Giới thiệu các đề kiểm tra môn ngữ văn học kỳ và đáp án tham khảo - Pdf 27

Tóm tắt văn bản truyện lớp 9
1. Văn bản: Làng
Truyện kể về nhân vật ông Hai một người rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình. Dù thời
cuộc có thay đổi nhưng ông vẫn gắn bó tha thiết với làng quê. Khi cuộc kháng chiến chống
Pháp nổ ra vì hoàn cảnh ông Hai phải theo vợ con đi tản cư. Mặc dù xa làng nhưng ông
vẫn nhớ về làng Chợ Dầu và mong chờ từng tin thắng trận của quân ta. Nghe tin đồn làng
Chợ Dầu theo giặc Pháp ông Hai vô cùng đau khổ tủi nhục suốt mấy ngày trời. Ông chẳng
dám đi đâu chỉ biết ở nhà tâm sự với đúa con nhỏ. Mặc dù rất yêu làng nhưng ông đã có
một sự lựa chọn dứt khoát đó là một lòng theo Cụ Hồ, ủng hộ cuộc kháng chiến. Đến lúc
tin đó được cải chínhông Hai hết sức vui sướng, mừng rỡ báo tin với mọi người. Chính
niềm vui kì lạ ấy là sự thể hiện cảm động tinh thần yêu nước, lòng trung thành với cách
mạng của ông.
2. Văn bản: Lặng lẽ Sa Pa
Truyện Lặng lẽ Sa Pa kể lại cuộc gặp gỡ giữa ông họa sĩ già. Cô kĩ sư và bác lái xe với
anh thanh niên làm công tác khí tượng, thủy văn trên đỉnh núi Yên Sơn cao hai nghìn sáu
trăm mét. Tranh thủ ba mươi phút hành khách được nghỉ ngơi anh thanh niên mời ông họa
sĩ, cô kĩ sư lên thăm nơi ở, nơi làm việc của mình. Dù sống một mình nhưng anh thanh
niên tổ chức cuộc sốn rất ngăn nắp. Ngôi nhà anh ở khang trang, sạch sẽ, có cả bàn học, kệ
sách. Anh còn trồng hoa, nuôi gà để cải thiện đời sống của mình. Anh mời ông họa sĩ uống
trà, chân tình cắt hoa tặng cô gái, giới thiệu công việc, các loại máy móc, dụng cụ làm việc
của mình. Khi họa sĩ đề nghị được vẽ một bức kí họa chân dung của anh, anh thanh niên đã
nhẹ nhành từ chối và giới thiệu với ông họa sĩ về những người khác. Đó là ông kĩ sư trồng
rau và hà nghiên cứu về sét. Anh thanh niên làm cho ông họa sĩ cảm thấy bối rối, cô kĩ sư
băn khoăn và ông họa sĩ hứa quay lại thăm anh.
3. Văn bản: Chiếc lược ngà
Ông Sáu trở về nhà sau tám năm xa cách. Con gái của ông đã lên tám tuổi nhưng bé
Thu đã không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cho ông Sáu không giống với người
trong bức ảnh mà em đã nhìn thấy. Thu đối với ba như người xa lạ. Đến lúc bé Thu nhận ra
cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn
cứ người cha dó đã dồn hết tình cảm yêu quí nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc
lược bằng ngà voi để tặng cho con gái bé bỏng của mình. Nhưng trong một trận càn ông

Mỗi ngừơi một vẻ mừoi phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy dặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Nguyễn Du
2. Cảnh ngày xuân
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mưoi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiến sóng kêu quanh ghế ngồi.
Nguyễn Du
2. Mã Giám Sinh mua Kiều
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
Hỏi tên rằng : “Mã Giám Sinh” ,
Hỏi quê, rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao,
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng!
Ngịa ngùng dợn gió e sương,
Ngừng hoa bón thẹn trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng : “Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”
Mối rằng : “Giá đáng nghìn vàng,

Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Chót lòng gây việc trông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “Thật đã nên rằng,
Không ngoan đến mức nói năng phải lời
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra ngừoi nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì nên”.
Truyền quân lệnh xuống tiền tha ngay.
Nguyễn Du
4. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.
Kêu rằng : “Bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.”
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy,
Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trơ chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,
Hỏi : “Ai than khóc ở trong xe nầy ?”
Thưa rằng : “Tôi thiệt ngừoi ngay,
Sa cơ nên mới lầm tau hung đồ.

Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền chẳng có bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”.
Vân Tiên nghe nói liền cười :
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.
Nguyễn Đình Chiểu
5. Đồng chí
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi ngừoi xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chunh chăn thành đoi tri kỉ.
Đồng chí !
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run ngừoi vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cừoi buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đêm nay rừng hoang sương muối

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước :
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Phạm Tiến Duật
7. Đoàn thuyền đánh cá
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng : cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồn sáng.
Đến dệt lưới ta, đonà cá ơi !
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe.
Đêm thở : sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên !”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niếm tin dai dẳng…
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !
Giờ cháu đã đĩa. Có ngọn khói tăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở :
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
1963
Bằng Việt
9. Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời :
- Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần

vầng trăng thành tri kỉ đột ngột vầng trăng tròn

Trần trụi với thiên nhiên Ngửa mặt lên nhìn mặt
hồn nhiên như cây cỏ có cái gì rưng rưng
ngỡ không bao giờ quên như là đồng là bể
cái vầng trăng tình nghĩa như là sông là rừng
Từ hồi về thành phố Trăng cứ tròn vành vạnh
quen ánh điện, cửa gương kể chi người vô hình
vầng trăng đi qua ngõ ánh trăng im phăng phắc
như người dưng qua đường đủ cho ta giật mình.
TP. Hồ Chí Minh, 1978
Nguyễn Duy
13. Con cò
I II
Con còn bế trên tay Ngủ yên ! Ngủ yên ! Ngủ yên
Con chưa biết con cò Cho cò trắng đến làm quen,
Nhưng trong lời mẹ hát Cò đứng ở quanh nôi
Có cánh cò đang bay : Rồi cò vào trong tổ.
“Con cò bay la Con ngủ yên thì cò cũng ngủ,
Con cò bay lả Cánh của cò hai đứa đắp chung đôi.
Con cò cổng phủ Mai khôn lớn con theo cò đi học,
Con cò Đồng Đăng…” Cánh trắng cò bay theo gót đôichân.
Cò một mình cò phải kiếm lấy ăn, Lớn lên, lớn lên, lớn lên…
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ. Con làm gì ?
“Con cò ăn đêm, Con làm thi sĩ !
Con cò xa tổ, Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Cò gặp cành mềm, Trước hiên nhà
Cò sợ xáo măng…” Và trong hơi mát câu văn…
Ngủ yên ! Ngủ yên ! Cò ơi, chớ sợ !
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng !

Vất vả và gian lao 11 - 1980
Đất nước như vì sao Thanh Hải
Cứ đi lên phía trước.
12. Viếng lăng Bác
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi ! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng ngừoi đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mưoi chín mùa xuân …
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim !
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
4 – 1976
Viễn Phương
13. Sang thu
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt dầu vội vã
Có đám mây mùa hạ

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
1980
Y Phương

Trường THCS ………………………… ĐỀ THI HỌC KỲ II
Môn : Ngữ văn Khối 9
I/ Trắc nghiệm : (4 điểm) Mỗi câu đúng được 0,4 đ
Vòng tròn vào chữ cái đầu câu mà em cho là đúng nhất.
Câu 1 : Bài văn "Bàn về đọc sách " của tác giả nào?
A. Nguyễn Thiếp B. Chu Quang Tiềm
C. Nguyễn Quang Sáng D. Hoài Thanh
Câu 2 : Đọc sách là con đường quan trọng để tích luỹ, nâng cao học vấn. Đúng hay
sai?
A. Đúng B. Sai.
Câu 3 : Đề tài chính của văn bản "Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới" là :
A. Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới.
B. Việt Nam đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
C. Con người Việt Nam với những điểm mạnh, điểm yếu.
D. Việt Nam hội nhập cùng với các nước bước vào thế kỷ mới.
Câu 4 : Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh con cò trong văn bản "Con cò" của Chế
Lan Viên là :
A. Hình ảnh người nông dân vất vả.
B. Hình ảnh người phụ nữ vất vả, nhọc nhằn, giàu đức hy sinh.
C. Biểu tượng cho tấm lòng người mẹ và những lời hát ru.
D. Cả 3 ý trên.

I/ Trắc nghiệm : (4 đ, gồm 10 câu, mỗi câu trả lời đúng được 0,4 đ)
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Phương án B A A C B B C B B D
II/ Tự luận : (6 điểm)
1. Yêu cầu về nội dung : (5 điểm)
- Giới thiệu được trò chơi điện tử rất hấp dẫn với học sinh hiện nay (0,5 đ)
- Hiện nay rất nhiều học sinh trong các trường học vì mải chơi điện tử mà sao
nhãng việc học hành (2 điểm)
- Lời khuyên rút ra bài học cho bản thân (0,5 đ)
2. Yêu cầu về hình thức (1 điểm)
- Bố cục : 3 phần
- Chú ý liên kết mạch lạc giữa các câu trong đoạn văn và giữa các phần trong
bài văn.
Trường THCS Phù Đổng ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II
Người ra: Ng.Thị Tuyết Môn: Ngữ Văn - Khối 9
Thời gian: 90’
I. Phần trắc nghiệm: (4đ)
Đọc kĩ đoạn văn và các câu hỏi, trả lời bằng cách khoanh tròn chữ cái đầu câu
đúng nhất.
Đoạn văn:
Có một đám mây kéo ngoài cửa hang. Một đám nữa. Rồi một đám nữa bay
qua ngày càng nhanh. Bầu trời mở rộng trước cửa hang đen đi. Cơn giông đến. Cát
bay mù. Gió quật lên, quật xuống những cành cây khô cháy. Lá bay loạn xạ. Đột
ngột như một biến đổi bất thường trong tim con người vậy. Ở rừng mùa này thường
như thế. Mưa. Nhưng mưa đá. Lúc đầu tôi không biết. Nhưng rồi có tiếng lanh canh
gõ trên nóc hang. Có cái gì vô cùng sắc xé không khí ra từng mảnh vụn. Gió. Và tôi
thấy đau, ướt ở má.
1. Tác giả của đoạn văn trên là:
A. Nguyễn Minh Châu. B. Lê Minh Khuê
C. Thanh Hải D. Viễn Phương

C. Câu rút gọn D. Câu ghép
II. Phần tự luận: (6đ)
1. Viết đoạn văn ngắn trình bày cảm nhận của em về khổ thơ trong bài Mùa xuân
nho nhỏ của nhà thơ Thanh Hải:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
2. Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong Bài thơ tiểu về đội xe không kính của nhà
thơ Phạm Tiến Duật.
ĐÁP ÁN ( Ngữ văn 9)
Môn: Ngữ Văn
I. Phần trắc nghiệm: (4đ - Mỗi câu đúng 0,4 điểm)
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Đáp án B B A C A C B D A B
II. Phần tự luận : ( 6đ)
Câu 1. Viết đoạn văn đảm bảo nội dung, diễn đạt lưu loát, hạn chế lỗi diễn đạt, lỗi
chính tả
- Nội dung: Ước nguyện chân thành, tha thiết (qua điệp ngữ) muốn làm những gì, dù
nhỏ bé, nhưng là phần đẹp nhất, có giá trị nhất để đóng góp cho đời. (1điểm)
Câu 2.
1. Yêu cầu:
1.1/ Đảm bảo bố cục ba phần, đúng phương pháp bài nghị luận văn học. Diễn đạt lưu
loát, mạch lạc, hạn chế tối đa lỗi diễn đạt.
1.2/ Đảm bảo nôị dung:
- Mở bài: giới thiệu được tác giả, tác phẩm. Những nét chính về phẩm chất của
người lính lái xe: Trẻ trung, sôi nổi, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất dũng cảm, gan
dạ.
- Thân bài: Làm rõ những phẩm chất người lính qua những hình ảnh thơ cụ thể với
cách thể hiện độc đáo của tác giả (giọng thơ ngang tàng, lời thơ như văn xuôi, sáng

2. Nhân vật tôi trong đoạn trích là ai:
A. Tác giả B. Nho C. Phương Định D. Thao.
3. Câu " Xa đến đâu mặc kệ trong gương " được liên kết với đoạn trước đó bằng phép liên
kết gì:
A. Lặp từ ngữ B. Phép nối C. Phép thế D.Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
4. Cái gì làm cho nhân vật tôi thích ngắm mình trong gương:
A. Khuôn mặt đẹp B. Cái cổ cao C. Con mắt D. Cả 3 ý trên.
5. Từ nào trong các từ sau gần nghĩa với từ "xa xăm":
A. Xa lạ B. Xa xôi C. Xa xa D. Xa vắng
6. Có bao nhiêu câu trong đoạn trích có thành phần phụ chú:
A. 1 câu B. 2 câu C. 3 câu D. 4 câu
7. Có bao nhiêu câu trong đoạn trích có thành phần khởi ngữ:
A. 1 câu B. 2 câu C. 3 câu D. 4 câu
8. Trong các từ sau, từ nào là từ ghép:
A. Xa xăm B.Đối dáp C. Săn sóc D. Vồn vã
9. Tác giả của đoạn trích trên:
A. Nguyễn Quang Sáng B. Nguyễn Minh Châu C. Lê Minh Khuê D. Kim Lân
10. Dòng nào dưới đây có chứa nghĩa hàm ý:
A. Tôi là con gái Hà Nội. B. Nó dài dài màu nâu
C. Cô có cái nhìn sao mà xa xăm . D. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo
II/ PHẦN TỰ LUẬN: (6đ)
1. Phân tích khổ thơ đầu bài thơ " Mùa Xuân nho nhỏ" của Thanh Hải.
2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn ,và cuộc sống chiến đấu của các nhân vật nữ thanh
niên xung phong trong truyện " Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê.
HƯỚNG DẪN CHẤM
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II
MÔN NGỮ VĂN 9
I/ PHẦN TRẮC NGHIỆM : 4 điểm
- Mỗi câu trả lời đúng cho 0,4 điểm .
- Đáp án 1D, 2C, 3B , 4C , 5B, 6B, 7A, 8B, 9C ,10C.

hang này khoản 300m. Đất dưới chân chúng tôi rung. Mấy cái khăn mặt mắc ở trên
đầu cũng rung. Tất cả, cứ như lên cơn sốt. Khói lên và cửa hang bị che lấp. Không
thấy mây và bầu trời đâu nữa.
( Ngữ văn lớp 9 tập II – Trang 115, 116 )
1. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào ?
A. Bến quê. B. Những ngôi sao xa xôi. C. Cố hương.
D. Làng.
2. Nối nội dung cột A với nội dung cột B để có một câu trả lời đúng.
A B
Truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi ”
ra đời năm :
1) 1970
2) 1971
3) 1975
4) 1976
3. Lê Minh Khuê là nhà văn thuộc thế hệ :
A. Trước cách mạng tháng Tám. B. Trong kháng chiến chống Pháp.
C. Trong kháng chiến chống Mỹ. D. Trưởng thành sau năm 1975.
4. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là :
A. Tự sự. B. Miêu tả.
C. Nghị luận. D. Cả A, B, C.
5. Vai kể trong đoạn văn trên là ai ?
A. Tác giả. B. Phương Định. C. Cả ba cô gái. D. Nhừng người
cùng đơn vị.
6. Chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung ?
A. Chân thật, khách quan, thuyết phục người đọc. B. Bao quát được
các đối tượng.
C. Tạo ra cái nhìn đa dạng. D. Tất cả A, B, C.
7. Đoạn văn trên giới thiệu với người đọc điều gì ?
A. Vẻ đẹp của một cô gái trên một cao điểm Trường Sơn.

Người ra đề: Phan Thị Thứ
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II
Môn : Ngữ Văn 9
Thời gian : 90 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I : TRẮC NGHIỆM (10 câu đúng được 0,4 điểm)
Đọc kỹ câu hỏi, sau đó trả lời bằng cách khoanh tròn chữ cái của câu trả
lời đúng nhất :
Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi ! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim !
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
1. Tác giả của văn bản "Viếng Lăng Bác" là ai ?
A. Bằng Việt C. Viễn Phương
B. Chính Hữu D. Huy Cận
2. Bài thơ Viếng Lăng Bác thuộc phương thức biểu đạt chính nào ?
A. Biểu cảm C. Tự sự
B. Miêu tả D. Nghị luận
3. Vì sao em biết bài thơ Viếng Lăng Bác thuộc phương thức biểu đạt mà em đã

tượng đậm nét về hàng tre quanh lăng. Gợi hình ảnh của quê hương đất nước.
B. Bài thơ nói lên xúc cảm và suy ngẫm của tác giả về Bác được gợi lên từ
những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng : mặt trời, vầng trăng, trời xanh.
C. Bài thơ nói lên niềm mong ước thiết tha của tác giả khi sắp phải trở về
quên hương miền Nam, muốn tấm lòng mình vẫn được mãi mãi ở lại bên lăng Bác.
D. Tất cả đều đúng.
8. Hình ảnh "cây tre" (ở đầu và cuối bài thơ) có ý nghĩa như thế nào ?
A. Cây tre là một vật dụng thủ công mỹ nghệ độc đáo của nước ta.
B. Cây tre là hình ảnh thân thuộc của làng quê, của đất nước Việt Nam.
C. Cây tre là biểu tượng sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc.
D. Cả B và C đều đúng.
9. Trong câu "Ôi ! Hàng tre xanh xanh Việt Nam" có sử dụng :
A. Thành phần tình thái C. Thành phần gọi - đáp
B. Thành phần cảm thán D. Thành phần phụ chú
10. Cụm từ "nằm trong giấc ngủ bình yên" trong câu "Bác nằm trong lăng giấc
ngủ bình yên" là :
A. Cụm danh từ C. Cụm tính từ
B. Cụm động từ
PHẦN II : TỰ LUẬN (6đ)
Suy nghĩ từ truyện ngụ ngôn : "Đẽo cầy giữa đường"
HƯỚNG DẪN CHẤM ĐIỂM MÔN: NGỮ VĂN 9
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KỲ II
Môn : Ngữ Văn
PHẦN I : TRẮC NGHIỆM (4đ)
Trả lời đúng mỗi câu 0,4 điểm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
C A C A B D D D B B
PHẦN II : TỰ LUẬN (6đ)
1. Yêu cầu cần đạt
a. Nội dung : Đảm bảo nội dung nghị luận gồm 3 phần sau :

“Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”

Trích đoạn Tự luận: (6 điểm) ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM I.Phần trắc nghiệm: (4đ)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status