1
Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
“Hồi thế chiến thứ 2, có một nhà máy in ở Đức bị tàn phá, Đức quốc xã
chiếm dụng làm cơ sở quân dụng. Chiến tranh đi qua, có 2 người đến nhặt từng
viên gạch, cặm cụi xếp lại thành đống. Một người đi tới hỏi: “Vì sao các anh
làm việc này?”. Họ trả lời: “Chúng tôi làm theo tâm nguyện của ông chủ, phải
xây dựng lại nhà máy ”. Người hỏi đó chính là ông chủ và họ cùng ôm nhau
khóc, quyết tâm xây lại nhà máy”.
“Trong sự nghiệp của mình, ông chủ - người sáng lập tập đoàn Samsung
- ước muốn sản xuất cho được chip điện tử. Nhưng ông không hoàn thành tâm
nguyện. Trước khi qua đời, ông nói với các cộng sự: “Tôi không làm được thì
các anh làm, rồi hãy đem nó đặt lên mộ tôi ”. Kết quả là hiện nay, Samsung trở
thành một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất chip điện tử”.
Xây dựng Văn hóa Doanh nghiệp (VHDN) vẫn còn là một vấn đề khá
mới mẻ đối với hầu hết các Doanh nghiệp Việt Nam. Tại Việt Nam chưa thực sự
có một Doanh nghiệp nào xứng tầm khu vực, chưa có sản phẩm hay dịch vụ nào
làm lay động thị trường quốc tế; ngoài những lí do về trình độ quản lý, nguồn
nhân lực, nguồn tài chính…thì thiếu VHDN cũng là một trong những yếu tố góp
phần cho sự hổ thẹn ấy. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay,
các nhà quản lý cần có một cái nhìn toàn diện, một sự quan tâm thích đáng đến
1 | P a g e
1
2
Luận văn tốt nghiệp
việc xây dựng văn hóa Doanh nghiệp của Công ty mình, không thể để cho nó
phát triển tự phát.
VHDN không hiện hữu một cách thường trực, đầu tư xây dựng VHDN
không phải ngày một ngày hai mà hiệu quả của nó cũng khó có thể đong đếm
được, do vậy VHDN không thực sự được các Doanh nghiệp Việt Nam quan tâm
một cách đúng đắn. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này nhằm cho thấy
a. Sự ngự trị của máy móc-Doanh nghiệp được xem như một cỗ máy:
Người ta tìm thấy dấu vết của quan điểm này trong thực tiễn của các
doanh nghiệp chính thức đầu tiên, các doanh nghiệp này có cấu trúc hình tháp,
đó là việc chuyên môn hoá các hoạt động của con người. Tuy nhiên với sự ra đời
và phát triển của máy móc, nhất là từ cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu
và Châu Mỹ thì quan niệm doanh nghiệp thực sự máy móc vì việc sử dụng máy
móc chủ yếu trong công nghiệp đã đòi hỏi các Doanh nghiệp thích nghi với yêu
cầu của máy móc. Cách tiếp cận này xem xét doanh nghiệp như một cỗ máy, coi
mỗi con người, mỗi bộ phận của Doanh nghiệp như một bộ phận, một chi tiết
của cỗ máy hoàn chỉnh được Adam Smith (Anh) ca ngợi, được Frédéric Đại đế
(Nước Phổ) vận dụng triệt để, được Frederick Taylor (Mỹ) , Henri Fayol (Pháp),
F.W. Mooney (Mỹ) và Lyndall Urwick (Anh) phát triển thành học thuyết quản
lý.
Doanh nghiệp được xem như một cỗ máy với con người là các bộ phận,
chi tiết nên nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của họ đều rõ ràng, sự phân công
4 | P a g e
4
5
Luận văn tốt nghiệp
chuyên môn hoá là hết sức chặt chẽ để phục vụ cho mục tiêu chung. Mối quan
hệ giữa những con người đều mang tính chính thức. Mỗi người, mỗi vị trí, mỗi
hành động đều được chuẩn hoá. Nếu một người nào đó, do sự cố không tham dự
vào Doanh nghiệp nữa, thì người đứng đầu Doanh nghiệp có thể thay thế anh ta
bằng bất kỳ ai đạt đủ các tiêu chuẩn tương đương, giống như một người đi xe
gắn máy thay chiếc xích bị rão bằng một chiếc xích khác của bất cứ nước nào,
do bất cứ doanh nghiệp nào sản xuất, miễn là xích đó có cùng chủng loại và kích
cỡ.
Doanh nghiệp là một cỗ máy, cho nên mục tiêu của Doanh nghiệp phải cố
định và hiệu quả của việc sản xuất phải rất cao. Kế hoạch đặt ra cho Doanh
nghiệp là chuẩn xác, việc kiểm tra thực hiện kế hoạch cũng thuận tiện rõ ràng.
hoạt động tổ chức phải đảm bảo được sự cân bằng bên trong và với bên ngoài,
phải không ngừng củng cố và phát triển mối liên hệ với các tổ chức khác.
Doanh nghiệp là một cơ thể sống nên phải được đáp ứng những nhu cầu
để tồn tại và phát triển. Quan điểm này coi tồn tại là mục tiêu đầu tiên mà bất kì
doanh nghiệp nào cũng phải đạt được để thực hiện sứ mệnh của mình. Nhu cầu
6 | P a g e
6
7
Luận văn tốt nghiệp
của cơ thể được đáp ứng thì mỗi bộ phận của cơ thể cũng được đáp ứng theo
bằng những phương thức và liều lượng khác nhau. Như vậy, người đứng đầu
Doanh nghiệp phải chăm lo xử lý lợi ích, nhu cầu của Doan nghiệp mình và họ
có nhiệm vụ phân phối lại các lợi ích đã thu nhận được cho các cá nhân trong tổ
chức.
Doanh nghiệp là một cơ thể sống, có nghĩa là nó phải có môi trường sống
(có không gian và thời gian mà trong đó Doanh nghiệp tồn tại và phát triển).
Quan hệ đầu tiên phải đề cập tới giữa cơ thể sống với môi trường là khả năng
thích nghi. Nếu cơ thể không thích nghi được với các rủi ro và ngẫu nhiên của
môi trường thì nó sẽ bị tiêu diệt.
Đa dạng như giới sinh vật, Doan nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau,
được phân chia theo nhều tiêu chí khác nhau. Những người thành lập Doanh
nghiệp luôn có một dải rộng để lựa chọn hình thái tồn tại cho Doanh nghiệp và
hiệu quả của tổ chức phụ thuộc vào chất lượng của sự lựa chọn này.
- Ưu điểm của quan điểm xem doanh nghiệp như một cơ thể sống là sự quan tâm
của các nhà quản lý đến vấn đề con người. Với quan điểm này họ sẽ cố gắng để
đảm bảo tính thích nghi của tổ chức với môi trường, biết chấp nhận những sự đe
doạ và rủi ro đến từ môi trường, thận trọng khi lựa chọn hình thái cơ cấu cho
Doanh nghiệp, chăm lo đến công tác phát triển Doanh nghiệp.
- Nhược diểm: Quan điểm xem Doanh nghiệp như một cơ thể sống có thể dẫn
chúng ta đến mong muốn nhìn nhận các Doanh nghiệp và môi trường của nó
tự điều chỉnh, duy trì khả năng thích nghi và trạng thái ổn dịnh.
- Ưu điểm: Suốt trong nhiều thập niên trôi qua kể từ khi Simon đưa ra khái niệm
về quá trình thông tin và ra quyết định trong Doanh nghiệp nhiều nhà nghiên
cứu đã đóng góp công sức để nâng cao khả năng quản lý Doanh nghiệp trước
tính phức tạp và bất định của môi trường. Quan điểm này là cơ sở để hình thành
các nghành khoa học mới như điều khiển học và lý thuyết thông tin, giúp chúng
ta hiểu được các hình thức học tập nổi bật trong Doanh nghiệp (hỏi đáp và tự
phê) và khả năng tự tổ chức của chúng. Đồng thời mở ra khả năng sử dụng tin
học để hình thành các dạng Doanh nghiệp mới.
- Nhược điểm: Với quan điểm này các Doanh nghiệp phải bằng lòng với các
quyết định “thoả đáng” dựa trên các phương pháp có tính kinh nghiệm giản đơn
và trên một lượng thông tin hạn chế. Có nguy cơ không chú ý đến những xung
khắc nghiêm trọng giữa đòi hỏi học tập và tự tổ chức với các thực tế của quyền
hành và kiểm tra. Tự tổ chức đòi hỏi sự thay đổi thái độ: ưu tiên tính chủ động
chứ không phải thụ động, độc lập chứ không phụ thuộc, linh hoạt chứ không
cứng nhắc, hợp tác hơn là cạnh tranh, cởi mở trí tuệ hơn là trói buộc, đàm đạo
dân chủ hơn là đức tin độc đoán. Đối với nhiều Doanh nghiệp , điều đó đòi hỏi
“sự thay đổi tính cách” với những khoảng thời gian đáng kể chứ không thể làm
ngay như thiết kế và xây dựng hệ thống thông tin cho những hệ thống cơ học.
9 | P a g e
9
10
Luận văn tốt nghiệp
d. Tạo dựng hiện thực xã hội- Doanh nghiệp được nhìn nhận như một nền
văn hoá:
Quan điểm coi Doanh nghiệp là một nền văn hoá phát triển từ những năm
1970, từ khi nước Nhật vươn lên hàng cường quốc kinh tế lớn. Mặc dù các nhà
lý luận còn chưa nhất trí về nguyên nhân của sự đổi thay của nước Nhật, song
phần lớn đều cho rằng nền văn hoá, đặc biệt là lối sống đã giữ vai trò hàng đầu.
Những đổi thay trong cán cân quyền lực thế giới và xu thế quốc tế hoá đã làm
trong Doanh nghiệp. Nhiều nhà lý luận quản lý coi văn hoá như một chỉnh thể
tách biệt, có những đặc trưng khá xác định, có thể sử dụng như một công cụ.
Trong khi đó văn hoá mang tính chất toàn cảnh khó mà bóc tách thành các bộ
phận và những nhà lãnh đạo Doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến diễn biến của
văn hoá chứ không thể khống chế được văn hoá.
e. Lợi ích, xung đột và quyền lực - Doanh nghiệp được coi như một hệ thống chính
trị:
11 | P a g e
11
12
Luận văn tốt nghiệp
Quan điểm coi Doanh nghiệp là một hệ thống chính trị đã xuất hiện từ
thời Aristote (384-322TCN). Theo cách tiếp cận này thì:
Doanh nghiệp là một tập hợp những con người có chung lợi ích. Tuy
thống nhất với nhau ở những lợi ích cơ bản, Doanh nghiệp có thể sẽ đem lại lợi
ích cho một số người này nhiều hơn người khác. Mâu thuẫn về lợi ích làm xuất
hiện trong Doanh nghiệp những xung đột.
Để bảo vệ lợi ích và giành lấy phần lợi ích lớn hơn, con người ta phải có
quyền lực. Những căng thẳng giữa lợi ích riêng và lợi ích của Doanh nghiệp đã
hướng đạo con người, dẫn dắt họ hành động một cách khôn khéo.
Con người trước hết muốn quyền lực và trò chơi quyền lực là một trong
những yếu tố cơ bản nhất của con người.
Các mối quan hệ về lợi ích và quyền lực tác động lên cấu trúc và trật tự
của Doanh nghiệp, có tác dụng cấu trúc lại các quan hệ trong Doanh nghiệp,
giữa các Doanh nghiệp và xã hội.
- Ưu điểm: Những tư tưởng trên đã giúp chúng ta chấp nhận thực tế rằng chính trị
là một yếu tố tất yếu trong đời sống Doanh nghiệp, thừa nhận vai trò của nó
trong việc tạo dựng trật tự xã hội. Nó cởi bỏ huyền thoại về tính hợp lý và tính
thống nhất của các Doanh nghiệp, khẳng định vai trò của các nhà quản lý trong
quá trình giải quyết xung đột. Quan điểm này cũng cho ta thấy vai trò chủ động
và thoái hoá liên tục của doanh nghiệp để từ đó tìm ra phương thức hoạt động
phù hợp với từng giai đoạn trong tiến trình phát triển của mình.
- Nhược điểm:
+ Việc coi Doanh nghiệp là một hệ thống đóng mang tính tự quy chiếu có thể sẽ
không cho phép các nhà quản lý thấy được vai trò quan trọng của môi trường
đối với sự tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp.
+ Vì coi Doanh nghiệp luôn biến chuyển như các dòng chảy hết thịnh lại suy,
hết suy lại thịnh; con người dễ nảy sinh tư tưởng hoài nghi sự vững bền tương
đối của các Doanh nghiệp mà mình đang sống và hoạt động trong đó.
Ngoài những quan điểm trên, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nữa về
Doanh nghiệp. Những quan điểm khác nhau về Doanh nghiệp xuất phát từ việc
nghiên cứu Doanh nghiệp từ những góc độ khác nhau. Nếu chỉ đứng về phía bất
cứ một quan điểm nào, ta cũng chỉ có được cách nhìn phiến diện về Doanh
nghiệp. Để quản lý Doanh nghiệp, các nhà quản lý phải nghiên cứu Doanh
nghiệp từ nhiều góc độ và có được quan điểm toàn thể về Doanh nghiệp.
2. Khái niệm Văn hoá và vai trò của Văn hoá.
2.1. Khái niệm Văn hoá:
Tại phương Tây, văn hoá-culture (trong tiếng Anh, Pháp) hay kultur (tiếng Đức)
… đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông
14 | P a g e
14
15
Luận văn tốt nghiệp
nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ cultus được mở
rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và
phát triển mọi khả năng của con người.
Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hoá bao hàm ý nghĩa: văn là
vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng
sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn
Để lập lại sự cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh
tế với ổn định và phát triển hài hoà trình độ phát triển của các quốc gia không
chỉ căn cứ vào sự tăng trưởng hay phát triển kinh tế của nó, mà thước đo sự phát
triển quốc gia căn cứ vào mức độ phát triển con người (HDI-Human
development index). Đó là một hệ thống gồm ba chỉ tiêu cơ bản: (1) mức độ
phát triển kinh tế đo bằng mức sống bình quân của người dân (GDP/ người); (2)
Tiến bộ về y tế đo bằng tuổi thọ trung bình của người dân; (3) trình độ hay tiến
bộ về giáo dục căn cứ vào tỷ lệ người biết chữ và số năm đi học trung bình của
người dân.
16 | P a g e
16
17
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, mục đích hay mục tiêu cao cả nhất của các quốc gia phải là sự
phát triển con người toàn diện, là việc nâng cao chất lượng sống cho nhân dân
chứ không phải là mục tiêu phát triển kinh tế hay phát triển một số bộ phận, một
số mặt nào đó của đời sống xã hội. Và văn hoá theo nghĩa rộng nhất, nghĩa được
sử dụng phổ biến, với tư cách là phương thức sống và sự phát triển con người
toàn diện, chính là mục tiêu tối thượng cho sự phát triển của các quốc gia.
Đó cũng là những quan điểm của Liên Hiệp Quốc trong hơn hai thập kỷ
qua. Cựu tổng thư ký LHQ (J. Cuellar-1996) đã khẳng định: “Dù văn hoá là yếu
tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển, nó không thể bị hạ thấp
thành một nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế. Trái lại
văn hoá là mục đích cuối cùng của sự phát triển đầy đủ, nghĩa là văn hoá được
coi là mục đích phát triển con người một cách toàn diện”. Trong dịp phát động
Thập kỷ Quốc tế phát triển văn hoá của Liên Hiệp Quốc (1988-1997), ông Tổng
Giám đốc UNESCO đã tuyên bố: “…Tóm lại, động cơ và mục đích của sự phát
triển phải được tìm trong văn hoá. Từng Doanh nghiệp, các địa phương, mọi
người, các nhà chức trách phải kịp thời nắm lấy bài học này”.
b. Văn hóa là động lực của sự phát triển xã hội:
18
19
Luận văn tốt nghiệp
phát huy sức mạnh văn hóa thì sẽ tạo ra được một động lực rất mạnh mẽ thúc cả
đất nước đi lên.
+ Thứ ba: Các loại hình văn hoá nghệ thuật, các sản phẩm văn hoá hữu
hình và vô hình nếu được khai thác và phát triển hợp lý sẽ tạo ra sự giàu có về
đời sống vật chất và tinh thần của quốc gia, tạo động lực phát triển xã hội.
c. Văn hoá là linh hồn và hệ điều tiết của sự phát triển:
Vai trò của các Nhà nước là lãnh đạo và quản lý sự phát triển kinh tế- xã hội của
quốc gia. Để thực hiện vai trò này, Nhà nước phải định ra đường lối, kế hoạch,
mô hình và các chiến lược phát triển của quốc gia. Trong các công việc và quá
trình này, văn hoá đóng vai trò là “tính quy định” của sự phát triển, là nhân tố cơ
bản mà Nhà nước cần phải dựa vào để tạo lập và vận hành một mô hình phát
triển, một kiểu phát triển quốc gia mà nó cho là tốt nhất hay tối ưu nhất.
Nhân tố văn hóa có mặt trong mọi công tác, hoạt động xã hội và thường
tác động tới con người một cách gián tiếp, vô hình tạo ra các khuôn mẫu xã hội.
Do đó, văn hoá đóng vai trò điều tiết, dẫn đắt sự phát triển thể hiện ở mọi mặt
của đời sống xã hội: Chính trị, hành chính Nhà nước, phát triển kinh tế, giáo
dục, ngoại giao…sự định hướng và tác động của văn hoá sẽ mạnh mẽ hơn,hiệu
quả hơn nếu Nhà nước tổ chức nghiên cứu tìm ra hệ thống các giá trị văn hoá
của dân tộc và chính thức phát huy, phát triển bản sắc của dân tộc trong mọi mặt
và quá trình phát triển xã hội.
19 | P a g e
19
20
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, có hai quyền lực khác nhau cùng lãnh đạo quá trình phát triển
xã hội:
- Thứ nhất: Quyền lực chính trị của Nhà nước được tập chung trong sức mạnh của
nước hoà hợp và cộng hưởng với kiểu sống và các giá trị của nhân dân được kết
tinh trong văn hoá.
Có thể nói, văn hóa đóng vai trò điều tiết và dẫn dắt sự phát triển của toàn
xã hội, điều này được thể hiện ở mọi mặt của đời sống như chính trị, hành chính
Nhà nước, phát triển kinh tế, giáo dục, ngoại giao… Do đó, văn hoá thường tác
động tới con người một cách gián tiếp thông qua các khuôn mẫu xã hội. Đồng
thời, sự định hướng và tác động của văn hóa sẽ mạnh mẽ và đạt hiệu quả cao
hơn nếu Nhà nước tổ chức nghiên cứu tìm ra các hệ thống giá trị của dân tộc,
chính thức phát huy các bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển xã hội.
3. Khái niệm VHDN.
3.1. Khái niệm VHDN:
21 | P a g e
21
22
Luận văn tốt nghiệp
Trong một xã hội rộng lớn, mỗi Doanh nghiệp được coi là một xã hội thu
nhỏ. Xã hội lớn có nền văn hoá lớn, xã hội nhỏ (Doanh nghiệp) cũng cần xây
dựng cho mình một nền văn hoá riêng biệt. Nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng và
đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nền văn hoá lớn. Như Edgar Schein,
một nhà quản trị nổi tiếng người Mỹ đã nói: “ Văn hoá Doanh nghiệp gắn với
văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã
hội. Văn hoá Doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất,
vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người. Nói rộng ra nếu toàn
bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hoá Doanh nghiệp có trình
độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại
hiện nay”.
Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật
Bản, các công ty Mỹ chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công đó. Cụm
từ Corporate culture (Văn hoá Doanh nghiệp) đã được các chuyên gia nghiên
cứu về tổ chức và các nhà quản lý sử dụng để chỉ một trong những tác nhânchủ
23 | P a g e
23
24
Luận văn tốt nghiệp
được Doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh
doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của Doanh nghiệp đó”.
3.2. Các cấp độ VHDN:
Theo Edgar H. Schein, văn hoá Doanh nghiệp có thể chia thành ba cấp độ
khác nhau. Thuật ngữ “cấp độ” dùng để chỉ mức độ có thể cảm nhận được của
các giá trị văn hoá Doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu hình của các giá
trị văn hoá đó . Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi từ hiện tượng đến bản chất của
một nền văn hoá, giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ
phận cấu thành của nền văn hoá đó.
a. Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của Doanh nghiệp:
Bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn,
nghe và cảm thấy khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hoá xa lạ như:
- Kiến trúc, cách bài trí; công nghệ, sản phẩm.
- Cơ cấu tổ chức, các phòng ban của Doanh nghiệp.
- Các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của Doanh nghiệp.
- Lễ nghi và lễ hội hàng năm.
- Các biểu tượng, logo, khẩu hiệu, tài liệu quảng cáo của Doanh nghiệp.
- Ngôn ngữ, cách ăn mặc, xe cộ, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, hành vi ứng xử
thường thấy của các thành viên và các nhóm làm việc trong Doanh nghiệp.
- Những câu chuyện và những huyền thoại về tổ chức.
- Hình thức, mẫu mã của sản phẩm.
24 | P a g e
24
25
Luận văn tốt nghiệp
- Thái độ và cung cách ứng xử của các thành viên Doanh nghiệp.