Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Chương I:
ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, DÂN CƯ, KINH TẾ,
GIAO THÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
I.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
1.1. Vị trí địa lí
Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta, nằm
gần như giữa đồng bằng Bắc Bộ, có ranh giới với các tỉnh : phía Bắc giáp Thái
Nguyên, phía Đông giáp Hưng Yên và Bắc Ninh, phía Tây và phía Nam giáp Hà
Tây và Vĩnh Phúc. Theo mốc quốc gia, Hà Nội được giới hạn bởi các tọa độ địa lý:
105
0
16
’
30
”
đến 106
0
01
’
30
”
kinh Đông.
20
0
54
’
30
”
đến 21
khoảng 104km
2
, vốn là đầu nút phía Tây Nam dãy Tam Đảo. Các dãy núi thường bị
chia cắt đứt đoạn, có cao độ từ 270m - 374 m, đỉnh Am Lom cao 462 m, được cấu
tạo bởi đá lục nguyên phun trào, bị phong hóa mạnh nên hình thái mềm mại với
sườn dốc 10
0
- 30
0
.
2
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Địa hình đồng bằng - đồi phát triển rộng rãi ở Đông Bắc huyện Sóc Sơn. Ở
phía Tây Nam và Đông Nam, dải đồng bằng đồi hẹp hơn, đôi chỗ không có khiến
núi cao tiếp xúc trực tiếp với đồng bằng bồi tích mà không có vùng chuyển tiếp.
1.3. Mạng sông suối, ao hồ
Hà Nội có mạng lưới sông ngòi, ao hồ khá dày với mật độ 0,5km/km
2
. Các
sông lớn như sông Hồng và sông Đuống, các sông nhỏ như sông Nhuệ, Tô Lịch,
sông Cà Lồ, sông Kim Ngưu.
Dưới đây là một số sông chảy qua vùng Hà Nội:
Sông Hồng
Sông Hồng là con sông lớn nhất miền Bắc nước ta, chảy qua vùng ven phía
Bắc, Đông Bắc Hà Nội. Đoạn qua Hà Nội có chiều dài khoảng 46km.Tốc độ dòng
chảy vào mùa mưa đạt 20 m/s và mùa khô đạt 15 m/s. Mực nước thay đổi theo mùa.
Dòng sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, động thái chia ra hai mùa rõ rệt
là mùa lũ và mùa kiệt. Mực nước dao động giữa hai mùa từ 8÷10m.
Sông Nhuệ nằm ở phía Tây Nam Hà Nội, là một nhánh của sông Hồng có cống
điều tiết nước. Sông chảy qua địa phận huyện Từ Liêm, có nơi Sông Nhuệ lại là
ranh giới tự nhiên giữa Hà Nội và Hà Tây.Sông là nguồn cung để cấp tưới cho một
phần vùng đồng bằng ven sông Hồng.
Sông Tô Lịch
Bắt nguồn từ Hồ Tây chảy qua nội thành đến Thanh Trì và nhập vào sông
Nhuệ. Chiều rộng Ýt biến đổi, khoảng từ 8m - 10m, độ sâu trung bình 1,5 m. Sông
Tô Lịch là nơi thoát nước của thành phố Hà Nội.
Sông Đuống
4
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Sông Đuống nằm ở phía Bắc thành phố Hà Nội, là chi lưu phân lũ chính của
sông Hồng (22,8%). Hàng năm, vận chuyển 27,3 triệu m
3
nước với lưu lượng bình
quân là 861m
3
/s. Nó nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình.
Sông Cà Lồ
Sông Cà Lồ nằm phía Bắc thành phố Hà Nội chảy theo hướng Tây Đông, lưu
lượng bình quân hàng năm là 29,0m
3
/s. Sông là chi nhánh chủ yếu của sông Cầu.
+ Các sông ở khu vực Hà Nội có chế độ thủy văn theo 2 mùa rõ rệt : Mùa lũ và
mùa khô.
Ngoài ra, Hà Nội còn có nhiều hồ, đầm tự nhiên lớn nhỏ, phân bố rải rác khắp
nơi như: Hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm ở nội thành và một số ở Thanh Trì,
Đông Anh. Những hồ này có diện tích lớn ảnh hưởng đến điều kiện địa chất công
trình và môi trường sinh thái của Hà Nội.
Mùa mưa, khí hậu nóng Èm và mưa nhiều, thường có gió thổi theo hướng Đông
Nam.
Mùa khô, khí hậu khô và lạnh, gió thường thổi theo hướng Bắc và Đông Bắc và
được chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ hanh khô từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Thời
kỳ này rất thuận lợi cho công tác khảo sát địa chất và thi công xây dựng công trình.
Thời kỳ Èm ướt từ tháng 2 đến tháng 4 có mưa phùn, lượng mưa không đáng kể,
khí hậu Èm ướt.
a. Nhiệt độ
6
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao, từ 23÷23,5
0
C, nhiệt độ trung bình
tháng nóng nhất là 37,6
0
C, tháng lạnh nhất là 13,5
0
C. Nhiệt độ trung bình của mùa
khô từ 17
0
C ÷18
0
C, thấp nhất vào tháng 1 khoảng 12,6
0
C. Nhiệt độ trung bình mùa
mưa từ 20
0
C ÷25
0
Max 96 96 97 98 97 97 97 97 92 97 97 97
Min 64 63 63 69 62 62 62 65 65 64 52 59
TB 73 86 89 88 85 84 85 87 86 82 81 81
c. Lương mưa
Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng1.500÷2.000mm, năm có lượng
mưa lớn nhất là 4.500mm và thấp nhất là1.500mm.Lượng mưa phân bố không đều
giữa 2 mùa: Về mùa mưa, lượng mưa chiếm 80 đến 85% tổng lượng mưa của cả
năm, mùa khô lượng mưa không đáng kể. Lượng mưa lớn nhất vào khoảng tháng
7÷8, mưa thường liên quan đến bão và áp thấp nhiệt đới do chịu sự tác động mạnh
mẽ của gió mùa, cường độ có thể vượt quá 150mm/ngày, có khi gây lụt nặng Lượng
mưa trung bình các tháng được trình bầy trong bảng I - 3.
Bảng I – 3:
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Max(mm) 106,471,1 119,2 203,2 459,1 589,1801,6 801,6 720 647 516 110
Min(mm) 0,1 1,4 3,5 28,1 64,2 26,6 78,3 78,3 34,4 31,4 1,9 0,6
8
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
TB(mm) 21,2 32,8 46,9 131,2 205,0 240,0326,6 336,6 248,6 43,2 40,2 23,0
Lượng bốc hơi trung bình 722mm/năm. Thường từ tháng 11 đến tháng 3 là
thời kỳ lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa.
d. Giã
Hướng gió thổi theo 2 mùa rõ rệt. Gió mùa hạ thổi theo hướng Nam và Đông
Nam. Mùa đông chủ yếu là gió hướng Bắc và Đông Bắc. Tốc độ gió trung bình giữa
2 mùa không chênh lệch nhau nhiều, mùa hè trung bình là 3m/s, mùa đông là
3,3m/s. Tốc độ gió nhỏ nhất thường vào tháng 11÷12(2,2m/s), lớn nhất vào tháng
9(34m/s). Vào tháng 7, tháng 8, tháng 9 thường xẩy ra nhiều cơn bão lớn gây thiệt
hại cho người và công trình xây dựng. Tốc độ gió trung bình các tháng trong năm
được trình bầy trong bảng I – 4.
1
6
1
0
1
6
Min 3
,3
3
,0
3
,3
3
,1
3
,2
3
,2
3
,0
2
,5
2
,5
2
,7
2
,5
2
,2
của công nghiệp trung ương với các nhà máy cơ khí ( Hà Nội – Trần Hưng Đạo, Xe
lửa Gia Lâm, Bê tông Thanh Liệt).
Nông nghiệp – Lâm nghiệp
Hiện nay, Hà Nội có trên 100 hợp tác xã nông nghiệp với quy mô toàn xã với diện
tích canh tác 20000ha. Vùng thâm canh dọc sông Hồng(Mê Linh), sông
Đuống(Đông Anh – Gia lâm). Vùng rau thâm canh ở các huyện ngoại thành (trừ
Sóc Sơn) cung cấp rau quả tươi cho thành phố. Vùng thuốc lá ở Sóc Sơn. Đi cùng
với sự phát triển của nông nghiệp là các trại chăn nuôi gia sóc gia cầm. Các vùng
Sóc Sơn, Mê Linh có các lâm trường chủ làm nhiệm vụ tu bổ, bảo vệ trông rừng
mới.
Thương nghiệp, dịch vụ - du lịch
Mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ - du lịch của Hà Nội khá hoàn chỉnh với các hệ
thống cửa hàng ở thành phố, huyện, xã và cụm dân cư. Trong thời kỳ mở cửa, Hà
Nội không những mở rộng quan hệ với các vùng trong nước mà còn thực hiện liên
doanh với nước ngoài để phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và khách
sạn.
11
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
2.4. Giao thông vận tải
Hà Nội là trung tâm đầu mối giao thông của cả nước, từ đây có thể đi khắp các
khu vực trong nước và quốc tế bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường
hàng không. Hệ thống giao thông trong nước đang dần dần được cải thiện, nâng
cấp, mở rộng thêm nhiều tuyến đường nối với các nước trong khu vực.
Đường bộ
Từ Hà Nội có thể đi các địa phương trong cả nước bằng hệ thống đường giao
thông qua các quốc lộ chính sau đây:
- Quốc lộ 1A: Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh; Hà Nội đi Lạng Sơn.
- Quốc lộ 5: Hà Nội đi Hải Phòng.
- Quốc lé 6: Hà Nội đi Sơn La, Lai Châu.
trẻ phủ lên trên. Tầng Lệ Chi chỉ quan sát thấy trong các hố khoan ở độ sâu từ 45m
đến 69m thuộc các tuyến cắt qua nội thành với bề dày lớn nhất là 24,5m. Tầng này
có tính phân nhịp đều đặn từ hạt thô ở dưới đến hạt mịn ở trên, thể hiện rõ nét chu
kỳ tích tụ aluvi. Theo thành phần thạch học và cổ sinh, trầm tích tầng Lệ Chi được
chia làm 3 tập và một tập gồm tích tụ bồi tích và tích tụ sườn tích không phân chia(
adQ). Theo thứ tự từ dưới lên trên gồm:
- Tích tụ đệ tứ không phân chia (a,d,p)Q :
Tích tụ bồi tích có thành phần là cát bột, sét lẫn Ýt sạn laterit, sạn thạch anh
màu vàng, nâu, xám nâu.
Tích tụ sườn tích - lũ tích gồm tảng, cuội, dăm, sỏi, sạn, cát, bột, sét lẫn lộn,
màu vàng gạch, nâu d,pQ tích tụ sườn tích.
-Tập 1: Thành phần gồm cuội, sỏi, cát, Ýt bột sét màu xám, xám nâu.Cuội chủ
yếu là thạch anh Ýt cuội đá vôi kích thước từ 2,0–3,0cm, có nơi từ 3,0–0,5cm ,có độ
mài tròn tốt ( R
0
= 0,5 ÷ 0,9, độ cầu S
0
= 2,0 ÷ 4,0), bề dày khoảng 10m.
14
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
- Tập 2: Thành phần gồm cát hạt nhỏ, cát bột màu xám vàng, độ chọn lọc và
mài tròn tốt (R
0
= 0,3 ÷ 0,5, độ cầu S
0
= 1,5 ÷ 2,5). Chiều dày tập 3,5m ÷ 10,0m.
- Tập 3: Thành phần gồm bột sét, cát màu xám vàng, xám đen, chứa tảo nước
ngọt, phổ phấn Polypodiacac, Licopodium, Pterit Chiều dày tập từ 0,2m đến
4,5m.
+Mặt cắt ở vùng lộ: Phạm vi phân bố của vùng này tương đối hẹp, chỉ gặp ở
phía tây thành phố. Vùng lộ tầng Hà Nội có thể chia thành hai tập:
- Tập dưới: gồm cuội, cuội tảng lẫn sỏi, sạn, cát bột, sét màu gạch vàng, cuội
chủ yếu là thạch anh lẫn Ýt đá phun trào silic, độ mài tròn và chọn lọc kém;
-Tập trên: gồm cát bột, bột có Ýt sét màu vàng gạch.
Tổng chiều dày ở vùng lộ khoảng 4,0m.
16
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Tầng Hà Nội nằm ngay dưới tầng cuội sỏi của tầng Vĩnh Phúc và phủ không
chỉnh hợp lên trên các trầm tích tầng Lệ Chi.
3. Thống Pleistoxen trên, hệ tầng Vĩnh Phúc (Q
III
2
vp)
Trầm tích tầng Vĩnh Phúc lộ ra ở ven rìa đồng bằng với diện tích nhỏ ở Cổ
Nhuế, Xuân Đỉnh. Bề mặt trầm tích nằm ở độ cao tuyệt đối lớn hơn 10m. Nét đặc
trưng của tầng Vĩnh Phúc là có hiện tượng laterit yếu, màu sắc loang lổ. Đặc điểm
về thành phần vật chất của tầng Vĩnh Phúc là có sự chuyển nhanh về thành phần
thạch học theo không gian từ sét, sét lẫn bụi, chuyển qua bụi và cát Tất cả các
thành phần từ thô đến mịn khi lé ra trên mặt đều bị phong hoá và có quan hệ bÊt
chỉnh hợp với tầng Hải Hưng. Tầng có chiều dày khoảng 61m. Theo thành phần
thạch học, tầng Vĩnh Phúc được chia thành 4 tập, thứ tự từ dưới lên như sau:
- Tập 1: Thành phần gồm cuội, sỏi cát, Ýt bột sét màu xám vàng. Bề dày tập
đạt tới 10m;
- Tập 2: Thành phần gồm cát bột, Ýt sét màu vàng, thỉnh thoảng gặp thấu kính
sỏi màu xám vàng, nâu xám. Bề dày của tập có thể đạt đến 33m;
- Tập 3: Thành phần gồm sét caolin màu xám trắng, sét bột màu xám vàng,
nâu xám, tích tụ dạng hồ sót. Chiều dày tập biến đổi từ 2,0m – 10,0m;
17
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Từ 12,6m đến 4,5m: Gồm bột cát, bột sét lẫn mùn thực vật màu xám, xám
đen. Nó đặc trưng cho đầm lầy ven biển gần cửa sông, có tuổi Holoxen dưới và giữa
(lbQ
IV
1-2
hh
1
).
-Vùng đầm lầy lục địa: Quan sát thấy ở độ sâu 2,6m. Thứ tự địa tầng từ dưới lên
trên như sau:
Từ 3,1m đến 2,6 m: Than bùn màu xám đen, đen. ( bQ
IV
1-2
hh
1
);
Từ 2,6m đến 1,6m: Sét xám xanh lẫn sạn Laterit hóa( mQ
IV
1-2
hh
1
);
Từ 1,6m đến 1,1m: Sét xám xanh (mQ
IV
1-2
hh
1
);
IV
1-2
hh
3
)
Trầm tích đầm lầy (bQ
IV
1-2
hh
3
), gồm than bùn, sét bột lẫn mùn thực vật chưa
phân hủy hết màu nâu đen và khi khô nhẹ xốp, chiều sâu từ 0,5m đến 2m.
5. Thống Holoxen trên, hệ tầng Thái Bình ( aQ
IV
3
tb)
Các trầm tích tầng Thái Bình là những trầm tích trẻ nhất vùng và phân bố đều
trên bề mặt nghiên cứu. Chúng có nguồn gốc bồi tích (aluvi) và được chia làm 2
phụ tầng:
5.1. Phụ tầng dưới ( aQ
IV
3
tb
1
)
Trầm tích của phụ tầng có diện phân bố rộng, chiều dày khoảng 30,0m. Trầm
tích của phụ tầng được chia làm 4 tập, theo sự tăng dần về kích thước hạt, từ dưới
lên gồm:
- Tập 1: Thành phần là cuội sỏi, cát lẫn Ýt bột sét màu xám nâu nhạt. Bề dày
của tập thay đổi từ 3,0m ÷ 18,0m;
cập phức hệ chứa nước trầm tích Đệ tứ(Q). Theo tài liệu bản đồ Địa Chất Thủy
Văn, tỷ lệ 1: 50000 vùng Hà Nội do Đoàn Địa Chất 64 thành lập, Hà Nội có nguồn
nước ngầm khá phong phó. Trong các tạo trầm tích Đệ tứ có 3 đơn vị chứa nước
sau:
1- Tầng chứa nước Holoxen ( qh)
Thành phần chủ yếu của đất đá chứa nước là cát pha, cát hạt nhỏ, các thành
tạo này thuộc tầng Thái Bình có nguồn gốc aluvi. Mái của tầng chứa nước là lớp
cách nước có thành phần sét pha là phần trên của tầng Thái Bình, đáy cách nước có
thành phần là sét, sét pha, bùn sét thuộc trầm tích tầng Hải Hưng. Tầng chứa nước
Holoxen phân bố rộng rãi trong khu vực nghiên cứu. Bề dày tầng chứa nước biến
đổi mạnh từ 3 ÷ 29m. Bề dày trung bình là 14m. Mực nước ngầm ở trung tâm 4 ÷
6m, vùng ven rìa gần sông có thể từ 2 ÷ 4m. Nguồn cung cấp nước chính cho tầng
này là nước mưa, nước sông hồ. Bởi vậy, động thái mực nước của tầng phụ thuộc
khá nhiều vào yếu tố khí tượng thủy văn. Kết qủa phân thành phần hóa học của
nước trong tầng này biểu diễn dưới dạng công thức Cuốclốp như sau:
7.2
PH
56.7
Ca
25
CL
68.15
3
HCO
0.4
M
30
2
13.0
Mg
T
7
PH
30
Ca
65
K(Na,
42
CL
3
53
HCO
0,64
M
)
.
23
Đồ án tốt nghiệp Phan Tiến Dũng
Lớp ĐCCT-ĐKT B K44
Tên nước là Bicacbonat - Clorua - Natri– Canxi.
Độ tổng khoáng hoá M = 0,1
÷
1,0 mg/l.
Tổng độ cứng 1÷5 D.
3. Tầng chứa nước trầm tích cổ Pleistoxen dưới - giữa, tầng Hà Nội và Lệ Chi
(qp)
Thành phần đất đá chứa nước chủ yếu là cuội, sỏi, sạn có nguồn gốc aluvi -
proluvi. Cuội, sỏi của tầng chứa nước này có thành phần chủ yếu là thạch anh, silíc,
một số cuội có thành phần là đá vôi, đá phun trào. Bề dày tầng chứa nước thay đổi
từ 3m - 40m. Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho tầng này là từ sông Hồng và các
Chương III
25