Hoàn thiện hoạt động tín dụng của các NHTM trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM việt nam - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
NHTM không chỉ là kênh dẫn vốn quan trọng nhất cho nền kinh tế mà
còn giữ vai trò tiên phong trong việc định hướng những hoạt động của các
doanh nghiệp. Hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung và NHTM nói
riêng đã tạo điều kiện và là động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng vững
mạnh. Trong đó, hoạt động tín dụng được coi là một trong những hoạt động
hàng đầu, tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, góp phần không nhỏ cho
sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của đất nước như: kiềm chế lạm
phát, thúc đẩy tăng trưởng GDP với tốc độ cao và ngày càng ổn định, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Đồng thời
trong những năm qua, chất lượng hoạt động tín dụng, hiệu quả hoạt động tín
dụng của các NHTM cũng không ngừng được nâng cao, hạn chế rủi ro tín
dụng. Có được kết quả đó là do các NHTM đã liên tục đổi mới hoạt động tín
dụng, thực hiện nhiều giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý nội bộ về hoạt
động tín dụng, nâng cao năng lực quản trị điều hành hoạt động tín dụng và
khả năng quản trị rủi ro tín dụng, cùng với việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực trong hoạt động tín dụng.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua đã và đang đặt ra những
sức ép rất lớn lên các NHTM Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nước ta ngày
càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.Trong tiến trình tái cấu trúc
hệ thống tài chính – đặc biệt là tái cấu trúc hệ thống các NHTM, hoạt động tín
dụng của các NHTM đang gặp không ít khó khăn và đang đặt ra một số vấn
đề cần nghiên cứu giải quyết, đặc biệt là cần tìm ra giải pháp để tiếp tục mở
rộng về quy mô và nâng cao chất lượng tín dụng.
Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về tín
dụng, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể và có tính cập nhật về
hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM Việt Nam
1
trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Từ thực tế đó nhóm nghiên
cứu đã chọn đề tài: “HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA

dụng ở một số NHTM điển hình ở Việt Nam trong các hình thức vận động,
giúp đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan và phù hợp với thực tế hơn.
Ngoài ra, công trình còn sử dụng các phương pháp khác như phương
pháp so sánh, phân tích, định tính, định lượng. Công trình còn sử dụng tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, phương pháp quy nạp, các
phương pháp điều tra và khảo sát điển hình, tổng hợp và phân tích, phương
pháp toán, với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính và tham khảo các công trình
nghiên cứu khác có liên quan để làm nội dung nghiên cứu của đề tài sâu sắc
hơn.
5. Kết cấu của công trình
Công trình ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các bảng
biểu, đồ thị, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung
chính được kết cấu thành 3 chương, trong đó:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về NHTM và hoạt động tín dụng của
NHTM
- Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng của các NHTM trong quá
trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng của các NHTM
trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển
của kinh tế hàng hoá. Trong đó, ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn
nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Nó được coi là
sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá, là một bộ phận không thể tách rời và tồn
tại như một tất yếu trong nền kinh tế hiện đại.

thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu,
ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho
khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
1.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm và nguyên tắc tín dụng của NHTM
1.2.1.1. Khái niệm và bản chất tín dụng của NHTM
Trong cuốn “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại” TS Hồ Diệu đã đưa ra
khái niệm tín dụng như sau:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Thuật ngữ này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy từng bối cảnh cụ
thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín
dụng có thể được hiểu theo các nghĩa sau:
+ Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết
kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp
chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.
5
+ Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài
sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Phổ biến là giao dịch giữa ngân
hàng và các định chế tài chính khác với các doanh nghiệp và cá nhân thể hiện
dưới hình thức cho vay, tức là ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau
một thời hạn nhất định người đi vay phải thanh toán vốn gốc và lãi.
Mục đích của đề tài nghiên cứu này xem xét tín dụng như là một tổ
chức cơ bản của ngân hàng, vì vậy trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt
động của ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho
vay (ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho
bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán.

nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu
người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết. Đây là điều kiện để ngân
hàng tồn tại và phát triển.
Hai là, khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng như theo mục đích
được thỏa thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và
các quy định khác của ngân hàng cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt
động cho các ngân hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân hàng có thể có mục đích và
phạm vi hoạt động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng
đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái luật pháp và việc tài
trợ đó là phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
Ba là, ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả.
Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất.
7
Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng
thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân hàng. Các khoản tài trợ của
ngân hàng phải gắn liền với hình thành tài sản của người vay. Trong trường
hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng đòi người vay phải có tài sản đảm bảo
khi vay.
1.2.2. Các hình thức cấp tín dụng của NHTM
Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng của ngân hàng, tín dụng ngân hàng
bao gồm các hình thức sau:
1.2.2.1. Cho vay
Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là hoạt
động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho mỗi ngân hàng. Cho vay có thể hiểu
đơn giản là việc ngân hàng chuyển giao một khoản tiền nhất định cho bên vay
(khách hàng) để sử dụng trong một khoảng thời gian xác định với cam kết sẽ
hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã thỏa thuận.
Theo hình thức cấp tiền vay, cho vay bao gồm các phương thức sau:
• Thấu chi: ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trội trên số dư
tiền gửi thanh toán của mình tới một giới hạn nhất định (hạn mức thấu chi) và

của khách hàng.
Tái chiết khấu là việc ngân hàng mua lại giấy tờ có giá chưa đến hạn
thanh toán và đã được chiết khấu theo phương thức mua hẳn.
1.2.2.3. Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc
cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Nhiều ngân hàng
tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy móc cần thiết,
đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, thông qua hợp đồng thuê mua. Trong đó,
ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiện khách hành
9
hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy cho
thuê của ngân hàng có nhiều đặc điểm giống như cho vay và được xếp vào tín
dụng trung và dài hạn.
1.2.2.4. Bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng (bên bảo
lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay.
Khi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng thì ngân hàng được
hưởng một khoản phí gọi là phí bảo lãnh, mức phí này tuỳ thuộc vào mức độ
rủi ro của từng hợp đồng bảo lãnh.
1.2.2.5. Bao thanh toán
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho bên bán
hàng, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh
từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng và bên
mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Các phương thức của bao thanh toán:
• Bao thanh toán từng lần

mục tiêu lợi nhuận sẽ áp dụng cho vay có lãi suất cao, theo đuổi các dự án đầu
tư mạo hiểm; như vậy thường kéo theo độ an toàn thấp và ngược lại.
Hoạt động tín dụng của NHTM phải gắn với mục tiêu phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước, của từng địa phương. Một khoản tín dụng phát ra phải
được bảo đảm nhằm vào mục tiêu phát triển kinh tế, đáp ứng chiến lược phát
triển lâu dài cũng như các mục tiêu phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
11
Nhìn chung, hoạt động tín dụng của NHTM thường bao gồm các nội
dung cơ bản sau:
1.2.3.1. Chính sách khách hàng và lĩnh vực đầu tư tín dụng
Khách hàng nhận tín dụng của ngân hàng rất đa dạng, từ các doanh
nghiệp, các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước, cá nhân người tiêu dùng,
các ngân hàng, các công ty tài chính…
Xác định được đối tượng khách hàng chính là một nội dung cơ bản
trong hoạt động tín dụng. Thông qua việc tìm hiểu đối tượng khách hàng, khả
năng của khách hàng đối với sự an toàn và hiệu quả của khoản tín dụng,
NHTM mới có cơ sở để xác định nhu cầu về vốn, điều kiện vay, thời hạn vay,
khả năng sinh lời, đảm bảo tiền vay, rủi ro tín dụng đối trong hoạt động tín
dụng của ngân hàng.
Các ngân hàng phải thành công trong việc làm cho những khoản tín dụng
phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn (cả gốc và lãi), nghĩa là phải giảm thiểu
được rủi ro tín dụng và đem lại lợi nhuận cao.
Tuy nhiên, trên thị trường tín dụng, những người đi vay có khả năng vỡ
nợ lớn lại là những người sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện của khoản vay;
nói cách khác, những khách hàng với những dự án có rủi ro càng cao, càng
thu được nhiều lợi nhuận nếu dự án thành công, là những người hăm hở nhất
để vay được tiền. Họ là những người ít được mong đợi cho vay nhất, bởi vì
khả năng không hoàn trả được nợ vay là rất lớn. Trong tình huống như vậy,
người cho vay hay chính là ngân hàng sẽ trở thành đối tượng chịu rủi ro đạo
đức. Khi khách hàng đã nhận được khoản vay, họ có thể mạo hiểm đầu tư vào

 Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự;
 Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi dân sự;
13
- Đối với khách hàng vay là tổ chức và cá nhân nước ngoài phải có năng
lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của
nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp
luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều
ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia
quy định.
Thứ hai, có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
Thứ ba, có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
Thứ tư, dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và
có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù
hợp với quy định của pháp luật.
Thứ năm, thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1.3.2.3. Giới hạn tín dụng
NHTM không thể tài trợ toàn bộ nhu cầu vay vốn thực hiện dự án của
khách hàng nhằm hạn chế rủi ro. Pháp luật thường quy định các giới hạn để
hoạt động cho vay được thực hiện một cách an toàn hơn. Các quy định thường
là: mức cho vay tối đa đối với một khách hàng vay vốn; mức cho vay tối đa
so với giá trị tài sản thế chấp; mức cho vay tối đa đối với nhóm khách hàng
hạn chế tín dụng; tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn, cho vay
trung, dài hạn.
Ngoài các giới hạn do luật định, mỗi NHTM lại có quy định riêng về
quy mô và các giới hạn. Thường thì các NHTM sẽ thể hiện qua mức cho vay
tối đa đối với một dự án vay vốn, quyền phán quyết cho vay tối đa của giám

phí cam kết, phí quản lý. Phí tín dụng được ngân hàng xây dựng dựa trên chi
15
phí huy động vốn trong trường hợp cam kết tài trợ và cam kết tín dụng dự
phòng; dựa trên rủi ro nếu cam kết là cam kết bảo lãnh tín dụng; dựa trên các
chi phí khác như phí xác nhận, phí quản lý tài sản bảo đảm, phí cơ cấu lại thời
hạn trả nợ… Đối với trường hợp khi khách hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ,
ngân hàng phải trả tiền cho việc huy động các nguồn vốn thiếu hụt mà lẽ ra
ngân hàng đã có được do người vay trả nợ để tài trợ cho các dự án đã cam kết
và trích một phần dự phòng rủi ro tín dụng do khách hàng không trả nợ đúng
hạn.
Lãi suất và phí vay vốn là một nội dung quan trọng trong quản lý hoạt
động cho vay của NHTM.
1.3.2.5. Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt
đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được
thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
Thời hạn cho vay được chia thành 3 loại: ngắn, trung và dài hạn.
 Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Đối tượng
cho vay ngắn hạn là các doanh nghiệp cần bù đắp sự thiếu hụt vốn lao động
và các cá nhân có nhu cầu chi tiêu ngắn hạn.
 Cho vay trung hạn thường có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Cho
vay trung hạn chủ yếu phục vụ mua sắm tài sản cổ định, đổi mới thiết bị, công
nghệ, mở rộng sản xuất - kinh doanh, đầu tư mới các dự án vừa và nhỏ có thời
gian thu hồi vốn nhanh.
 Cho vay dài hạn là những khoản cho vay có thời hạn từ 60 tháng trở
lên. Cho vay dài hạn chủ yếu dành cho các đối tượng để xây dựng nhà ở, các
trang thiết bị, vận tải có quy mô lớn, thành lập các doanh nghiệp mới, thực
hiện các dự án có quy mô lớn với thời gian thu hồi vốn lâu, trồng các loại cây
lâu năm…
16

Việc phân loại nhóm nợ được dựa trên hai yếu tố định lượng và định
tính. Yếu tố định lượng để làm căn cứ phân loại nhóm nợ là nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ, nợ quá hạn. Yếu tố định tính gồm rất nhiều tiêu chí để làm căn cứ
xem xét, bao gồm quá khứ (lịch sử), hiện tại, tương lai (triển vọng) của khách
hàng. Do đó, muốn phân loại chính xác nhóm nợ phải căn cứ nhiều vào các
chỉ tiêu định tính. Nhưng cơ sở để xác định các yếu tố định tính rất phức tạp
và có tính nhạy cảm cao, gây khó khăn cho các TCTD trong việc lượng hóa
để có cơ sở phân loại nợ chính xác. Muốn vậy, các TCTD phải có hệ thống
chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ để khắc phục khó khăn
này.
Nhìn chung, các tiêu thức để làm căn cứ xếp hạng tín dụng nội bộ giữa
các ngân hàng không có sự khác biệt nhau nhiều và thường được phân thành
10 hạng theo thứ tự độ tin cậy của ngân hàng đối với khách hàng giảm dần là:
AAA, AA, A, BBB, BB, B, CCC, CC, C, D. Theo thông lệ quốc tế, khách
hàng được xếp vào các hạng AAA, AA, A được phân vào nợ nhóm 1; khách
hàng xếp hạng BBB, BB, B được phân vào nợ nhóm 2; khách hàng xếp hạng
CCC, CC được phân vào nợ nhóm 3; khách hàng xếp hạng C được phân vào
nợ nhóm 4; khách hàng xếp hạng D được phân vào nợ nhóm 5.
1.3.2.7. Chính sách bảo đảm tiền vay
Hoạt động cho vay của ngân hàng luôn gắn liền với nguy cơ rủi ro
không thu hồi được nợ, vì vậy mà ngân hàng phải đưa ra các biện pháp bảo
đảm hạn chế rủi ro, tăng độ an toàn của các khoản cho vay. Chính sách bảo
đảm tiền vay được hình thành trên cơ sở như vậy với hai nội dung cơ bản là
chính sách áp dụng bảo đảm tiền vay đối với nhóm, loại khách hàng vay và
chính sách xem xét nhận các loại tài sản bảo đảm.
18
Các ngân hàng cho vay dựa trên việc đánh giá uy tín của khách hàng
thông qua hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng nội bộ của
mỗi ngân hàng. Trường hợp khách hàng là khách hàng truyền thống, có uy
tín, có kết quả xếp hạng từ A trở lên, được ngân hàng xem xét cho vay không

chung về quản lý, xử lý các nhóm, loại nợ có vấn đề, NHTM thường có kế
hoạch, phương án chi tiết để xử ý từng món nợ có vấn đề cụ thể.
Xây dựng một hệ thống giám sát và quản lý nợ có vấn đề hiệu quả giúp
cho các NHTM dự báo trước và tránh được hoặc có phương án phòng bị phù
hợp trước rủi ro trong hoạt động tín dụng.
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.4.1. Các chỉ tiêu định tính
Thứ nhất, hoạt động tín dụng được coi là có hiệu quả tốt khi ngân hàng
đáp ứng được một cách đầy đủ, kịp thời nhu cầu của khách hàng, bởi không
có một ngân hàng nào tồn tại và phát triển được mà không có khách hàng.
Điều này được thể hiện trước hết ở khối lượng tín dụng mà ngân hàng cung
cấp phải thỏa mãn được yêu cầu, phù hợp với mục đích sử dụng của khách
hàng; ở chính sách lãi suất thích hợp, linh hoạt, thủ tục vay vốn đơn giản,
thuận tiện trên cơ sở đảm bảo những nguyên tắc an toàn vốn. Ngân hàng cung
cấp vốn nhanh chóng kịp thời sẽ giúp các cá nhân, tổ chức tiết kiệm thời gian,
chi phí giao dịch cũng như nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên,
để làm được điều này thì bản thân các NHTM phải năng động hơn trong việc
nâng cao chất lượng tín dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên cả về chất
và lượng của khách hàng.
Thứ hai, sau khi đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của khách hàng,
hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ được coi là có hiệu quả tốt khi ngân
hàng thu về được đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi. Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất
20
của các doanh nghiệp cũng như của các ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận,
hoạt động kinh doanh chỉ thực sự được coi là có hiệu quả khi nó vừa thỏa
mãn nhu cầu khách hàng vừa mang lại lợi nhuận cao cho chính bản thân
doanh nghiệp. Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải mang lại cho ngân
hàng những khoản thu nhập đủ để trang trải các chi phí cần thiết và đảm bảo
có lãi, hạn chế thấp nguy cơ rủi ro. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín
dụng cùng với sự năng động nhạy bén trong kinh doanh của doanh nghiệp và

tháng năm nay
x 100%
Số dư nợ cho vay bình quân 12
tháng năm trước
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng đáp ứng vốn của ngân hàng và nhu cầu
tiếp nhận phát triển kinh tế. Khi đánh giá phải giá so sánh với tốc độ tăng
trưởng chung, so với tốc độ tăng trưởng tín dụng các ngành kinh tế khác, so
với kế hoạch, so với năm trước và so với đối thủ cạnh tranh trên địa bàn.
* Thị phần dư nợ tín dụng
Thị phần dư nợ
tín dụng
=
DNTD của ngân hàng cần đánh giá
Tổng DNTD trên địa bàn
Chỉ tiêu thị phần dư nợ tín dụng của một NHTM, một chi nhánh NHTM
được xác định bằng tỷ lệ phần trăm dư nợ tín dụng khu vực của ngân hàng đó
trong tổng dư nợ tín dụng đầu tư trên địa bàn của tất cả TCTD.
* Tỷ lệ dư nợ có khả năng sinh lời
Tỷ lệ dự nợ có khả
năng sinh lời
=
Dư nợ cho vay có khả năng sinh lời
bình quân 12 tháng
x 100%
Dư nợ cho vay bình quân 12 tháng
Dư nợ cho vay có khả năng sinh lời là dư nợ đang được thu lãi bình
thường, không tính các khoản nợ không thu được lãi. Đánh giá chỉ tiêu trong
22
mối quan hệ so sánh với tỷ lệ dư nợ tín dụng có khả năng sinh lời chung, so
với khu vực thành thị và các ngành kinh tế khác.

Nợ nhóm 5: các khoản NQH trên 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu
lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ
khoanh, nợ chờ xử lý.
* Lợi nhuận
Tùy theo các góc độ nghiên cứu mà lợi nhuận thường được chia thành lợi
nhuận gộp, lợi nhuận ròng trước thuế và lợi nhuận sau thuế.
Lợi nhuận gộp = Thu nhập – chi phí về tiền lãi
Trong đó:
- Thu nhập bao gồm: thu nhập từ tiền lãi (thu lãi cho vay và thu lãi tiền
gửi), hoa hồng và phí cam kết, thu nghiệp vụ (bao gồm: phí dịch vụ, thu từ
hoạt động kinh doanh và chứng khoán, thu dịch vụ tư vấn, thu từ các dịch vụ
ngân hàng khác, thu khác), thu nhập bất thường, thu khác.
- Chi phí về tiền lãi bao gồm: chi trả theo lãi suất tiền gửi, trả lãi tiền vay,
chi trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, chi phí dịch vụ, chi phí bất thường, chi
khác.
Lợi nhuận gộp là chỉ tiêu quan trọng, tổng quát phản ánh trình độ quản
lý, quy mô hoạt động của ngân hàng.
Lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận gộp – Chi phí nghiệp vụ
Chi phí nghiệp vụ, hay còn gọi là chi phí quản lý bao gồm: chi phí cho
nhân viên, thuê trụ sở, chi về thông tin, bưu điện, khấu hao, chi phí chung và
quản lý, chi phí khác. Chi nghiệp vụ phản ánh quy mô, cơ cấu các khoản chi
phí quản lý của ngân hàng.
Nếu khoản chi này lớn hơn lợi nhuận gộp thì ngân hàng bị lỗ vốn, cần
phải tiết giảm bớt các khoản chi.
LN sau thuế = LN ròng trước thuế - Thuế thu nhập doanh nghiệp
24
Chỉ tiêu này trong mối quan hệ so sánh với chỉ tiêu lợi nhuận ròng trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status