Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
Bài 4 : Xác định nhiệt độ nhỏ giọt của mỡ bôi trơn
………………………………
Chương I.Thực trạng thị trường mỡ bôi trơn ở Việt Nam
1.Ý nghĩa của mỡ bôi trơn
Trên thế giới hiện nay, dầu nhờn vẫn là chất bôi trơn chủ yếu trong các
ngành công nghiệp và dân dụng.Với vai trò quan trọng của mình, dầu nhờn đã
trở thành một loại vật liệu công nghiệp không thể thiếu. Cùng với sự phát
triển của xã hội các loại máy móc, thiết bị, công cụ được đưa vào ứng dụng
trong công nghiệp và dân dụng ngày càng nhiều, dẫn đến mức tiêu thụ dầu bôi
trơn tăng lên không ngừng trong những năm qua. Theo thống kê mức tiêu thụ
dầu mỡ bôi trơn hiện nay khoảng 40 triệu tấn mỗi năm.Ở nước ta tuy mức tiêu
thụ dầu mỡ bôi trơn thấp hơn nhiều so với các nước phát triển nhưng cũng đạt
ở mức 100.000 tấn mỗi năm đối với dầu bôi trơn và mức tăng trưởng là 4-8%
mỗi năm. Toàn bộ lượng dầu này nước ta phải nhập từ nước ngoài dưới dạng
thương phẩm hoặc ở dạng dầu gốc cùng với các phụ gia rồi tự pha chế, như
vậy hàng năm nhà nước ta phải bỏ ra một ngoại tệ lớn để đáp ứng nhu cầu về
bôi trơn cho các ngành công nghiệp và dân dụng trong nước. Nền công
nghiệp dầu khí Việt Nam tuy mới chỉ dừng lại ở mức khai thác song đã đóng
góp một nguồn ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Ngày nay dầu khí
Việt Nam đang là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn và dự án với
xu hướng phát triển mạnh, đặc biệt là dự án nhà máy Dung Quất đi vào hoạt
động. Khi đó đáp ứng được một phần lớn nhu cầu về dầu bôi trơn trong nước
và tiết kiệm được một lượng lớn ngoại tệ mà dự kiến để nhập khẩu dầu bôi
trơn.
Trước vấn đề cấp thiết đó, các tập thể khoa học lớn đang không ngừng
nghiên cứu thành phần, tính chất của dầu mỏ nói chung và các cấu tử nói
riêng để hoàn thiện các phương pháp khai thác và chế biến nguồn tài nguyên
quý giá này. Khi sử dụng dầu nhờn làm chất lỏng bôi trơn giữa các bề mặt lớp
tiếp xúc của các chi tiết máy móc nhằm mục đích giảm mài mòn, giảm ma sát,
tản nhiệt, làm mát. Nhờ vậy giảm được tiêu hao năng lượng để thắng lực ma
2. Các nhân tố rủi ro khi kinh doanh mỡ bôi trơn ở thị trường Việt
Nam( Công ty APP )
a. Rủi ro về kinh tế
Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh các sản
phẩm dầu mỡ bôi trơn và các sản phẩm từ dầu mỏ là nguyên liệu đầu vào của
nhiều ngành công nghiệp, có thể nói, môi trường kinh tế vĩ mô có những ảnh
hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới quá trình phát triển của Công ty. Thực tế
Hoa Mạnh Hùng Page 2
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
những năm vừa qua cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn tăng
trưởng nhanh chóng.
Trong năm 2008 - 2009 mặc dù kinh tế thế giới khủng hoảng và suy thoái
trầm trọng nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn đạt tương ứng là
6,23%[1] và 5,2%
2
và khả năng trong năm 2010, tăng trưởng GDP là 6,5%
3
.
Tuy có sự suy giảm nhưng so với nhiều quốc gia trên thế giới tăng trưởng
GDP của Việt Nam vẫn là rất cao. Theo dự đoán của các chuyên gia, tăng
trưởng GDP của Việt Nam sẽ tăng trở lại mức 6,5-8% khi nền kinh tế thể giới
vượt qua suy thoái và bắt đầu phục hồi
Khi kinh tế phát triển, các ngành công nghiệp như cơ khí chế tạo, luyện
kim, hoá chất vật liệu, giao thông vận tải, năng lượng, điện lực, than gia tăng
sản xuất, hoạt động nên mức tiêu thụ các sản phẩm hóa dầu (dầu mỡ bôi trơn,
chất lỏng chuyên dụng ) ngày càng lớn. Ngược lại khi kinh tế tăng trưởng
chậm hoặc suy thoái cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp thông qua tác động đến các ngành công nghiệp trên.
Năm 2008, tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế tăng cao. Giá cả các nguyên
vật liệu chủ yếu đều tăng với tỷ lệ lớn đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
Kể từ khi Việt Nam ra nhập WTO sự canh tranh trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh các sản phẩm hóa dầu ngày càng gay gắt và phức tạp. Bên cạnh
các hãng nổi tiếng nước ngoài như Shell, Castrol, BP, Esso, Mobile, Total
còn xuất hiện một số doanh nghiệp trong nước như PDC, PLC hoạt động
trong cùng lĩnh vực. Thị trường đầu ra của Công ty ngoài bị ảnh hưởng bởi
biến động các ngành kinh tế trong nước còn bị ảnh hưởng bởi chính sách giá
và sản phẩm của các đối thủ cùng ngành.Tuy nhiên, ngoài cung cấp cho các
đại lý bán lẻ, Công ty còn có rất nhiều khách hàng truyền thống, với nhu cầu
ổn định qua các năm.Bên cạnh đó, công ty luôn duy trì chính sách quảng bá
sản phẩm, mở rộng thị trường đảm bảo đầu ra cho hoạt động sản xuất kinh
doanh.
d. Rủi ro tài chính
Công ty thường xuyên phải huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để đảm
bảo cho nhu cầu vốn lưu động và nhu cầu đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh.Trong khi đó, do ảnh hưởng của chính sách tiền tệ quốc gia, tình
hình lãi suất trong các năm gần đây cũng có nhiều biến động bất thường.
Trong trường hợp lãi suất tăng cao sẽ làm tăng chi phí hoạt động, giảm hiệu
quả sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty đang từng bước giảm thiểu rủi
ro này thông qua các biện pháp nhằm giảm nhu cầu vốn lưu động, tăng vòng
quay tiền tệ, tối ưu tỷ lệ tồn kho, cân đối hoạt động sản xuất và tiêu thụ
Hoa Mạnh Hùng Page 4
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
Công ty cũng phải sử dụng các khoản vay ngoại tệ (USD) cho nhu cầu
nhập khẩu nguyên liệu đầu vào, do đó, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ cũng ảnh
hưởng đến kết quả kinh doanh. Khoản vay hiện tại bằng USD của doanh
nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển có thời hạn 06 tháng trả gốc và lãi
mỗi tháng trả 01 lần. Tỷ giá USD so với VNĐ đang có nhiều biến động theo
xu hướng tăng do đó Công ty có thể phải chịu rủi ro về tỷ giá với khoản vay
này.
e. Rủi ro khác
3. Nhu cầu bôi trơn bằng mỡ
Trong cuộc sống hàng ngày , đôi khi người ta thấy dựng dầu để bôi trơn
thế là đủ . Nhưng thực tế lại khác có nhiều trường hợp dựng dầu để bôi trơn
không được việc , khi đó hoăc là dầu bị chảy ra, văng ra khỏi bề mặt ma sát
hoặc là bị bốc hơi hay phân huỷ . Chẳng phải nói đến những tốc độ cao mà
ngay cả những chỗ có tốc độ thấp thôi như bôi trơn cho chỗ ma sát giữa trục
xe và bánh xe của một chiếc xe bò cũng thấy chẳng trơn tru chút nào nếu chỉ
việc tra dầu vào đó : dầu tra vào bôi tron được ít lâu chảy hết !.
Người ta tìm mọi cách khắc phục,dựng dầu có độ nhớt cao, làm cho dầu
dính lại dược trên mặt ma sát để bôi trơn , tạo ra một hệ thống tuần hoàn dầu
đến chi tiết ma sát nhờ áp lực bơm , vung tế dầu vào nơi cần bôi trơn , có khi
nhúng cả cụm ma sát vào trong chất lỏng như một vài ổ bi của máy bơm xăng
dầu .Có khi người ta duy trì dầu bôi trơn bằng phớt tẩm dầu hoặc dựng bạc
xốp hút dầu để khi bôi trơn dầu thấm dần ra .
Một biện pháp rất phổ biến , có hiệu quả , rất xưa nhưng cũng rất tân tiến
là sử dụng mỡ .
Rất xưa , tỉ như người Tầu họ vẫn nhận là họ phát minh ra đủ các thứ trên
thế giới này cho rằng từ thời nhà Chu nhà Thương vua Kiệt vua Trụ của cha
ông họ đã dựng mỡ để bơi các trục bánh xe chiến xa .
Rất tân tiến vì người ta hiện nay phải sản xuất các loại mỡ đặc biệt để bôi
trơn cho máy móc trên các thiết bị của trạm vũ trụ mà ở đó điều kiện chân
không, không trọng lượng làm cho ngay đến các giọt nước uống còn bay lửng
lơ trong khoang tầu nữa là dầu nhờn .
Hiện nay, dầu mỡ bôi trơn là nguyên liệu không thể thiếu cho các ngành
công nghiệp cũng như đời sống con người. Mặc dù còn có rất nhiều khó khăn
trên thị trường nhưng các ngành sản xuất và phát triển mỡ bôi trơn vẫn đang
phát triển khá mạnh mẽ, đã có rất nhiều các hang mỡ bôi trơn nổi tiếng đang
Hoa Mạnh Hùng Page 6
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
phát triển ở Việt Nam như Shell, Puchs ( Đức ), App ( Việt Nam )….Trong
Thùng phuy
19.000 PLC
PLC grease L2
Thùng 15 kg
22.300 PLC
PLC grease L3
Thùng phuy
19.300 PLC
PLC grease L3
Hộp 0,4 kg
32.500 PLC
PLC grease L4
Hộp 0,5 kg
24.000 PLC
Solidol YC-1
Thùng phuy
31.000 Nga
Solidol YC-2
Thùng phuy
35.000 Nga
Solidol YC-3
Thùng phuy
28.000 Nga
Solidol C
Thùng phuyPressolidol C
Thùng phuy
40.000
42.000
Nga
Nga
tính trung bình của khối chất đuợc lấy mẫu, trong mức giới hạn về độ tái lập
của các phương pháp thử nghiệm đuợc dựng để xác định các tính chất này.
-Mẫu cục bộ: là một mẫu ở một vị trí xác định trong bể chứa hoặc từ một
đường ống tại một thời gian xác định.
-Các phương pháp lấy mẫu:
Lê Văn Hùng Page 9
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
+Lấy mẫu thủ công (ASTM D4057 tương ứng TCVN 6777)
+Lấy mẫu tự động (ASTM D4177 tương ứng TCVN 6022)
Các phương pháp lấy mẫu cho các sản phẩm đặc biệt như LPG
(ASTM D1265), Dầu thủy lực (ANSI B93.19 và B93.44) Dầu cách
điện (ASTM D923)…
Các thuật ngữ và định nghĩa cơ bản:
-Mẫu toàn mức (All-levels sample): Mẫu được lấy bằng cách thả bình lấy
mẫu đến gần đáy bồn chứa (cần tránh nước tự do), sau đó mở bình lấy mẫu
và kéo lên với tốc độ (không đổi) sao cho bình chứa chứa khoảng 75% thể
tích của nó (không quá 85%)
-Mẫu di động (running sample) : Mẫu thu được bằng cách thả bình lấy
mẫu từ bề mặt dầu xuống sát đáy và quay ngược lên bề mặt đỉnh dầu với một
tốc độ (không đổi) sao cho bình chứa chứa khoảng 75% thể tích của nó
(không vượt quá 85%) (đảm bảo rằng không có nước tự do vào bình lấy
mẫu).
Mẫu cục bộ (spot sample): Mẫu được lấy ở một vị trí xác định trong bể
chứa hoặc từ đường ống ở một thời gian xác định trong quá trình bơm
chuyển.
Mẫu hớt (mẫu bề mặt –surface sample): Mẫu cục bộ được lấy từ bề mặt
của chất lỏng
Lê Văn Hùng Page 10
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
-Mẫu đỉnh (top sample): mẫu cục bộ thu được kể từ bề mặt chất lỏng 15
bộ đƣợc lấy ra tại điểm giữa của 1/3 mức chứa phía dưới bể.
-Mẫu gộp của bể trụ nằm ngang: bao gồm các phần bằng nhau của ba mẫu
cục bộ : Trên + Giữa + Dưới , trong đó các mẫu trên, giữa, dưới được lấy ở
các mức và trộn đều theo tỷ lệ thể tích.
-Mẫu gộp đối với các phương tiện tồn chứa phức tạp: (như hầm tàu xà
lan): là hợp phần của các mẫu thông thường (mẫu running) được lấy ra ở tất
cả các hầm chứa xăng dầu cùng loại và đƣợc pha trộn theo tỷ lệ thể tích xăng
dầu thực chứa tại các
hầm đó.
Lê Văn Hùng Page 12
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
2.1 Bình chứa mẫu
- Trơ với chất lấy mẫu
- Dễ rút, dễ đổ vào, dễ làm sạch
- Có thể trộn mẫu dễ dàng
- Không làm thay đổi tính chất của mẫu khi vận chuyển , tồn chứa
2.2 Các loại dụng cụ chứa mẫu
- Bình thuỷ tinh
- Bình nhựa (không dùng bình nhựa polyethylene thông thường)
- Can thiếc
2.3 Các loại nắp đậy
Lê Văn Hùng Page 13
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
- Nút bấc
- Nút thuỷ tinh
- Nắp nhựa
- Nắp vặn bằng kim loại
- Không dùng nắp bằng cao su
2.5 Qui trình lấy mẫu:
1. Kiểm tra độ sạch của bình chứa mẫu, cốc hoặc chai lấy mẫu và chỉ
nhiệt độ và các thao tác khác có thể gây xáo trộn sản phẩm trong bể; lấy mẫu
theo thứ tự : trên đỉnh, lớp trên, lớp giữa, lớp dưới, cửa xúât, dưới cửa xúât,
toàn phần, đáy và di động.
-Dụng cụ lấy mẫu phải được làm sạch trước khi được dựng để lấy mẫu,
đối với sản phẩm dầu sáng có thể làm sạch bình chứa mẫu bằng cách xúc
Lê Văn Hùng Page 15
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
bình bằng cách xúc bình bằng chính sản phẩm trước khi lấy mẫu sản phẩm
đó.
-Lượng các mẫu riêng để pha trộn thành mẫu gộp đai diện cho nhiều bể
(nhiều hầm) là căn cứ tỷ lệ thể tích hàng chứa trong bể tương ứng. Phải bảo
riêng từng mẫu (không gộp) để tiện thử lại khi cần.
-Nên giảm tối thiểu số lần chuyển các mẫu từ bình chứa nọ sang bình
chứa kia giữa các thao tác lấy mẫu và thử nghiệm. Sự thất thoát các
hydrocacbon nhẹ, mất nước do bám dính hoặc nhiễm bẩn mẫu sẽ ảnh hưởng
đến kết quả thử.
-Các mẫu phải được chứa trong các bình chứa kín để ngăn ngừa sự thất
thoát các cấu tử nhẹ. Trong thời gian lưu giữ, phải bảo quản mẫu tránh ánh
sáng, nguồn nhiệt hoặc các điều kiện nhiệt bất lợi làm mẫu bị chuyển, xuống
cấp.
3. Lấy mẫu mỡ bôi trơn và bitum
-Kiểm tra sự đồng nhất, so sánh hình thái, độ đặc của mỡ ở gần sát mặt
ngoài của thùng chứa với lớp mỡ bên trong, cách bề mặt ít nhất 15 cm. Khi
các vật thùng chứa của một lô hay một chuyến hàng cùng được mở thì so
sánh tất cả các vật chứa đã mở đó.
-Nếu không nhận thấy sự khác biệt trong mỡ, lấy một phần mỡ với khối
lượng đủ tại vị trí gần trung tâm cách bề mặt ít nhất là 7,5 cm. Dựng thìa sạch,
to hoặc dao xén lấy mỡ cho vào thùng chứa sạch. Nếu có sự khác biệt nhau
của mỡ tại các vị trí khác nhau, lấy 2 mẫu riêng, một mẫu lấy ở lớp trên mặt,
gần thành của thùng chứa, và mẫu kia lấy ở giữa, cách bề mặt ít nhất 15 cm,
- Cách khắc phục: cần đậy kín mẫu mỡ sau mỗi lần làm thí nghiệm tránh
để mỡ tiếp xúc với bụi bẩn bên ngoài môi trường
b. Mỡ bôi trơn không tương thích - Hỗn hợp mỡ pha trộn có thể dẫn
đến tình trạng tách dầu nhanh chóng. Thí dụ hỗn hợp giữa mỡ đất sét hữu cơ
và mỡ làm đặc xà phòng, hay hỗn hợp giữa mỡ sulfonat calcium và mỡ có
gốc lithium, sẽ gây ra các vấn đề hư hỏng cho thiết bị sử dụng (ổ bi) hay gây
ra các sai số khi làm phân tích thí nghiệm, nghiên cứu.
c. Tính biến động do nhiệt độ cao - Độ nhớt của dầu gốc dựng để pha
chế mỡ bôi trơn càng thấp thì nguy cơ bay hơi càng cao. Ở nhiệt độ cao, dầu
có thể sôi tách ra khỏi dung môi chất làm đặc, làm mỡ bị cứng dần theo thời
gian.
-Cách khắc phục: bảo quản mỡ tại nơi có nhiệt độ phòng, không để mỡ tại
gần nơi có nhiệt độ cao (như lò nung, bếp,…) để tránh hiện tượng biến động
do nhiệt độ.
Nguyễn Hồng Giang Page 18
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
d. Sự oxi-hóa dầu gốc - Dầu bị oxi hóa có thể có các đặc tính vật lý
(cứng) như tấm lợp nhựa hoặc thậm chí như than đá. Mỡ bôi trơn cũng có thể
biến dạng giống như vậy.
-Cách khắc phục: đậy kín mỡ tránh để hạn chế sự oxi hóa mỡ bởi oxi
trong không khí
c. Sự đùn thủy tĩnh - Mỡ bôi trơn chịu áp suất không đổi có thể tách ra
bởi lực thủy tĩnh. Nó giống như nước chảy qua bộ lọc cát, cát ở lại trong khi
nước tự do chảy qua các hạt cát dưới áp suất. Một số mỡ bôi trơn được pha
chế đặc biệt để chống lại sự đùn bằng cách sử dụng các chất làm đặc đặc biệt,
dầu gốc phân cực, chất phụ gia cải thiện IV và nồng độ chất làm đặc cao hơn.
Ở một số hệ thống bôi trơn đơn điểm (kiểu lò xo), mỡ bôi trơn chịu áp suất
không đổi sẽ bị chảy ra và dầu tách khỏi chất làm đặc. Nói theo lý thuyết là
dầu bị ép ra khỏi chất làm đặc.
d. Lực rung động và ly tâm - Mỡ bôi trơn chịu sự rung động và/ hoặc
và ghi nhận đó là nhiệt độ nhỏ giọt của mỡ.
c. Dụng cụ:
- Cốc đựng mẫu: bằng crom mạ đồng thau
- Ống nghiệm: bằng thủy tinh chịu nhiệt, ở bên trong có ba vết lõm tại vị
trí khoảng 19 mm từ phía dưới trở lên, cách đều nhau trên chu vi ống
- Nhiệt kế
- Cốc thủy tinh: 400 ml
- Thiết bị gia nhiệt
c. Cách lấy mẫu:
Khi đã sẵn sàng để thử nghiệm, kiểm tra mẫu cho bất kỳ dấu hiệu không
đồng nhất như phân chia dầu, thay đổi pha, hoặc nhiễm bẩn. Khi xuất hiện bất
kỳ điều kiện bất thường đáng lưu ý cần lấy một mẫu mới.
Sau đó lấy đầy mẫu thử nghiệm vào cốc chứa mẫu bằng cách ấn phần
miệng của cốc vào trong mẫu thử nghiệm cho đến khi cốc đầy.Loại phần mỡ
thừa bằng một chiếc thìa.
Khi đã chuẩn bị được mẫu thì bắt đầu tiến hành thí nghiệm
Nguyễn Hồng Giang Page 20
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
2.2. Trong tiêu chuẩn ASTM-D217: Xác định độ xuyên kim của mỡ
bôi trơn (Standard Test Methods for Cone Penetration of Lubricating
Grease)
a. Ý nghĩa:
Phương pháp thử nghiệm này để đo độ quánh của mỡ bôi trơn với sự đâm
xuyên của một nón kích thước và khối lượng quy định. Độ đâm xuyên được
đo bằng phần mười của milimet
Độ kim xuyên đặc trưng cho tính đặc, deo của mỡ bôi trơn. Người ta đánh
giá độ cứng độ mềm của mỡ bôi trơn qua giá trị của độ kim xuyên. Độ kim
xuyên là một trị số quy ước kinh nghiệm. Nó không phải là một đại lượng vật
lý. Ở nhà máy sản xuất mỡ người ta điều khiển quá trình sản xuất bằng cách
kiểm tra độ kim xuyên vì chỉ tiêu này có liên hệ với tính chất sử dụng về cơ
C. Nếu nhiệt độ mẫu ban đầu khác từ 25 ° C hơn khoảng 8 ° C (15 ° F), hoặc
nếu một sự thay thế phương pháp đưa mẫu đến 25 ° C được sử dụng, cho
phép đủ thêm thời gian để đảm bảo rằng mẫu vật là 25° C trước khi tiến hành.
Ngoài ra, nếu mẫu lớn hơn 0,4 kg (1lb), cho phép đủ thêm thời gian để đảm
bảo rằng mẫu 25° C. Kiểm tra có thể tiến hành nếu mẫu là tại một nhiệt độ ổn
định ở 25° C. Chuyển mẫu, tốt hơn là trong một lần, lấy hơi đầy các tách làm
việc dầu mỡ hoặc các cốc chứa. Thực hiện chuyển giao này theo cách như vậy
mà dầu mỡ sẽ được làm việc càng ít càng tốt. Cạo mỡ dư thừa kéo dài trong
vành,tạo ra một bề mặt phẳng, bằng cách di chuyển lưỡi của thìa, nghiêng về
hướng chuyển động ở một góc khoảng 45 °, qua vành cốc. Không thực hiện
san bằng hơn nữa hoặc làm mịn của bề mặt trong suốt xác định đâm xuyên
chưa xử lý và xác định đo ngay lập tức.
*Độ kim xuyên làm việc: Các phần sau đây mô tả các thủ tục chuẩn bị
mẫu cho sự đâm xuyên làm việc
- Chuẩn bị: chuyển đầy mẫu cốc làm việc mỡ sạch để điền đầy vào nó,
tránh sự bao gồm của không khí bằng thìa. Lắc cốc chứa mẫu theo thời gian
để loại bỏ bất kỳ bọt không khí vô tình xuất hiện trong lòng mẫu thí nghiệm.
Lắp một nhiệt kế thông qua lỗ thông hơi để đỉnh của nó ở trung tâm của mỡ.
đặt lắp ráp bình ổn nhiệt độ duy trì ở mức 25 ° C (77 ° F) cho đến khi nhiệt độ
làm việc là 25° C như được chỉ ra bởi nhiệt kế, nếu mẫu đầu tiên nhiệt độ
khác nhau từ 25 ° C nhiều hơn khoảng 8 ° C (15 ° F), hoặc nếu một phương
pháp thay thế mang lại mẫu đến 25 ° C được sử dụng, cho phép đủ thời gian
bổ sung để đảm bảo rằng mẫu vật ở 25° C trước khi tiếp tục. Ngoài ra, nếu
mẫu lớn hơn 0,4 kg (1 lb), cho phép đủ thêm thời gian để đảm bảo rằng nhiệt
độ mẫu vật là 25° C. Nếu một bình nước đã được sử dụng, hãy lau sạch bất kỳ
nước dư thừa từ bên ngoài bề mặt của làm việc. Lấy nhiệt kế ra.
Nguyễn Hồng Giang Page 22
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
- Chuẩn bị mẫu đo lường: lắc chén mạnh và cho mỡ xuống với một thìa để
điền vào các lỗ trái của miệng và loại bỏ bọt khí. Cạo mỡ dư thừa kéo dài trên
Aluminum
soap
Calcium
soap
Lithium
soap
polyurea Other
N.america 9% 7% 70% 6% 8%
Europe 5% 15% 70% 3% 7%
China 2% 9% 79% 3% 7%
Japan 2% 11% 60% 21% 6%
India <1% 6% 85% 0% 9%
Axit cacboxylic, chất béo, dầu là những hợp chất hữu cơ trong tự
nhiêncũng được sử dụng phổ biến để tạo xà phòng. Ví dụ như axit stearic có
trong mỡ động vật, axit oleic có trong hạt đậu tương, bông và nhiều
dầu thực vật khác.Các chất béo, dầu sử dụng trực tiếp để tạo xà phòng gồm:
Mỡ động vật như mỡ bị, dầu thực vật sẵn có trong tự nhiên như trong hạt,rau
củ…Thường có quá trình hydro hóa để chuyển những chất bão
hòa có mặttrong chất béo tự nhiên, những axit nhận được từ dầu thực vật.
Từ đó cải thiệnđộ bền oxi hóa để nhận được mỡ bôi trơn.Các ion, cation
kim loại trong xà phòng quyết định những đặc tính trongmỡ bôi trơn,
quyết định khả năng làm đặc, khả năng chịu nước và nhiệt độ
nhỏgiọt…Phần cacboxyl trong mỡ ảnh hưởng đến đặc tính khác. Như
Nguyễn Xuân Hợp Page 24
Báo cáo thí nghiệm chuyên ngành 2
chiều dài vành ánh của nó ảnh hưởng đến sự hòa tan, tính đồng nhất
và đặc tính bề mặt củamỡ.Để đạt sự đồng nhất tối ưu cần những
cacboxyl dài tối ưu, nhưng nếu quádài hay quá ngắn cũng ảnh hưởng đến
tính làm đặc.Cấu trúc mỡ bôi trơn biến thiên trong khoảng hẹp.Dưới đây là
bảng cấutrúc chất làm đặc mỡ.Một vài loại mỡ được làm từ hỗn hợp các loại