BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HỎ VĂN HÙNG
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM TIN HỌC THIẾT KẾ
MỘT SỐ BẢN ĐỒ ĐỘNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
THẾ GIỚI LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
sử đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá luận này.
Sơn La, Tháng 5 năm 2014
Tác giả
Hỏ Văn Hùng DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN
Viết tắt
Đọc là
ĐDTQ
Đồ dùng trực quan
PPDH
Phương pháp dạy học
PPDHLS
Phương pháp dạy học lịch sử
CNTT
Công nghệ thong tin
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
M. PowerPoint
phổ thông 6
1.1.2. Một số phần mềm tin học được ứng dụng hiệu quả thiết kế đồ dùng trực
quan trong dạy học lịch sử 10
1.1.3. Bản đồ lịch sử 13
1.1.4. Những nguyên tắc khi ứng dụng CNTT thiết kế bản đồ động sử dụng
trong dạy học lịch sử 14
1. 2. Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1. Kết quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông 14
1. 2. 2. Thực trang dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 15
1.2.3. Nguyên nhân của những thực trạng dạy học ở trường phổ thông hiện nay 15
CHƢƠNG 2: VỊ TRÍ MỤC TIÊU, NỘI DUNG CỦA PHẦN LỊCH SỬ THẾ
GIỚI LỚP 11 THPT VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP
DẠY HỌC LỊCH SỬ 19
2.1. Vị trí, mục tiêu 19
2.1.1. Vị trí 19
2.1.2. Mục tiêu 19
2.2. Nội dung phần lich sử thế giới lớp 11 THPT 20
2.3. Những bản đồ sử dụng trong dạy học phần lịch sử thế giới lớp 11 THPT 21
2.4. Những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông 22
CHƢƠNG 3: ỨNG DỤNG PHẦN MỀM TIN HỌC THIẾT KẾ, SỬ DỤNG
BẢN ĐỒ ĐỘNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ THẾ GIỚI LỚP 11 THPT. 25
3.1. Những yêu cầu của việc sử dụng phần mềm M. PowerPoint trong thiết
kế bản đồ động 25
3.2. Các thao tác cơ bản trong thiết kế và trình diễn bản đồ động trên phần mềm
M. PowerPoint 26
3.2.1. Các bước thiết kế bản đồ trên M.PowerPoint 26
3.2.2. Một số bản đồ được lựa chọn thiết kế và trình diễn khi dạy học phần Lịch
sử thế giới hiện đại lớp 11THPT 30
3.3. Phương pháp sử dụng các bản đồ động trong dạy học phần lịch sử thế giới
lớp 11 46
học bộ môn.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy
học phần lịch sử thế giới lớp 11 THPT. Đó là những lí do chúng tôi sử dụng
phần mềm tin học thiết kế, sử dụng bản đồ động trong dạy học lịch sử thế giới
lớp 11 THPT.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, ứng dụng CNTT thiết kế đồ dùng
dạy học nói riêng là một vấn đề có ý nghĩa lớn về mặt khoa học và thực tiễn. Đã
có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề ở nhiều mức độ
khác nhau, điểm qua chúng ta có thể thấy.
2.1. Tài liệu của các nhà giáo dục nƣớc ngoài
Cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của I.Ia Lecne ( Phan Tất Đắc dịch, Nxb GD,
H, 1997 ) là công trình chuyên khảo về dạy học nêu vấn đề - không chỉ là một
biện pháp, một phương pháp tiêu biểu mà còn là nguyên tắc phát huy tích cực
của học sinh.
Cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” của
I.F.Kharlamop ( Nguyễn Thị Trang và Nguyễn Ngọc Quang dịch, Nxb GD, H
1978 ) đã đề cập đến những biện pháp nhằm kích thích hoạt động nhận thức của
học sinh khi trình bày bài mới, củng cố kiến thức, khi ôn tập tài liệu đã học và
khi tổ chức công tác tự học cho học sinh.
Cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” của nhóm tác giả Robert J.
Marzano, Deba J. Pickerring, Jane E. Pollock ( Hồng Lạc dịch ,Nxb GD,TP
HCM, 2005 ) gồm 13 chương, trong đó, từ chương 2 đến chương 10 trình bày
các phương pháp dạy học dựa trên các công trình nghiên cứu giáo dục ở Mỹ
tương ứng với 9 phương pháp dạy học hiệu quả. Sách gợi mở cho độc giả các
phương pháp phát huy tính tích cực học tạp của học sinh trong dạy học.
2.2. Tài liệu của các nhà giáo dục ở trong nƣớc
Giáo trình “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (Tập 1, Nxb
Cuốn “kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông,
tập1” (PGS,TS Nguyễn Thị Côi) đã đi sâu vào việc sử dụng kênh hình trong
dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Trong đó tác giả đề cập khá cụ thể về nội
dụng và phương pháp sử dụng BĐGK LS của tất cả các bản đồ trong SGK, phần
lịc sử Việt Nam từ nguồn gốc đến Chiến dịch Việt Bắc- thu đông 1947. Phần
lịch sử thế giới chưa đề cập đến.
Cuốn “Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học
và kiểm tra đánh giá môn lịch sử” (TS. Nguyễn Xuân Trường, PGS. TS Trịnh
Đình Tùng, ThS. Nguyễn Mạnh Hưởng, Hà Nội, 2009) đã nêu lên tổng quan về
4
đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông với sự hỗ trợ của công
nghệ thông tin, hướng dẫn cách sử dụng phần mềm Powerpoint trong thiết kế
giáo án và bài giảng điện tử môn lịch sử ở trường THPT.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lí luận, khảo sát thực tiễn, đề tài hướng tới việc đề xuất
các biện pháp ứng dụng một số phần mềm tin học xây dưng hệ thống bản đồ
động nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch sử thế giới hiện đại, lớp 11
THPT đồng thời góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học
lịch sử ở trường phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
Khảo sát thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong dạy học phần lịch sử thế
giới lớp 11 THPT.
Đề xuất các biện pháp nhằm ứng dụng phần mềm tin học thiết kế một số
bản đồ động trong dạy học phần lịch sử thế giới lớp 11 THPT.
Xây dựng giáo án thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm để rút ra các kết
luận khoa học.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu 6
CHƢƠNG 1
ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG - CƠ SỞ LÍ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử
ở trƣờng phổ thông
Vai trò
Với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão hiện nay, CNTT đã tác động sâu sắc
đến mọi lĩnh vực trong đời sống, trong quá trình dạy học, đã và đang có nhiều
giáo viên ứng dụng CNTT vào giảng dạy và thu được nhiều hiệu quả thiết thực.
Việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy đã trở thành xu hướng phổ biến hiện nay.
Riêng với bộ môn Lịch sử cũng đặt ra yêu cầu hết sức bức thiết trong việc
ứng dụng CNTT vào giảng day. Do đặc trưng của bộ môn lịc sử mang tính quá
khứ, không lặp lại, nhưng quá trình nhận thức vẫn phải đảm bảo đi từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng. Vì vậy quá trình dạy học lịch sử cần phải sử
dụng nhiều tư liệu, các loại đồ đung trực quan, Và điều cần ứng dụng CNTT
nhằm nâng cao chất lương dạy học bộ môn.
Từ cơ sở trên chúng ta thấy. Vận dụng CNTT vào việc dạy học lịch sử ở
trường phổ thông có vai trò hết sức quan trong nó đã trở thành yêu cầu mang
tính nguyên tắc trong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Ý nghĩa
Về giáo dƣỡng
Ứng dụng CNTT thiết kế bản đồ động có ý nghĩa quan trong trong việc
nghành kinh tế, sử dụng sức mạnh và biện pháp của mình để điều tiết toàn bộ
các khâu trong tổ chức kinh tế, đồng thời kích cầu để tăng sức mạnh của người
dân. Kết quả chính sách mới đã đưa nước Mỹ nhanh chóng thoat khỏi khủng
hoảng kinh tế và trở thành bài học kinh nghiệm trong việc giải quyết khủng
hoảng cho các nước tư bản châu Âu.
8
Như vậy, việc chiếu bức tranh trên màn hình lớn để hướng dẫn học sinh
quan sát, miêu tả kết hợp với câu hỏi gợi mở sẽ giúp học sinh phát huy tính tích
cực trong học tập. Sau khi học sinh quan sát, suy nghĩ và trả lời, Giáo viên kết
luận sẽ hình thành cho các em biểu tượng rõ nét, chân thực về “chính sách mới”
của tổng thống Rudơven. Nhờ đó các em sẽ khắc sâu hơn, nhớ lâu hơn kiến thức
về sự kiện lịch sử không nhầm lẫn với các sự kiện lịch sử khác.
Ứng dụng CNTT là cơ sở để giúp học sinh nắm vững bản chất lịch sử
thông qua việc hình thành khái niệm, rút ra quy luật lịch sử.
Ví dụ, học sinh sẽ khó có thể nhận biết được thế nào là : “khởi nghĩa từng
phần”, thế nào là “Tổng khởi nghĩa” khi học về khởi nghĩa giành chính quyền
trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 nếu giáo viên không hướng dẫn học sinh
sử dụng bản đồ và chỉ rõ cho các em thấy tính khu vực, mục đích giành chính
quyền mới chỉ đặt ra ở cấp huyên, tỉnh, thành,… của những cuộc khởi nghĩa
từng phần, rồi việc đồng loạt khởi nghĩa trong toàn quốc trong vòng 15 ngày,
chính quyền về tay nhân dân cả nước, vai trò quyết định thắng lợi chung của
khởi nghĩa ở các thành phố lớn ( Hà Nội, Huế, Sài Gòn ) trong tổng khởi nghĩa
Cách mạng tháng Tám 1945… Đặc biệt nếu dạy có sử dụng bản đồ giáo khoa
điện tử thiết kế trên phần mềm Powerpoit sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, vì học
sinh vừa được “trực quan sinh động” vừa được “tư duy trừu tượng” sự kiện.
Được quan sát bản đồ trên màn hình lớn kết hợp với lời giảng của giáo viên, học
sinh còn thấy được sức mạnh to lớn của toàn dân, vai trò của đảng ta khi chấp
lấy thời cơ giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào nước ta, mà Tân
trào là điểm thắp lên ngọn lửa đấu tranh giành chính quyền trong toàn quốc. Học
bản đồ này học sinh cũng thấy được hướng tấn công xâm lược Châu Âu của Đức
thây đổi theo thời gian từ tháng 9 – 1939 đến năm 1940, Đức tấn công Đông Âu,
xâm lược Ba Lan, nhưng từ năm từ năm 1940 đến tháng 6 - 1941, Đức lại chuyể
hướng đột ngột sang xâm lược Bắc và Tây Âu,… học sinh nhận biết được điều
này thông qua hệ thống mũi tên màu xanh trên bản đồ.
Thứ hai là ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử có ý nghĩa quan trọng
trong việc phát triển năng lực tư duy khái quát hóa, năng lực so sánh, phân tích,
chứng minh, tổng hợp, đánh giá,… ví dụ, giáo viên sử dụng “Bản đồ chiến dịch
10
biên giới thu – đông 1950” để giải thích âm mưu của Pháp khi đề ra kế hoạch
Rơve: lập tuyến phòng thủ trên tuyến đường số 4 và thiết lập “Hành làng Đông
Tây” kéo dài từ Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nôi, Hòa Bình, Sơn La tạo thành hai
gọng kìm kẹp chặt lấy căn cứ Việt Bắc, cản trở Việt Bắc liên lạc với quân khu 3,
khu 4 và phong tỏa đường giao lưu quốc tế của nước ta. Trên cơ sở đó, Pháp
chuẩn bị một kế hoạch quy mô lớn tấn công Việt Bắc lần thứ hai, mong giành
được thắng lợi nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
Ứng dụng CNTT có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành cho học sinh
năng lực thực hành, sử dụng CNTT trong tìm kiếm tài liệu, trâu dồi kiến thức.
Phát triển được năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh.
1.1.2. Một số phần mềm tin học đƣợc ứng dụng hiệu quả thiết kế đồ
dùng trực quan trong dạy học lịch sử
* Phần mềm M. Power Point
M. Power Ponit là phần mềm cơ bản tiện ích nằm trong bộ Microsoft
Office, là phần mềm mạnh về trình chiếu, cho phép người sử dụng có thể dễ
dàng tạo mới bài thuyết trình ( luận văn, tốt nghiệp, báo cáo khoa học, giới thiệu
sản phẩm, quy trình sản xuất…) đặc biệt cho phép người GV có thể thiết kế bài
giảng điện tử, các dạng bài tập về nhiều nội dung ngoại khóa.
Do đặc trưng của bộ môn lịch sử “mang tính quá khứ” và “không lặp lại”
trong dạy học yêu cầu GV phải tái hiện được cho HS nội dung kiến thức một
cách chính xác, chân thực, hệ thống. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của
bảng, đảm bảo được yếu tố kĩ thuật, tính liên hoàn trong quá trình sử dụng, đặc
biệt là có thể chỉnh sửa kĩ thuật đảm bảo tính thẩm mĩ, tính trực quan, tính giáo
dục trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng.
Tính năng tạo hiệu ứng chuyển động là một trong những thế mạnh của
phần mềm M. powerpoint. Trong thiết kế bài giảng điện tử người GV phải
thường xuyên sử dụng tính năng này.
Tính năng tạo các bài tập kiểm tra, đánh giá hoạt động nhận thức của HS.
Kiểm tra đánh giá là quá trình thu thập và sử lí thông tin về tình hình lĩnh hội
kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, hình thành kĩ năng của HS… so với
mục tiêu, yêu cầu bài học đề ra, nhằm thông qua đó GV điều chỉnh hoạt động
12
dạy của mình. Do đó việc kiểm tra, đánh giá có vai trò đặc biệt quan trọng, cần
được tiến hành thương xuyên. Phần mềm M. Powerpoint có thể cho phép người
GV dễ dàng tiến hành hoạt động kiểm tra, đánh giá thông qua các hệ thống câu
hỏi, bài tập xen kẽ.
Ngoài những tính năng trên, phần mềm M. powerpoint còn có tính năng
khác như: tính năng chèn các loại biểu tượng, tranh ảnh, các đoạn phim tư liệu,
các loại văn bản gốc…
Tóm lại phần mềm M. Power Point là phần mềm mạnh về trình diễn, với
những tính năng vượt trội so với một số phần mềm khác, cho phép người GV có
thể ứng dụng phần mềm này vào thiết kế BGĐT trong dạy học lịch sử.
* Phần mềm VIOLET
Bên cạnh phần mềm tạo trình diễn nổi tiếng và tiện dụng của M.
powerpoint, phần mềm VIOLET cũng là một công cụ giúp GV có thể tự xây
dựng được các bài giảng. So với phần mềm M. PowerPoint, việc sử dụng
VIOLET còn chưa được phổ biến. Tuy nhiên, phần mềm này có một số chức
năng tốt hơn như cho phép người dùng trình chiếu các file Flash hoặc cho phép
điều khiển quá trình chạy của đoạn phim, v.v…VIOLET có nhiều chức năng
giúp GV thiết kế giáo án.
* Phần mềm Herovideo hỗ trợ cắt và chụp phim tƣ liệu
Phân loại BĐGK lịch sử dựa vào các tiêu chí sau:
Một là, căn cứ vào tính chất BĐGK lịch sử bao gồm: bản đồ về diễn biến
chiến sự, bản đồ về diễn biến cách mạng, bản đồ về tình hình kinh tế, bản đồ
hành chính….
Hai là, căn cứ vào tỉ lệ của bản đồ, BĐGK lịch sử chia làm 3 loai: Bản đồ tỉ
lệ lớn trên 1: 2.00.000; bản đồ tỉ lệ trung bình 1: 2.00.000 đến 1: 1.000.000; bản
đồ tỉ lệ nhỏ dưới 1: 1.00.000.
Ba là, căn cứ vào nội dung lịch sử, BĐGK lịch sử bao gồm bản đồ tổng hợp
và bản đồ chuyên đề.
Bốn là, phân loại BĐGK lịch sử theo đặc điểm sử dụng gồm: bản đồ trong
SGK, bản đồ treo tường, Átlat giáo khoa lịch sử, bản đồ câm, bản đồ nổi…
14
1.1.4. Những nguyên tắc khi ứng dụng CNTT thiết kế bản đồ động sử
dụng trong dạy học lịch sử
Việc ứng dụng CNTT thiết kế bản đồ động sử dụng trong dạy học lịch sử
phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, cách mạng thông tin không thây thế hoàn toàn nguồn kiến thức,
nhân tố truyền thống trong dạy học, CNTT chỉ có vai trò hỗ trợ. Điều nay có
nghĩa là trong quá trình dạy học việc sử dụng bảng đen phấn trắng vẫn rất cần
thiết. Việc sử dụng CNTT cùng với sự hỗ trợ tối đa các phương tiện kĩ thuật,
nhằm mục đích góp phần làm phương pháp dạy học có hiệu quả hơn chứ không
thể thây thế hoàn toàn phương pháp dạy học truyền thống.
Thứ hai, việc ứng dụng CNTT phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung chương
trình và bài học. Không cần thiết phải tiến hành trong toàn bộ chương trình qua
các chương môn học. Điều quan trọng là cần phải lựa chọn, xác định nội dung
của một số bài cụ thể có sở trường, ưu thế trong việc ứng dụng CNTT trong dạy
học lịch sử.
Thứ ba, giáo viên phải nắm vững và sử dụng thành thạo CNTT. Ví dụ, để
sử dụng phần mềm PowerPoint vào trong dạy học lịch sử yêu cầu giáo viên cần
phải có một trình độ kiến thức về tin học nhất định, nắm vững mục đích và một
Phương pháp dạy học chủ yếu là phương pháp đọc - chép không gây hứng
thú học tập cho HS, chưa phát triển được các năng lực HS.
1.2.3. Nguyên nhân của những thực trạng dạy học ở trƣờng phổ
thông hiện nay
Việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử với việc sử dụng đồ dùng trực
quan - đặc biệt là sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử đã và đang
được chú trọng và ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học, đặc biệt là khai thác các bản đồ lịch sử trong sách giáo
khoa của giáo viên chưa thực sự triệt để, không kích thích được học sinh suy
nghĩ, làm cho bài học khó hiểu, rườm rà. Thực tế không phải là học sinh không
thích học Sử, hầu hết các em đều cho rằng việc giáo viên sử dụng công nghệ
thông tin trong dạy học làm cho bài học trở nên hấp đẫn, dễ hiểu.
Nguyên nhân dẫn tới những tồn tại trong dạy Lịch sử ở trường phổ thông
có rất nhiều, trong đó chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau:
16
Do những yếu kém về phương pháp dạy học.
Do không biết khai đồ dùng trực quan đặc biệt là việc sử dụng và khai thác
bản đồ giáo khoa lịch sử hợp lí, hiệu quả.
Do không chú ý đúng mức đến sự phát triển năng lực HS.
Bên cạnh các phương pháp giảng dạy truyền thống, việc ứng dụng CNTT
trong dạy học lịch sử đã và đang được các giáo viên ở trường phổ thông quan
tâm. Nhưng thực tế việc khai thác còn nhiều hạn chế, bất cập không mang lại
hiệu quả, hơn thế nữa chưa phát huy dược tính tích cực, chủ động của học sinh
trong lĩnh hội kiến thức.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng dạy và học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông
cũng như việc áp dụng CNNT trong dạy học lịch sử. Bản thân tôi đã tiến hành
phát phiếu điều tra, trao đổi với giáo viên dự giờ tại một số trường THPT trên
địa bàn tỉnh Sơn La, Lai Châu:
THPT Cò Nòi
THPT Yên Châu
B: rất quan trọng
C: bình thường
10
2
4
62.5%
12.5%
25%
17
3
Các thầy (cô) có thường xuyên sử
dụng công nghệ thông tin trong dạy
học lịch sử không?
A: thường xuyên
B: đôi khi
C: không bao giờ
11
4
1
A: rất hứng thú
B: bình thường
C: không hứng thú
74
20
13
63.25%
25.64%
11.11%
18
2
Việc GV sử dụng CNTT trong
dạy học có làm cho các em dễ hiểu bài
hơn không?
A: dễ hiểu
B: bình thường
C: khó hiểu 64
29
24
LỚP 11 THPT VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI
PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
2.1. Vị trí mục, mục tiêu
2.1.1. Vị trí
Phần lịch sử thế giới lớp 11 THPT là phần kế tiếp chương trình đã học ở
lớp 10, bao gồm 2 phần; phần 1, lịch sử thế giới cận đại với nội dung là lịch sử
của các nước châu Á từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, chiến tranh thé giới
thứ nhất (1 914 – 1918), những thành tựu văn hóa thời cận đại. Phần 2, lịch sử
thế giới hiện đại cung cấp choi học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử xã
hội loài người từ Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đến năm 1945.
Nếu như các nước châu Á bước vào giai đoạn mạt kì của chế độ phong
kiến, lâm vào khủng hoảng suy yếu, từng bước bị thôn tính thì CNTB cuối thế
kỉ XIX bước vào giai đoạn phát triển phản động nhất – chủ nghĩa đế quốc, cuộc
chiến tranh thế giới thứ nhất không thể giải quyết triệt để những mâu thuẫn nội
tại của chủ nghĩa tư bản, tuy nhiên giai đoạn đầu của của lịch sử thế giới hiện
đại CNTB bước vào giai đoạn bùng nổ những mâu thuẫn báo hiệu cho một cuộc
chiến tranh thế giới mới, chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945).
2.1.2. Mục tiêu
Về kiến thức
- Biết được quá trình xâm lược, sự thống trị của CNTD Âu, Mĩ ở các
nước châu Á, châu Phi và Mĩ La Tinh. Đồng thời các cuộc đấu tranh chống
xâm lược, giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc
bùng nổ mạnh mẽ.
- Giúp học sinh có những hiểu biết tương đối chắc chắn, nắm vững sự
kiện cơ bản, có biểu tượng chính xác về các sự kiện, nắm được nguyên nhân
và diễn biến của hai cuộc chiến tranh thế giới bắt nguồn từ yếu tố thị trường
và thuộc địa.