Lời nói đầu
Sản xuất hàng hoá càng phát triển thì việc tiêu thụ và lu thông hàng hoá
ngày càng đợc quan tâm ở nớc ta, hoạt động trong cơ chế thị trờng có sự điều
tiết của nhà nớc, mỗi công ty phải tự chủ về tài chính, tự xây dựng phơng án
kinh doanh, tự tìm đầu vào, đầu ra và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
kinh doanh.
Dới tác động của các quy luật kinh tế thị trờng các công ty muốn tồn tại
phải sử dụng nguồn lực của mình một cách có hiệu quả nhất. Còn hiệu quả kinh
tế là mục tiêu hàng đầu, phải thực sự chú trọng đến hạch toán kinh tế. Điều đó
có nghĩa là các doanh nghiệp phải giải quyết bằng đợc vấn đề làm thế nào để có
lợi nhuận và không ngừng nâng cao lợi nhuận, trớc hết là để không bị phá sản
và sau đó là để tăng thu nhập, tăng quy mô kinh doanh, chiến thắng các đối thủ
cạnh tranh, nâng cao uy tín, thế lực của doanh nghiệp trên thị trờng.
Qua một thời gian thực tập, tìm hiểu về hoạt động kinh doanh tại Công ty
cổ phần Lam Sơn một đơn vị sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, cùng với việc
nghiên cứu lý luận, nhận thức đợc tầm quan trọng của lợi nhuận đối với sự tồn
tại và thành công của công ty, em đã mạnh dạn đi sau vào nghiên cứu về lợi
nhuận của công ty với chủ đề: "Thực trạng công tác quản lý lợi nhận và một
số biện pháp chủ yếu nhằm tăng lợi nhuận ở Công ty cổ phần Lam Sơn".
Mục đích nghiên cứu là nhằm hiểu rõ về lý luận và thực tiễn, sau đó tìm
biện pháp góp phần làm tăng lợi nhuận. Pham vi nghiên cứu là ở Công ty trong
hai năm gần đây.
Nội dung bài báo cáo ngoài phần mở đầu và kết luận gồm hai phần.
Phần I: Thực trạng công tác quản lý lợi nhuận và biện pháp tăng lợi nhuận
ở Công ty cổ phần Lam Sơn.
Phần II: Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao lợi nhuận ở Công ty cổ
phần Lam Sơn trong thời gian tới.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy, các cô giáo
Khoa Kinh tế - Pháp chế đặc biệt là cô giáo Nguyễn Kim Thanh cùng toàn thể
cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần Lam Sơn.
Do trình độ lý luận và thực tiễn có hạn nên không tránh khỏi những thiếu
Thực tế mấy năm trở lại đây cho thấy ngành sản xuất bao bì tại Việt Nam
còn kém phát triển trong đó thị trờng tiêu dùng bao bì phục vụ bao gói sản
phẩm ngày càng phát triển, mở rộng đòi hỏi chất lợng, mẫu mã đẹp. Đứng trớc
3
yêu cầu đó Công ty cổ phần Lam Sơn dới sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc
Nguyễn Đức Thịnh cùng một tập thể đọi ngũ công nhân viên trong công ty
đồng lòng, đồng sức cộng với có sự lựa chọn phơng án kinh doanh hợp lý đã tạo
một số khách hàng truyền thống trong nớc nh Công ty Tuấn Việt, Công ty Nam
Phong, và các đại lý lớn trong thành phố và các tỉnh, thành phố lân cận, đã sản
xuất và tiêu thụ đợc một số sản phẩm trên thị trờng. Có thể thấy kết quả hoạt
động của công ty trong vài năm gần đây.
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
1. Doanh thu thuần 20.035.000.000 20.923.000.000
2. Giá thành toàn bộ 19.920.800.000 20.787.000.000
3. Lợi nhuận sau thuế 80.287.600 96.192.800
4. Vốn sản xuất kinh doanh bình quân
- Vốn cố định 1.601.475.332 3.535.784.710
- Vốn lu động bình quân 6.103.076.154 6.052.694.131
II. Nhiệm vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ
phần Lam Sơn
2.1. Bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Lam Sơn
Công ty cổ phần Lam Sơn tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực
tuyến, chức năng gọn nhẹ, chuyên sâu.
Đứng đầu công ty là Hội đồng quản trị (HĐQT) với t cách là chủ sở hữu
của công ty. HĐQT có chức năng quản lý công ty và bảo vệ quyền lợi cho các
cổ đông.
Việc điều hành hoạt động của công ty do Ban giám đốc thực hiện, đứng
đầu là giám đốc Nguyễn Văn Thịnh với t cách là ngời quản lý các hoạt động
kinh doanh của công ty là ngời chịu trách nhiệm và có quyền quyết định mọi
vấn đề về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cũng nh mọi quyền lợi của
sản phẩm, chuẩn bị các yếu tố của công nghệ sản xuất nh vật t, năng lợng và lao
động).
+ Xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn chất lợng sản phẩm đăng ký.
+ Xây dựng các định mức vật t lao động theo dõi tình hình thực hiện định
mức, giám sát hoạt động sản xuất.
5
Giữa các phòng ban ở công ty có mối quan hệ mật thiết, tơng trợ lẫn
nhau, trởng phòng chịu trách nhiệm trớc hết và có quyền quyết định cao nhất về
mọi vấn đề thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của phòng mình. Các phòng có
quan hệ với nhau trên tinh thần bình đẳng công tác và tôn trọng lẫn nhau. Phối
hợp hoạt động cùng nhau nhằm thực hiện có chất lợng và hiệu quả về nhiệm vụ
của từng phòng.
Với bộ máy quản lý nh vậy giúp cho công ty có những định hớng phát
triển và đứng vững trên thị trờng. Trong công tác quản lý, cán bộ lãnh đạo công
ty đã không ngừng đổi mới phơng thức quản lý để tác động lên tập thể công
nhân sản xuất nhằm đạt đợc hiệu quả sản xuất cao nhất. Từ đó công ty với
những hình thức khen thởng đã khuyến khích động viên tinh thần lao động của
họ, phát huy tính năng động sáng tạo trong quá trình sản xuất.
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
6
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng Kỹ thuậtPhòng Tài vụ Phòng KD tổng hợp
Tổ sản xuất chínhTổ phục vụ sản xuất Tổ KCS đóng gói
III. Chức năng, nhiệm vụ của sản xuất và kinh doanh bao bì:
- Sản xuất sợi
- Sản xuất bao bì
- Kinh doanh bao bì theo các đơn đặt hàng.
IV. Đặc điểm quy trình công nghệ ở công ty
Trớc khi đi vào sản xuất cán bộ công nhân đã đợc đào tạo tay nghề theo
đúng chuyên môn
- Công ty nằm trên đờng quốc lộ, nên rất thuận lợi cho việc tổ chức mạng
lới tiêu thụ rộng khắp trong nớc và tơng lai cả nớc ngoài.
- Sản phẩm của công ty sản xuất ra đáp ứng nhu cầu và sự đồng tình ủng
hộ của khách hàng tren thị trờng Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định. Với số lợng
khá lớn và cũng đạt đợc lợi nhuận cao.
Có đợc nh vậy là do sự sáng suốt chịu khó tìm tòi học hỏi và tìm hiểu nhu
cầu của thị trờng của ban lãnh đạo, các phòng ban của công ty.
Mặt khác trong hoàn cảnh khó khăn, ban lãnh đạo cùng công nhân đã
đồng lòng, đồng sức vợt qua.
b) Khó khăn:
- Một số đội sản xuất thiếu chủ động trong công tác quản lý điều hành
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ từ đó nảy sinh t tởng ỷ lại vào công ty nh
vậy khó có thể đáp ứng đợc việc sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trờng sôi
động và khắc nghiệt hiện nay đặc biệt là công ty cổ phần Lam Sơn mới đợc
thành lập với thế đứng vẫn cha chắc chắn trên thị trờng.
Đặc biệt năm 2003 do thị trờng nguyên vật liệu chính có nhiều biến động
càng gây không ít khó khăn cho công ty.
VI. Thực trạng kinh doanh và lợi nhuận của Công ty cổ phần
Lam Sơn
1. Tổng quát kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh của Công
ty cổ phần Lam Sơn
Trong nền kinh tế thị trờng với nhiều thành phần và đa dạng hoá các loại
kinh doanh nh ở nớc ta hiện nay sự cạnh tranh gay gắt là không thể tránh khỏi.
8
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải đảm bảo hoạt động sản xuất
kinh doanh đạt hiệu quả. Để thực hiện đợc việc này Công ty cổ phần Lam Sơn
đã không ngừng phấn đấu. Sau 3 năm hoạt động bằng chính khả năng tiềm năng
của mình Công ty đã có chỗ đứng trên thị trờng. Qua bảng số liệu về nguồn vốn
Nhìn vào biểu trên ta thấy nguồn vốn kinh doanh của Công ty tăng 30,7%
trong đó cụ thể là vốn chủ sở hữu năm 2003 so với năm 2002 tăng 48.901.414
đồng tơng ứng với 2,9%, con số này cho chúng ta thấy công ty hoạt động có
hiệu quả hơn. Vốn vay của năm 2003 so với năm 2002 tăng 37,6% tơng ứng với
số tiền 2.500.270.068 đồng, tức là trong năm 2003 số vốn vay của công ty tăng
rất nhanh. Bên cạnh đó nếu xét về tỉ trọng trong tổng nguồn vốn thì vốn chủ sở
hữu năm 2002 chiếm 19,99% thì đến năm 2003 đã giảm xuống còn 15,74, ngợc
lại vốn vay năm 2002 chiếm 80,01% đến năm 2003 đã tăng lên 84,25. Tình
hình đó, một mặt làm cho quy mô kinh doanh đợc mở rọng, số tài sản của công
ty tăng lên, nhất là tài sản cố định tăng nhanh, nhng mặt khác cũng dẫn tới tình
trạng phải trả lãi vay cho số vốn vay cũng tăng lên theo làm ảnh hởng tới lợi
9
nhuận. Đặc biệt năm 2002 số vay dài hạn của công ty là 0, nhng đến năm 2003
con số lên tới 818.000.000đồng.
Nhìn vào phần vốn kinh doanh ta cũng có thể lý giải đợc việc tăng vốn
vay dài hạn là để đầu t vào TSCĐ. Tỷ trọng TSCĐ trong tài sản đã tăng từ
26,22% năm 2002 lên 45,03% năm 2003. Điều đó là hợp lý, tuy nhiên ta cũng
thấy rằng Công ty đã sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu t vào tài sản cố định. Đó
là điều cha hợp lý, nếu ta so sánh vốn chủ sở hữu (giả thiết toàn bọ đầu t vào
TSCĐ) và vốn vay dài hạn 1.711.056.055 + 818.000.000 = 2.529.056.055 đồng
so sánh với giá trị tài sản cố định của công ty hiện có sẽ thấy rằng Công ty đã
dùng tới 4.891.449.896 - 2.529.056.055 = 2.362.393.841 đồng vốn vay ngắn
hạn để đầu t TSCĐ và do đó toàn bộ TSCĐ là vốn vay ngân hàng. Hoạt động
của doanh nghiệp chủ yếu dựa vào chiếm dụng vốn. Đây là một sự rủi ro tiềm
ẩn trong doanh nghiệp. Vốn cố định năm 2003 tăng 124,4% so với năm 2002
đây là con số quá lớn trong khi đó vốn lu động giảm 2,6% so với năm 2002.
Biểu số 2: Kết quả sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
So sánh
Số tiền %