,
bày đồ tế lễ và dâng lễ vật đúng ý thần linh sẽ được thần linh chấp nhận lễ và
ban ân huệ đúng như cầu nguyện. Tất cả những linh nghiệm, ứng báo đó đều
do nguyên lý tối cao mà ra.
Dưới cái vỏ thần bí, đầy ắp các yếu tố thần thoại - tôn giáo, kinh
Brahmanna cũng chỉ ra cách lý giải căn nguyên và quá trình hình thành vũ
trụ: Đi từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao. Vạn vật sinh, diệt, nóng,
4

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
lạnh đều do âm - dương, đực - cái giao hợp trong không gian, thời gian mà
tồn tại mãi mãi. Căn nguyên của sự tồn tại mãi mãi này đều được quy về
“nguyên lý chủ đề tối cao” - Thần Brahman. Tưởng rằng nhất thần nhưng trên

Brahman là gì? Nguyên nhân của sự xuất hiện con người như thế nào? Nó lý
5

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
giải những vấn đề tối cao, mục đích tối cao của kinh Vêda nên nó còn được
gọi là kinh Vêdanta (Anta tiếng Phạn có nghĩa là kết thúc, hoàn tất, mục
đích).
Upanishad chia nhận thức của con người thành hai trình độ: Hạ trí
(apara - viday) và Thượng trí (para - viday). Hạ trí là tri thức phản ánh những
sự vật, hiện tượng cụ thể, riêng lẻ có hình tướng, danh sắc, phong phú, đa
dạng, hiện thực. Ngay cả việc nhận thức kinh Vêda cũng được xếp vào nhận
thức hạ trí. Thượng trí là trình độ nhận thức vượt qua tất cả thế giới hữu hình,
có hạn thường xuyên biến đổi từ hình thức tồn tại này sang hình thức tồn tại
khác, để nhận thức một thực tại tuyệt đối, duy nhất, bất diệt (akasara), thường
hằng, vô hình ẩn dấu đằng sau tất cả những cụ thể, hữu hình, hữu hạn. Nó
sáng tạo và chi phối tất cả thế giới hiện tượng ấy.
Theo Upanishad, hạ trí là phương tiện cần thiết để hiểu biết thượng trí.
Thượng trí là mục đích tối cao của nhận thức. Khi có hiểu biết thượng trí sẽ
đưa con người tới giải thoát. Cái thực tại tối cao căn nguyên của sáng tạo mà
chỉ thượng trí mới nhận thức được ấy, theo Upanishad là bản chất nội tại của
vũ trụ và muôn vật, nó ở ngoài tất cả mọi giới hạn của không gian, thời gian
và nhân quả. Đó là “tinh thần vũ trụ tối cao”, là “thượng đế”, là thần
Brahman.
Theo Upanishad, Brahman là thực tại tuyệt đối, tinh khiết, hằng cửu,
toàn thiện; là tinh thần vũ trụ đại đồng, là nguyên lý sáng tạo nên toàn vũ trụ;
là thực thể duy nhất, trước nhất, tuyệt đối, vĩnh viễn, chung nhất, phổ biến
nhất ẩn sau toàn bộ thế giới hữu hình. Brahman biểu hiện trong con người là
Atman (linh hồn), sự sống của con người. Atman đồng nhất với Brahman nên
Atman cũng tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt. Do ý chí, ham muốn, dục
vọng mà gây ra những hậu quả đau khổ cho linh hồn và thể xác (nghiệp báo -

thế kỷ IV TCN. Nội dung cơ bản của Mimansa gồm:
+ Không thừa nhận sự tồn tại của thần, vì theo họ thần không cảm giác
được.
+ Về nhận thức, họ đề cao nhận thức cảm tính nhất là cảm giác. Ví dụ,
họ quan niệm người thợ gốm là nguyên nhân của cái bình, thì thượng đế
không là nguyên nhân nữa, do đó không có cơ sở nào để nói thượng đế là
nguyên nhân của mọi vật.
+ Họ cũng cho rằng, thượng đế không nhận thức được sự hướng dẫn
“tập hợp các phẩm chất”. Bởi lẽ, mọi nhận thức phải nảy sinh thông qua tiếp
xúc với thân thể, trong khi đó thượng đế không có thân thể. Giả sử có thân thể
đi nữa thì thượng đế cũng không hướng dẫn được “tập hợp các phẩm chất”, vì
7

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
muốn hướng dẫn thì phải có mối liên hệ giữa thượng đế với sự hướng dẫn
“tập hợp các phẩm chất”, mối liên hệ này chỉ có được giữa hai thực thể;
nhưng sự hướng dẫn “tập hợp các phẩm chất” chỉ là thuộc tính chứ không là
thực thể nên thượng đế không tiếp xúc được với “tập hợp các phẩm chất”.
+ Bác bỏ sự tồn tại của thượng đê, của thần, nhưng trên thực tế không
phản đối thần linh. Thần linh được họ coi như một tên, hay âm thanh cần
thiết cho các câu thần chú của nghi lễ. Như vậy là họ chấp nhận những hành
động ma thuật. Tức họ là hữu thần.
Tóm lại, Mimànsa sơ kỳ không chỉ chống lại duy tâm mà còn chống cả
hữu thần. Họ là những nhà duy cảm khách quan vì đã cho rằng: Nếu đặt tấm
vải trước mặt thì người ta cảm nhận được đó là tấm vải chứ không phải là
bình gốm. Tức đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới sự vật hiện
tượng có trước, ngoài ý thức, không phải là ý thức. Nhưng thời hậu kỳ
Mimànsa thừa nhận sự tồn tại vĩnh viễn của thế giới vật chất là do nguyên tử
tạo thành và những nguyên tử này do luật Karma điều khiển, ở đây họ thể
hiện lập trường duy tâm. Mặt khác họ cũng thừa nhận tất cả những nghi lễ với

tưởng biện chứng).
+ Theo họ, chính sự vận động biến dị không ngừng của Prakriti
trong không gian - thời gian mà dẫn đến sự phong phú đa dạng của tự nhiên.
Mọi vật thể, theo họ bao giờ cũng là thể thống nhất không ổn định của 3 yếu
tố: Trí tuệ, trí năng (Sativa) với các thuộc tính nhẹ, sáng, tươi vui. Năng
lượng (Rajas) với những thuộc tính động, kích thích. Khối lượng, quán tính
(Tamas) với những thuộc tính nặng, khó khăn. Cả ba yếu tố này ở Prakrikiti là
cân bằng, ổn định. Ở đây, họ rơi vào siêu hình vì đã quy vận động của vật
chất về một số thuộc tính vận động cụ thể.
Chính những quan điểm trên, mà Samkhya được coi là học thuyết đối
lập với Vedanta. Bởi lẽ, Samkhya đã coi vật chất là nguyên nhân đầu tiên, vật
chất phi ý thức là nguyên nhân đầu tiên của thế giới, trong khi đó Vedanta coi
Brahman, ý thức là nguyên nhân đầu tiên của thế giới.
Thời hậu kỳ, trong Samkhya-karika đã thừa nhận thêm một nguyên thể
khác của thế giới là linh hồn “Purusa”. Purusa không là thượng đế, không là
tinh thần thế giới mà là nguyên lý tinh thần phổ quát, bất biến, vĩnh hằng. Tự
Purusa không làm được gì nhưng Purusa truyền sinh khí, truyền khả năng
biến hóa của nó vào Prakrikiti làm cho các yếu tố của nó hoạt động phá vỡ
thế cân bằng. Như vậy, họ cho rằng chính mối quan hệ giữa Purusa và
Prakrikiti quyết định sự bắt đầu tiến hóa của thế giới. Ở đây, họ đã chấp nhận
một cú hích ban đầu của linh hồn (truyền sinh khí ) cho vũ trụ vận động,
cũng như họ đã thừa nhận tính quyết định của Purusa trong sự vận động của
vũ trụ vậy họ là duy tâm.
Khi bàn về con người, Sam khuya cho rằng “mục đích tối hậu của con
người là diệt đau khổ”, trong diệt đau khổ theo họ mọi phương diện vật chất
9

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
đều không thích hợp. Muốn diệt được khổ phải đạt được sự hiểu biết trực giác
cao nhất về linh hồn và tâm lý của con người. Họ là những nhà giải thoát

tuệ.
10

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
Theo họ, thực thể là phạm trù cơ bản phản ánh bản chất của các sự vật.
Vật thể có 9 dạng: đất, nước, lửa, gió, không khí, thời gian, không gian, linh
hồn và trí tuệ; Họ cũng chia nhận thức thành 4 loại là: Tri giác, kết luận, ký
ức và trực giác, trong đó trực giác đem lại cho ta chân lý.
Như vậy về nhận thức luận, họ là duy vật nhưng siêu hình không biện
chứng, về sau là duy cảm chủ quan - tức rơi vào duy tâm.
+ Thế giới quan (nguyên tử luận): Họ thừa nhận thế giới do
nguyên tử tạo nên. Nguyên tử là phân tử nhỏ nhất, không thể phân chia,
không có đơn vị kích thước, nguyên tử là vĩnh hằng, vô thủy vô chung. Thế
giới có nhiều nguyên tử. Quan điểm này của họ gần giống quan điểm về
nguyên tử của Đêmôcrit; Nguyên tử là vĩnh hằng bất biến, nhưng sự vật do
nguyên tử tạo nên là nhất thời, luôn biến đổi, luôn vận động. Họ chia nguyên
tử thành 4 loại theo 4 loại cảm giác là xúc giác, vị giác, thị giác, khứu giác.
Dừng ở đây họ là những nhà triết học duy vật cổ đại (hay là trường phái
nguyên tử luận).
Trong khi thừa nhận thế giới do nguyên tử tạo nên, Nyaya còn thừa
nhận trong thế giới có vô số linh hồn ở thể tự do hoặc gắn liền với nguyên tử
vật chất (Ya). Đồng thời trong thế giới cũng tồn tại lực lượng siêu nhiên là
thần Isvasa. Tuy không là đấng sáng tạo, nhưng Isvasa chỉ đạo sự phối hợp
giữa các nguyên tử với nhau gây ra mối liên hệ giữa linh hồn với nguyên tử.
Isvasa có quyền năng vô hình, tối cao của vũ trụ. Còn Vaisêsika giai đoạn
đầu thừa nhận có hai loại linh hồn là linh hồn cá biệt và linh hồn tối cao, về
sau họ cho chỉ có một linh hồn tối cao, toàn năng sáng tạo và chỉ huy thế giới.
Lúc đầu họ cho sự tác động kết hợp giữa các nguyên tử tạo nên vạn vật không
do thần thánh mà do một năng lực vô hình, vô kiến, về sau họ coi năng lực ấy
là linh hồn thế giới. Vậy họ là duy tâm hữu thần.

Thần không là đấng sáng tạo không dẫn dắt thế giới, không thưởng không
phạt mà chỉ là linh hồn đặc biệt không khác gì mấy so với các linh hồn cá thể
khác.
Triết học Yoga là lý luận về phương pháp tu luyện mà người tu hành
chấp nhận nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ảnh hưởng của giác quan và mọi
sự ràng buộc với cơ thể xác thịt.
Theo Yoga, thế giới vật chất là vô minh, là nguồn gốc của đau khổ.
Muốn vượt qua được vô minh con người phải đạt được sự hiểu biết và phải
có một năng lực siêu nhân.
Phương pháp tu luyện của Yoga có ở nhiều tôn giáo khác. Theo Yoga,
để đạt được trạng thái nhập thần thần bí, con người phải tu luyện kiên trì, lâu
dài và thường phải qua 8 phương pháp mà họ gọi là “Bát bảo tu pháp”: 1-
Yama: Tình yêu thương rộng rãi, hòa ái.
12

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
2- Niyama: tiết dục, tự ức chế, dấn thân vào tu hành khổ luyện một
cách tự nguyện, kính cẩn.
3- Asama: Giữ thân theo những vị trí nhất định (tọa pháp bằng những
quy tắc tập luyện).
4- Pranayama: Điều khiển, kiểm tra sự thở (Điều tức pháp).
5- Pratyahara: Điều khiển tư duy (chế cảm pháp bằng kiểm soát các
giác quan, chế ngự mọi cảm xúc).
6- Dharana: tập trung trí tuệ, tập trung tư duy (tổng trì pháp).
7- Dhyana: Thiền định - tập trung tư tưởng tinh thần cao độ, đạt tới
trạng thái như thôi miên.
8- Samadhi: thiền định đến cao độ còn gọi là tuệ, hay tam muội pháp.
Là trạng thái nhập thần thần bí, làm chủ được tâm ý.
Về sau Yoga có nhiều hệ phái khác nhau.
2.5. TRIẾT HỌC VÊDANTA.

hạn, là chất liệu và động lực của mọi cái cũng như thế giới, là cái sinh ra vạn
vật và thế giới, cũng đồng thời là cái để thế giới và vạn vật quy về nó.
+ Họ quan niệm, do vô minh mà con người đã ngộ nhận sự
phong phú đa dạng của sự vật hiện tượng là tồn tại chân thực, vô hạn. Thực ra
chúng chỉ là những hữu hạn biến đổi vô thường và chỉ là những ảo tưởng, ảo
giác thuần túy mà thôi. Họ thừa nhận nguyên nhân của thế giới là từ hư không
do Brahman tạo ra.
+ Theo họ con người luôn sống giữa những ảo ảnh tự huyễn, giả
tưởng và luôn bị nó quyến rũ rồi mê muội đi, nhầm tưởng là ý chí của mình
sống ở đời. Trên thực tế như vậy, con người chỉ thấy cái hữu hạn, hữu hình
mà không thấy được cái vô hình tuyệt đối, cái vô hạn và cái vĩnh viễn thực sự
của bản tính của mình đồng nhất với Brahman.
+ Họ đưa ra 4 phương pháp nhận thức là trực giác, khải thị, kết
luận và cảm giác. Theo họ, kết luận và cảm giác là nhận thức hạ trí chỉ biết
được cái hữu hình, hữu hạn, ảo ảnh. Chỉ có trực giác mới nhận thức được
một cách đích thực thế giới. Từ đó, theo họ, mọi cố gắng và mục đích tối cao
của con người là phải đạt cái trực giác để có được sự đồng nhất giữa linh hồn
cá thể với linh hồn tối cao. Là nhằm giải thoát con người khỏi thế giới ảo,
thoát khỏi nghiệp báo, luân hồi. (Đây là giải thoát luận của họ).
+ Những người theo nhất nguyên (Advaita) bên cạnh thờ thần
sáng tạo tối cao là Brahma họ còn thờ thần hủy diệt (shiva). Về thực chất 2
thần này nhất thể.
2.5.2. Thuyết không nhị nguyên có phân lập (Visistadvaita).
14

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
Thuyết này do Ramanuja (1016 - 1091) sáng lập. Ông là một triết gia
nổi tiếng vùng Nam Ấn lúc ấy. Về nguyên tắc, triết học của phái này không
khác mấy so với phái nhất nguyên. Nếu có điều khác biệt thì là ở chỗ: nếu
nhất nguyên chỉ thừa nhận duy nhất Brahman tồn tại, hiện hữu thì họ thừa


HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
+ Nhất nguyên có giới hạn (không nhị nguyên có phân lập ở thế kỷ
IX) coi Brahman là cái tồn tại tuyệt đối, toàn năng, sáng tạo. Đồng thời tồn
tại linh hồn (cit), và vật chất (a cít) nhưng sự tồn tại của chúng là tồn tại trong
Brahman.
+ Phái nhất nguyên nhị phân (thế kỷ XII) phái này cho rằng Brahman
và Atman vừa phân đôi vừa không phân đôi. Nó chỉ phân đôi khi được
Brahman tạo ra thế giới tinh thần với vật chất dưới dạng các thể thô. Khi nó ở
trong Brahman chúng đều ở dạng tinh tế.
+ Thuyết nhị nguyên (thế kỷ XIII) chỉ rõ sự khác nhau giữa Brahman
với Atman (tinh thần cá thể). Ở đây không phải là nhị nguyên về hai bản thể
vật chất - ý thức. Phái này chỉ ra 5 sự khác nhau giữa Brahman với tinh thần
cá thể. Đó là những sự khác giữa: 1) Brahman với Atman, 2) giữa Atman với
vật chất; 3) giữa hai Atman; 4) giữa hai dạng vật chất ; 5) giữa Brahman với
vật chất. Phái này kịch liệt chống lại phái nhất nguyên, họ coi phái nhất
nguyên sakara là Phật giáo trá hình.
+ Phái nhị nguyên thuần túy (thế kỷ XV) đưa ra quan niệm so sánh
thượng đế với linh hồn cá thể có quan hệ như vàng và đồ trang sức bằng vàng,
còn linh hồn cá thể được coi là tia lửa của linh hồn tối cao (Brahman). Họ cho
rằng linh hồn cá thể là một bộ phận của linh hồn tối cao nên cũng phải được
tôn trọng. Họ chống lại việc tu khổ hạnh đầy đọa linh hồn cá thể. Thực chất
họ theo chủ nghĩa khoái lạc.
+ Thuyết sự đồng nhất trong sự khác biệt không hiện rõ. Theo phái
này thì mọi người đều bình đẳng trước Brahman và trước các bàn cầu
nguyện.
Tóm lại, dù có nhiều hình thức, nhưng Vedanta đều chung nhau ở quan
điểm coi linh hồn cá biệt (Atman) là hiện thân của linh hồn tuyệt đối toàn
năng tối cao (Brahman). Họ duy tâm hữu thần (đa thần nhất thể), khá trung
thành với Upanishad. Họ đều giải thoát linh hồn con người khỏi thế giới hiện

là những lời thóa mạ đối với họ. Trên thực tế, đạo đức của họ gắn liền với đạo
đức có trong xã hội thị tộc. Họ phê phán chống lại những học thuyết tuyên
truyền cho sự khổ tu, kìm chế mọi ham muốn, dục vọng ở đời thực. Họ phê
phán những quan niệm về sự siêu thoát của linh hồn, về đấng sáng tạo tối cao
v.v là những điều bịa đặt lừa gạt nhân dân. Theo họ, không có thiên đường
cũng không có địa ngục. Trong cuộc sống hiện thực mọi lạc thú là thiên
đường, mọi đau khổ, áp bức, bất bình đẳng là địa ngục. Theo họ, hãy để cho
mọi người sống, hoạt động, hưởng thụ trên cõi đời với những gian truân, cực
khổ, niềm vui hạnh phúc, với những cay đắng và ngọt ngào. Đừng ru ngủ và
lừa bịp con người bằng những lý tưởng ảo vọng, hão huyền và cõi hoang
đường phi hiện thực. Bởi thế, với quan điểm duy vật, vô thần này, họ bị coi
là “thuận thể ngoại đạo” - tà giáo. Tư tưởng này của họ có ảnh hưởng lớn đến
Jai na.
17

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
+ Về bản thể luận: Các quan điểm của Lokayata bị các trường phái
chính thống coi là luận điểm của quỷ Virocana. Bởi lẽ, trong một tập của
Upanishad người ta đã nhắc đến con quỷ Virocana với quan điểm của nó
”Atman chỉ có trong thân thể không có Atman ở ngoài thân thể”.
Theo Lakayata, bản nguyên thế giới gồm 4 yếu tố đất, nước, lửa, không
khí (tứ đại). Bốn yếu tố này độc lập, tự nó và thường hằng. Mọi sự vật, hiện
tượng, thế giới và con người đều do sự tự hoạt, tự thành của 4 yếu tố này kết
hợp mà có. Theo họ, tương ứng với 4 loại đó là 4 loại nguyên tử của nó. Các
nguyên tử này không thay đổi, không bị tiêu diệt, tồn tại ngay từ đầu. Mọi đặc
tính của sự vật hiện tượng đều phụ thuộc vào sự kết hợp khác nhau của các
nguyên tử ấy với nhau (số lượng, tỷ lệ kết hợp). Khi 4 yếu tố này hợp lại thì
thành sự vật, hiện tượng. Ngược lại khi chết nó tan ra thành 4 nguyên tố ấy.
Từ quan điểm đó, họ cho rằng con người sống chết là sự thể hiện tự
động tính của 4 yếu tố ấy. Linh hồn, sinh mệnh, ý thức, cảm giác của con

thế giới gồm 7 nguyên tố đất, nước, lửa, không khí, khổ, vui và linh hồn, chia
thành 2 phần hữu hình gồm tứ đại, vô hình 3 yếu tố còn lại. Cả 7 thực thể này
là tự tại, tự tạo, tự hoạt, tự tụ, tự tán, vĩnh hằng không lệ thuộc bất cứ thế lực
nào. Họ cũng phủ nhận Brahman và nghiệp chống lại phân biệt đẳng cấp của
Blamôn. Theo họ, tất cả mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều
có căn nguyên của nó từ sự tán, tụ, hoạt của 7 thực thể đã nêu mà thôi.
* Thuyết phủ nhận đạo đức (Purana): Phái này tập trung chống
lại giáo lý của Blamôn. Họ coi giáo lý đạo đức Blamôn là giả dối là lừa bịp.
Theo họ, trong cuộc sống hiện thực thì giết người, sát sinh, gây đau khổ tang
thương cho người khác, thông dâm, ăn nói gian dối đều không là điều ác,
không là “ác nghiệp” trong giáo lý Blamôn, nên cái thuyết báo oán là không
có thực - Cũng vậy, việc bố thí, trì giới, ăn nói ngay thẳng, bất sát, ban phúc
v.vv không là việc thiện, không là tạo “nghiệp thiện” theo Blamôn, nên cái
gọi là ân oán, nghiệp chướng là không có trong quan niệm và đời sống đạo
đức.
* Thuyết định mệnh và tôn giáo (Ạjivika): Về nguyên tắc phái
này cho lẽ sống đã được an bài theo vận mệnh. Họ là một tôn giáo chủ trương
người xuất gia phải quảng diễn cho tín đồ tuân theo và triệt để tuân thủ thi
hành những quy pháp đã an bài - con người phải luôn phụng mệnh bởi những
quy luật tiền định.
Tuy vậy, cái gọi là định mệnh an bài của họ không là linh hồn tối cao,
bất diệt. Theo họ, con người và mọi vật trên thế giới đều do 12 yếu tố hữu
hình và vô hình tạo ra là: Linh hồn, đất, nước, lửa, không khí, hư không, đắc,
thất, khổ, lạc, sinh, tử. Sáu yếu tố sau tuy là vô hình nhưng nó có sinh lực,
năng lực làm cho thực thể hữu hình sống động, làm chủ, chi phối ý nghĩa
cuộc sống của thực thể hữu hình. Sáu yếu tố đầu là thực thể hữu hình tạo nên
thể xác người và vạn vật. Họ coi linh hồn là sinh khí truyền sức sống không
19

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005

hội đa thê của Ấn Độ cổ, ông là người chủ trương chỉ có một vợ. Năm 30
tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả của mình xuất gia tu hành theo giới sa
môn (phục vụ) theo lối chuyên tâm khổ hạnh. Năm 60 tuổi đắc đạo trở thành
giáo chủ của Jaina. Ông mất năm 72 tuổi. Jaina theo tiếng Phạn là chiến
20

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
thắng. Mahavira có nghĩa là đại anh hùng. Trường phái này là một hệ thống
triết học - tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Ấn Độ. Khi Phật giáo bị suy tàn ở Ấn
Độ thì Jaina vẫn tồn tại, phát triển. Họ được coi là một trong hai trường phái
lớn nhất, phát triển rộng ở Đông Ấn sánh vai cùng Balamôn ở Tây Ấn.
Nội dung triết học nhìn một cách khái quát, ban đầu họ duy vật chất
phác, có tính biện chứng ngây thơ về thế giới. Về sau, họ là nhị nguyên mang
nặng màu sắc tôn giáo. Nhiệm vụ chính của họ là phản đối kinh Vệ đà với đạo
Balamôn, chỉ ra con đường và phương tiện giải phóng linh hồn bất tử khỏi thế
giới kinh nghiệm trên cơ sở phủ nhận các đấng siêu nhiên sáng tạo thế giới.
Cụ thể :
+ Về bản thể luận: Là nhị nguyên, phiếm thần luận. Họ cho rằng, mọi
sự phong phú đa dạng của thế giới và mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều
do nhiều yếu tố cấu thành nhưng chỉ quy về 2 dạng bản chất chính là Jiva
(Giva) và Atjiava (Atgiva). Jiva - Linh hồn hay sinh mạng. Tính chất cơ bản
của dạng này là ý thức. Atjiva - phi linh hồn (cái không có ý thức). Vật chất,
vật thể là những biến dạng của Atjiva, nó có đặc tính sờ mó được, có âm
thanh, mùi, sắc và vị. Các đối tượng của tự nhiên như thân thể, trí óc, lời nói,
hơi thở v.v đều là sản phẩm của vật chất, trừ linh hồn và hư không. Cái vật
thể mà ta cảm giác được, họ gọi là vật chất thô sơ. Cái không nhận thức được
bằng cảm giác họ gọi là vật chất tinh tế.
Họ cho rằng, vật chất do nguyên tử tạo nên. Nguyên tử là cái vốn có vô
cùng nhỏ, không thể phân chia, không có khởi đầu, không kết thúc, không
biến đổi, tồn tại vĩnh hằng không do bất cứ quyền năng nào tạo ra và hủy diệt.

đứng im, hư không, vật chất và linh hồn. Trong khắp vũ trụ, linh hồn và phi
linh hồn luôn tương ứng với nhau, tương giao tương hợp nhau để thành và
hiện hữu sự sống sự trường tồn của vạn vật. Lập trường nhị nguyên của họ là
rõ nét. Bởi lẽ, tuy họ phủ nhận Brahman, nhưng lại thừa nhận trong thế giới
có một lượng rất lớn và cố định những linh hồn được thể hiện trong các thực
thể sống (có sinh mệnh), hoặc không được thể hiện ra. Họ thừa nhận linh hồn
cũng như vật chất, nguyên tử không do ai tạo ra, tồn tại từ đầu, vĩnh hằng.
Đồng thời, họ cũng đã thừa nhận linh hồn như một lực lượng siêu nhiên toàn
năng, nhưng khả năng có bị hạn chế bởi những thực thể mà nó thể hiện trong
đó.
+ Về con người: Theo họ, thân, khẩu, ý là ba lĩnh vực hoạt động chủ
yếu của con người, và chính chúng tạo nên tam nghiệp của con người phải
vướng mắc. Lúc đó linh hồn toàn năng bị hạn chế bởi thể xác, thực thể mà nó
thể hiện. Lúc này bản tính của linh hồn đã đi xuống tan ra. Ở con người, linh
hồn (sinh mệnh) bị nghiệp chi phối. Khi linh hồn không chủ động được nữa
nó sẽ làm tổn hại đến sinh mạng của con người. Theo họ, căn nghiệp do
nguyên tử mà có, thành nghiệp cũng do nguyên tử. Khi nguyên tử bao quanh,
con người lưu nhập bởi nghiệp. Khi đó linh hồn làm hại sinh mạng con người
22

HƯỚNG DẪN ÔN THI CAO HỌC L STH P.ĐÔNG - TH.S HOÀNG NGỌC VĨNH - 2005
(thì đó là nghiệp báo). Lúc lưu nhập bởi nghiệp, là lúc linh hồn trong thể xác
bị chi phối bị dẫn dắt theo hướng sai bảo của nghiệp, linh hồn mất khả năng
thoát lên, vươn lên, xâm nhập vào tất cả vốn có của mình - Nghiệp báo là lúc
linh hồn bị đày đọa, bị luân hồi khổ sở qua 4 cõi địa ngục, ngạ quỷ (súc sinh),
trần gian và thiên giới.
Họ quan niệm muốn giải thoát con người khỏi luân hồi, khổ não của
nghiệp báo thì phải tuyệt đối nghiêm khắc khổ tu để tiêu hủy những căn
nghiệp cũ, đồng thời khỏi vướng những nghiệp mới. Họ chủ trương phương
pháp chế ngự nghiệp căn, tu thành Samôn, tu luyện khổ hạnh dày công tiêu

việc giải thích thế giới một cách duy vật thô sơ, có tính biện chứng ngây thơ,
tự phát. Họ chống lại Vêdanta và Balamôn, chống lại chế độ phân biệt đẳng
cấp của Ấn Độ cổ đại. Nhưng hệ thống của họ mang nhiều yếu tố duy tâm,
hữu thần khi bàn về linh hồn và đạo đức. Thời cổ - trung đại, Jaina thâm nhập
vào quần chúng và có ảnh hưởng rất lớn ở Trung bộ và Đông nam Ấn. Thời
hiện đại, Jaina chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong đân cư Ấn Độ (0,5%), nhưng đã
có nhiều ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt tinh thần ở Ấn Độ. Nhà lãnh đạo
Mahatma Ganđi, với tư tưởng bất bạo lực, sống khắc khổ, đấu tranh bằng
phương pháp tuyệt thực, là chịu ảnh hưởng của tư tưởng triết học - tôn giáo
Jaina.
2. 8. BUDDAHA (Phật giáo).
2.8.1. Phật giáo với tư cách là một hệ thống triết học.
Phật giáo là một trong ba trường phái tà đạo của toàn bộ chín hệ thống
triết học Ấn Độ cổ, và là trường phái triết học tiến bộ cách mạng. Sáu trường
chính thống là: Samkhya, Yôga, Nyaya, Vaisêsika, Mimànsa, Vêdanta. Ba
trường phái không chính thống (Tà đạo, cách mạng) là: Jaina, Lokayata và
Buddha (Phật giáo).
Ở Ấn Độ, Phật giáo là trường phái triết học cách mạng, so với các
trường phái triết học khác, nó có ảnh hưởng lớn trên phạm vi thế giới. Ở Việt
Nam, suốt 2000 năm thâm nhập và phát triển với cả hai tư cách tôn giáo và
triết học đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong đời sống tư tưởng và văn hóa
Việt Nam.
a) Các nội dung tư tưởng triết học chính trong đạo Phật.
Tư tưởng triết học Phật giáo được chứa đựng trong “Tam tạng”. Kho
kinh điển này gồm hơn 8400 cuốn, thuộc tiếng Paly (Nam Ấn) và Sanskrit
(Bắc Ấn). Ngoài ra sự phát triển của Tiểu thừa và Đại thừa đã làm phong phú
thêm những tư tưởng triết học sơ kỳ của Phật giáo. Dù sao, tư tưởng cốt lõi
cũng không ngoài phạm vi những tư tưởng sơ kỳ sau đây :
a1. Bản thể luận (thế giới quan) :
a1.1) Lý “nhân duyên khởi” :

6) Năng tác nhân: Nhân nhờ có duyên khác mà tạo ra kết quả.
Tam duyên gồm: 1) Thân duyên (duyên thân với Phật): Ba nghiệp
(thân, khẩu, ý) của chúng sinh và ba nghiệp của Phật chẳng lìa bỏ nhau.
2) Cận duyên (duyên gần với Phật): chúng sinh nguyện thấy Phật, Phật
liền ứng niệm mà hiện ra trước mắt.
25

Trích đoạn Các đại biểu tiêu biểu của Nho giáo cổ đại. Triết học Lão Tử. Triết học của Dương Tử. Triết học Trang Tử. Khái lược về bối cảnh lịch sử và sự phát triển triết học Trung Quốc thời Lưỡng Hán.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status