Một số biện pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Thăng Long - Pdf 22

Website: Email : Tel : 0918.775.368

Lời cảm ơn
Nhờ sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.NGUYễN CảNH HOAN cùng sự
giúp đỡ của các cô, các chú trong các phòng ban của Công ty cổ phần Thăng Long,
đặc biệt là Phòng Thị Trờng II để em hoàn thành chuyên đề này.
Trong thời gian tìm hiểu và thực tập tại Công ty cổ phần Thăng Long, dù
với nỗ lực và cố gắng hết mình song thời gian và khuôn khổ đề tài có hạn,
kinh nghiệm về thực tế cha nhiều mà chỉ là những kiến thức nghiên cứu lý luận
trên sách vở nên chuyên đề này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót
nhất định. Vì vậy, em kính mong thầy giáo cùng các cô chú trong Phòng Thị
Trờng II của Công ty xem xét và góp ý để chuyên đề này đợc hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.NGUYễN CảNH HOAN cùng các
chú, các anh trong Phòng Thị Trờng II.
1

Website: Email : Tel : 0918.775.368
lời mở đầu
Trên thế giới ngày nay, khi kinh doanh trở thành một ngành nghề và một lĩnh vực
mà nhiều ngời quan tâm thì cạnh tranh trở thành một lẽ tất yếu xảy ra. Bất kỳ một
doanh nghiệp nàohoạt động trong nền kinh tế thị trờng cũng phải hiểu rằng : "Thơng
trờng là chiến trờng". ở đó, tuy không có súng đạn, bom mìn nhng các tình huống
cạnh tranh diễn ra rất gay go, khốc liệt, một mất một còn. Ai đi đúng quy luật thị tr-
ờng và "chớp" đúng thời cơ, cơ hội kinh doanh thì sẽ là ngời thắng cuộc. Còn ngợc
lại, nếu vận dụng sai quy luật hoặc bất chấp quy luật thì sẽ là kẻ bại trận. Vì vậy,
muốn thành công trong kinh doanh thì bắt buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh,
bởi cạnh tranh quyết định vấn đề sống còn đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh
của các doanh nghiệp ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.
Cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới, nớc ta đã chuyển đổi từ nền
kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà Nớc đã
tạ điều kiện cho sự xuất hiện của hàng loạt các doanh nghiệp mới và kéo theo sự sôi

em kính mong đợc sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô, các cô chú của Công ty cổ phần
Thăng Long cùng tất cả bạn đọc.
chơng i
những vấn đề cơ bản về cạnh tranh của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trờng
3

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng bao gồm các mảng cạnh tranh khác nhau
đợc xem xét từ nhiều giác độ khác nhau. ở đây, ta chỉ xem xét những vấn đề cơ bản
về cạnh tranh của các doanh nghiệp dới giác độ kinh tế học.
I- Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng
1. Nhận thức cơ bản về thị trờng
Có rất nhiều khái niệm về thị trờng, sau đây chỉ là một số khái niệm phổ biến :
- Thị trờng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hoá đợc biểu hiện bằng các hoạt
động mua bán, trao đổi diễn ra trong phạm vi không gian và thời gian nhất định. Theo
nghĩa rộng, thị trờng chính là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá,
nơi gặp gỡ của cung và cầu. Thị trờng hình thành do yêu cầu của việc trao đổi một
thứ hàng hoá dịch vụ nào đó hoặc một đối tợng có giá trị. Đó có thể là thị trờng lúa
gạo, thị trờng sức lao động hoặc thị trờng tiền tệ Bản chất của thị tr ờng chính là
hoạt động trao đổi mà thông qua đó ngời mua và ngời bán thoả mãn nhu cầu của
chính mình.
- Thị trờng cũng là sự kết hợp giữa cung cầu, trong đó những ngời mua và ngời bán
bình đẳng, cùng cạnh tranh. Số lợng ngời mua và ngời bán nhiều hay ít phản ánh quy
mô của thị trờng lớn hay nhỏ. Việc xác định nên mua hay nên bán hàng hoá dịch vụ
với khối lợng và giá cả bao nhiêu do cung và cầu quyết định. Từ đó ta thấy rằng thị
trờng còn là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu : sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá.
Đối với các doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh của họ luôn gắn với một
thị trờng hàng hoá dịch vụ cụ thể. Đó chính là nơi đảm bảo cung ứng các yếu tố "đầu

phù hợp giữa chất lợng sản phẩm , giá bán và khả năng tanh toán của khách hàng. Về
mặt giá trị sử dụng, thị trờng thừa nhận những lợi ích do sản phẩm mang lại và nó
phản ánh ở thị hiếu, tập quán và tâm lý tiêu dùng.
Hai là - Chức năng điều tiết và kích thích
Thị trờng thực hiện chức năng điều tiết và kích thích thông qua các quy luật kinh
tế. Quá trình điều tiết này diễn ra cả ở hai thái cực điều tiết sản xuất và điều tiết iêu
dùng. Với sản xuất, thị trờng tự phát điều tiết việc di chuyển vốn và lao đống sang
các ngành sản xuất có nhu cầu xã hội lớn và lợi nhuận cao; đông thời có thể khuyến
khích hoặc hạn chế sự phát triển của một ngành hàng nào đó. Từ đó tạo ra sự cân đối
cung - cầu về một loại hàng hoá, thay đổi cơ cấu sản xuất của các ngành, các vùng
lãnh thổ. Với tiêu dùng, thị trờng làm thay đổi mặt hàng tiêu dùng cũng nh cơ cấu
dân c từ đó họ sẽ cân nhắc, tính toán để gia tăng lợi ích của mìnhvà sử dụng tiết kiệm,
có hiệu quả các nguồn lực xã hội.
Ba là - Chức năng thông tin
Thị trờng là nơi chứa đựng các thông tin cần thiết cho cả nhà kinh doanh và ngời
tiêu dùng. Đối với nhà kinh doanh, thị trờng giúp họ nắm bắt các thông tin cần thiết
nh : số lợng và cơ cấu của cung cầu hàng hoá, những đặc điểm về nhu cầu tiêu dùng
của dân c, khả năng thanh toán của khách hàng, giá cả thị trờng,tình hình cạnh tranh
thị trờng, môi trờng chính trị, pháp luật có ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh từ
đó giúp nhà kinh doanh có thể tận dụng cơ hội và tránh đợc rủi ro kinh doanh. Đối
với ngời tiêu dùng, thị trờng cung cấp các thông tin về hàng hoá dịch vụ, về giá cả, về
các dịch vụ của nhà kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trờng có rất nhiều quy luật hoạt động đan xen và có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Sau đây là các quy luật kinh tế của thị trờng :
5

Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Quy luật giá trị : quy định hàng hoá đợc sản xuất ra và trao đổi trên cơ sở hao phí
lao động xã hội cần thiết, tức chi phí bình quân trong xã hội.
- Quy luật cung - cầu : Nêu lên mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năng cung ứng

đợc đem lại hay nói cách khác là họ muốn mua đợc những hàng hoá có chất lợng cao,
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng mà giá lại rẻ. Ngợc lại, bên bán bao giờ cũng hớng tới tố
đa hoá lợi nhuận bằng cách bán đợc thật nhiều hàng với giá cao. Nh vậy, các bên
cạnh tranh nhau để giành phần lợi về mình.
6

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nói đến cạnh tranh không thể không nói đến các nhân tố cấu thành cạnh tranh.
Sự cạnh tranh chỉ có thể xảy ra khi có đủ 3 yếu tố sau :
- Các chủ thể kinh tế tham gia cạnh tranh, tức là những ngời có cung, có cầu về
hàng hoá, dịch vụ (bên mua và bên bán)
- Đối tợng để thực hiện cạnh tranh, tức là các loại hàng hoá và dịch vụ.
- Môi trờng cho việc cạnh tranh, tức là thị trờng cạnh tranh.
Cạnh tranh có thể đợc phân loại theo nhiều cách khác nhau, ngời ta phân loại dựa
vào các căn cứ sau :
a. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trờng, ngời ta chia ra:
- Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo
- Thị trờng cạnh tranh độc quyền
- Thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo :
Là thị trờng bao gồm rất nhiều ngời mua, ngời bán song không ai có u thế trong
việc cung ứng hay mua sản phẩm để có thể làm thay đổi đợc giá trên thị trờng. Các
sản phẩm bán ra trên thị trờng này đợc xem nh là đồng nhất, tức chúng khác nhau
không nhiều về quy cách, phẩm chất, mẫu mã ( VD nh : lúa mì, chứng khoán có
giá). Ngời bán cung ứng sản phẩm ra thị trờng với những điều kiện tơng đối giống
nhau kể cả về phơng thức bán hàng, giao dịch, giao hàng và dịch vụ hàng hoá Các
tin tức về thị trờng, giá cả, cả ngời mua và ngời bán đều nắm rõ. Điều kiện tham gia
cũng nh rút lui khỏi thị trờng là dễ dàng.
Thị trờng cạnh tranh độc quyền tuyệt đối
Thị trờng cạnh tranh độc quyền tuyệt đối là một thái cực khác hẳn với thị trờng

b. Căn cứ vào các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trờng, ngời ta chia ra :
- Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua
- Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau
Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua :
Là cuộc cạnh tranh diễn ra trên cơ sở quy luật mua rẻ - bán đắt. Ngời mua luôn
muốn mua đợc rẻ, ngời bán có tham vọng bán đắt. Sự cạnh tranh này đợc thực hiện trong
quá trình "mặc cả" và giá cả đợc hình thành để việc mua bán đợc thực hiện.
Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau :
Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một loạt hàng hoá hay dịch
vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh trở nên gay
gắt và giá hàng hoá, dịch vụ đó sẽ ngày càng tăng. Kết quả cuối cùng là ngời bán thu
lợi nhuận cao, còn ngời mua thì phải mất thêm một số tiền. Đây là cuộc cạnh tranh
mà những ngời mua tự làm hại chính mình.
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau :
Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau chủ yếu là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh trên chính vũ đài thị trờng, đồng thời cũng là cuộc
cạnh tranh khốc liệt nhất có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp.
Vì vậy, phần dới đây xin đợc đề cập đến những vấn đề về loại hình cạnh tranh
này.
8

Website: Email : Tel : 0918.775.368
II- Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1- Nhận thức cơ bản về doanh nghiệp
Khái niệm về doanh nghiệp có thể đợc xem xét trên một số các góc độ khác nhau :
Hiểu một cách chung nhất, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế tập thể, một tập
hợp ngời và vốn có nhiệm vụ sản xuất và lu thông hàng hoá hoặc cung ứng hàng hoá,
dịch vụ cho xã hội.
Trên khía cạnh pháp luật thì doanh nghiệp là một tổ chức đợc thành lập đúng luật,

nhằm giành đợc những điều kiện có lợi nhất đồng thời thúc đẩy phát triển sản xuất
kinh doanh.
Hay theo ý chung nhất, cạnh tranh của các doanh nghiệp đợc hiểu là sự ganh đua
giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật khách hàng hoặc thị trờng mà kết quả
cuối cùng là để tiêu thụ đợc ngày càng nhiều hàng hoá với lợi nhuận cao.
Xét theo phạm vi ngành kinh tế thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đợc chia
thành 2 loại :
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác ngành (Cạnh tranh giữa các ngành với nhau).
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng ngành (Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong nội bộ ngành).
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác ngành
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm
giành lấy lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này, các doanh nghiệp luôn say mê với
những ngành đầu t có lợi nhất nên đã có xu hớng chuyển vốn từ ngành có ít lợi nhuận
sang ngành đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Sự điều chuyển vốn theo tiếng gọi của lợi
nhuận này sau một thời gian nhất định, vô hình chung hình thành nên sự phân phối
vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rrồi kết quả cuối cùng là các doanh nghiệp
đầu t ở cac ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu đợc lợi nhuận bình quân.
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành
Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng
hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp luôn tính lẫn
nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi của mình trên thị trờng ,
còn những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí bị phá sản.
Vậy vai trò của cạnh tranh có ảnh hởng nh thế nào tới các doanh nghiệp ?
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trớc đây, hầu nh không tồn tại phạm trù cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất cái gì ? sản xuất nh thế nào ? với
số lợng bao nhiêu ? và sản xuất cho ai ? hoàn toàn do Nhà Nớc quy định. Sản phẩm
do doanh nghiệp sản xuất ra vẫn mang đúng nghĩa của nó, tức là vẫn bán ra thị trờng
nhng các doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà khách hàng phải tự
tìm đến doanh nghiệp. Vì lẽ đó mà dẫn tới tình trạng mua nh "cớp", bán nh "cho".

bộ khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá nền sản xuất xã hội.
- Cạnh tranh góp phần xoá bỏ những bất hợp lý và bất bình đẳng trong kinh doanh.
- Cạnh tranh còn là điều kiện phát huy tính tháo vát, năng động và óc sáng tạo của
các nhà doanh nghiệp, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi, chân chính.
- Cạnh tranh góp phần gợi mở nhu cầu thông qua việc thiết kế, chế tạo ra nhiều loại
sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát
triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lợng đời sống xã hội
và phát triển nền văn minh nhân loại.
Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận những mặt tiêu cực của cạnh tranh:
+ Cạnh tranh tạo ra sự phân hoá giàu nghèo.
+ Cạnh tranh không lành mạnh dẫn tới những hậu quả tiêu cực nh : hàng giả, hàng
nhái, hàng nhập lậu gây rối loạn thị trờng, làm thiệt hại cho ngời tiêu dùng và làm
ảnh hởng đến những doanh nghiệp làm ăn chính đáng.
+ Cạnh tranh có thể dẫn tới xu thế độc quyền.
11

Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Cạnh tranh cuốn hút các doanh nghiệp đi theo tiếng gọi của lợi nhuận mà không
giành chi phí cho xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trờng cũng nh các vấn đề xã hội
khác.
Vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy vai trò tích cực và hạn chế các tiêu
cực của cạnh tranh. Để giải quyết vấn đề này, vai trò của Nhà Nớc là vô cùng quan
trọng. Nhng trớc sự cạnh tranh gay gắt ấy đã dẫn tới một tất yếu là bất kỳ doanh
nghiệp nào dù là lớn hay nhỏ đều phải có mục tiêu để giành đợc lợi thế cạnh tranh
trên thị trờng.
Mục tiêu cơ bản nhất, bao trùm nhất của doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh bao
giờ cũng là lợi nhuận. Tất cả các mục tiêu cạnh tranh cụ thể của doanh nghiệp đều h-
ớng tới ttối đa hoá lợi nhuận. Tuỳ theo từng điều kiện sản xuất kinh doanh và khả
năng của mỗi doanh nghiệp mà có các mục tiêu cạnh tranh cụ thể khác nhau :
- Tăng thị phần hoặc tăng doanh thu.

mã và tính hữu dụng. Trớc đây chúng ta thờng xem nhẹ các yếu tố hình thức này. Nh-
ng ngày nay, trong sự cạnh tranh khốc liệt của vô số các loại hàng hoá thì các yếu tố
này trở nên vô cùng quan trọng vav có thể coi là một bộ phậncông cụ cạnh tranh
không kém phần lợi hại. Cụ thể là khách hàng khi quyết định mua hàng thờng bắt đầu
bằng tâm lý theo tri giác. Nếu khách hàng đã quen dùng một loại sản phẩm với nhãn
hiệu và bao bì nào đó rồi thì các lần sau sẽ tiếp tục mua loại đó. Nếu mẫu mã của sản
phẩm đẹp, mang tính độc đáo mới lạ thì càng làm tăng sức cuốn hút của khách hàng.
Hơn nữa, tính hữu dụng của sản phẩm đạt đến mức độ nào? Khách hàng luôn thích
những sản phẩm có tính hữu dụng cao, tức là phải thuận tiện và đa năng trong sử
dụng thì khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp càng tăng lên bấy
nhiêu.
Xem xét công cụ cạnh tranh là số lợng sản phẩm
Bên cạnh chất lợng và giá cả thì số lợng sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng ra
thị trờng cũng trở thành công cụ cạnh tranh vì nó cũng biêủ hiện sự thoả mãn nhu cầu
khách hàng về số lợng. Một doanh nghiệp biết sử dụng số lợng sản phẩm làm công cụ
cạnh tranh khi doanh nghiệp đó cung ứng ra thị trờng một lợng sản phẩn tơng ứng với
số lợng mà thị trờng có nhu cầu (với mức chất lợng và giá cả đã đợc thị trờng chấp
nhận). Tức doanh nghiệp phải dự báo đợc mức cầu về sản phẩm để có kế hoạch sản
xuất hợp lý đáp ứng nhu cầu sao cho không bị bỏ lỡ thị trờng khi cầu tăng hoặc ế thừa
sản phẩm khi cầu về sản phẩm suy giảm.
b. Công cụ cạnh tranh là giá cả sản phẩm
Giá cả sản phẩm đợc hiểu theo một ý nghĩa chung nhất, đó là : lợi ích kinh tế đợc
xác định bằng tiền. Giá cả là biến số trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế.
Đối với ngời mua, giá hàng hoá luôn đợc coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần
"đợc" và chi phí bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá. Vì vậy, giá cả luôn giữ vai trò
quyết định.
Giá cả đợc sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện qua các chính sách giá bán
mà doanh nghiệp áp dụng đối với thị trờng và có sự kết hợp với một số điều kiện
khác. Chính sách bán sản phẩm của doanh nghiệp là ý đồ, là chủ trơng của doanh
nghiệp trong việc dự kiến về hệ thống giá cả trong tơng lai sẽ đợc thị trờng chấp

uy tín của sản phẩm trên thị trờng. Việc bán phá giá chỉ nên thực hiện trong một thời
gian nhất định và chỉ có thể loại bỏ một số đôí thủ nhỏ có khó khăn về tài chính và
các nguồn lực khác, chứ khó mà có thể đánh bại đợc những đối thủ lớn. Tuy nhiên
doanh nghiệp không nên bán phá giá với mục đích tiêu diệt đối thủ canh tranh .Có thể
hôm nay doanh nghiệp tiêu diệt đợc đối thủ của mình nhng không phải là vĩnh cửu.
Vì rất có thể một ngày mai, doanh nghiệp lại bị đối thủ khác tiêu diệt và cũng chính
bằng chính sách phá giá mà doanh nghiệp đã sử dụng.
c. Công cụ cạnh tranh là mạng lới tiêu thụ sản phẩm
Mạng lới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là tập hợp các kênh đa sảnphẩm từ
nơi sản xuất của doanh nghiệp đến nơi tiêu thụ.
Kênh tiêu thụ của doanh nghiệp đợc hiểu là một tập hợp các tổ chức, các Công ty
hay cá nhân tự đảm nhận hay giúp đỡ doanh nghiệp chuyển giao quyền sở hữu đối
với một hàng hoá cụ thể (hay dịch vụ) trên con đờng từ nơi sản xuất của doanh
nghiệp đến ngời tiêu dùng.
14

(a)
Nhà
sản
xuất
(dn)
Bán lẻ
Bán lẻ
Bán lẻ
Bán buôn
Bán buôn
Đại lý
người
tiêu
dùng

15

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do vậy kênh tiêu thụ trực tiếp ngắn chỉ phù hợp với các doanh nghiệp công nghiệp
có quy mô nhỏ và hoạt động trên một thị trờng hẹp.
Ba hình thức kênh còn lại là những kênh gián tiếp bởi vì các trung gian nằm giữa
nhà sản xuất và ngời tiêu dùng và thực hiện nhiều chức năng của kênh.
(b) - Kênh tiêu thụ một cấp
Kênh tiêu thụ một cấp là kênh có thêm ngời bán lẻ thờng đợc sử dụng khi ngời bán
lẻ có quy mô lớn, có thể mua số lợng lớn từ nhà sản xuất hoặc chi phí lu kho là quá
đắt nếu phải sử dụng ngời bán buôn Kênh tiêu thụ một cấp thờng đợc sử dụng cho các
trờng hợp sau:
- Loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ
thuật đặc biệt, chuyên dùng vì thế cho phép họ sử dụng u thế đó để tự đảm nhận trách
nhiệm bán buôn chẳng hạn nh các doanh nghiệp gia công chế biến các mặt hàng thực
phẩm
- Những doanh nghiệp công nghệ sản xuất chuyên môn hoá nhng quy mô nhỏ,
khả năng tài chính hạn chế.
(c) - Kênh tiêu thụ hai cấp
Kênh tiêu thụ hai cấp là kênh mà trong đó có thêm ngời bán buôn. Kênh tiêu thụ hai
cấp thờng đợc sử dụng phổ biến cho các sản phẩm hàng hoá có giá trị đơn vị thấp, chi phí
thấp đợc mua thuờng xuyên bởi ngời tiêu dùng nh bánh kẹo, thuốc lá, tạp chí... Nhìn
chung các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn, lợng hàng hoá sản xuất ra vợt quá nhu cầu
tiêu dùng tại nơi sản xuất thờng phải áp dụng kênh này.
(d) - Kênh tiêu thụ dài nhất
Kênh tiêu thụ dài nhất hay còn gọi là kênh tiêu thụ 3 cấp là kênh đợc sử dụng khi
có nhiều ngời sản xuất nhỏ và có nhiều ngời bán lẻ nhỏ, một đại lý đợc sử dụng để trợ
giúp phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lợng lớn.
Với một hệ thống kênh tiêu thụ nh vậy nhng có doanh nghiệp chỉ chọn các kênh
này mà không chọn kênh các kênh kia. Hay có doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm tại

một số t liệu liên quan nh : hớng dẫn sử dụng các sách kỹ thuậy chuyên môn,sơ đồ
cấu tạo, cuốn catalô hay mở các lớp bồi d ỡng ngắn hạn về cách sử dụng, sửa chữa
và bảo quản sản phẩm hoặc cử chuyên gia trực tiếp đến với khách hàng hớng dẫn
cách sử dụng sản phẩm của mình để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra
do khách hàng ít có hiểu biết về sản phẩm.
+ Hoạt động bảo hành sản phẩm nhằm góp phần tạo tâm lý yên tâm và tin cậy cho
khách hàng khi mua sản phẩm của doanh nghiệp.
+Hoạt động cung cấp phụ tùng thay thế, sửa chữa thể hiện trách nhiệm của doanh
nghiệp đối với sản phẩm của mình.
III- Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
1- Quan niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Nói đến một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp đó phải có
thực lực tức là phải có tiềm năng tài chính vững mạnh, có công nghệ hiện đại, có đội
ngũ lao động năng động, để có thể huy động vào phục vụ cạnh tranh. Vì vậy có thể
nêu khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nh sau :
Khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp là lợi thế của doanh nghiệp so với các đối
thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn đến mức cao nhất các đòi hỏi của thị trờng.
17

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các yếu tố đợc xem là lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ có thể là chất l-
ợng sản phẩm, giá cả, mạng lới tiêu thụ, tiềm lực tài chính, trình độ và năng lực công
nghệ, đội ngũ lao động Nh ng trong số các yếu tố này chỉ có các yếu tố là chất lợng
sản phẩm, giá cả, mạng lới tiêu thụ, mới gián tiếp đáp ứng các đòi hỏi của khách
hàng. Bởi vậy, đây cũng là các yếu tố trực tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Còn các yếu tố nh tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ, đội ngũ lao động
chỉ là yếu tố tiềm năng tấc động đến các yếu tố chất lợng sản phẩm, giá cả, mạng lới
tiêu thụ, tức tác động đến các yếu tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Vậy các yếu tố cơ bản trực tiếp tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao
gồm :

Tác động nhỏ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Liệu doanh nghiệp có
dám bán sản phẩm với mức bán sản phẩm với mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh
trong một thời gian nào đó không còn là tuỳ thuộc phần lớn vào quy mô tài chính của
doanh nghiệp.
Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ cho phép doanh nghiệp có vốn cho sản
xuất kinh doanh, có vốn cho đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị. Tình hình sử dụng
vốn sẽ quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh.
Năm là - Quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Đây là nhân tố góp phần đáng kể đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp lớn sẽ có lợi thế hơn so với các doanh nghiệp nhỏ bởi vì doanh
nghiệp có quy mô vừa và năng lực sản xuất lớn sẽ tạo ra sản phẩm với khối lợng lớn,
nhờ đó mà hạ đợc giá thành sản phẩm, dợc ngời tiêu dùng a chuộng cho phép doanh
nghiệp chiếm lĩnh hoặc giữ vững thị trờng trên nhiều khu vực khác nhau, tránh sự
xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh.
Doanh nghiệp có quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn và
do đó dễ dàng tìm kiếm nguyên vật liệu cũng nh các yếu tố đầu vaò khác, dễ cải tiến
kỹ thuật, mẫu mã và hiểu rõ các bí quyết về marketing. Đây là một thuận lợi cho
doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiếp xúc với khách hàng hơn, nắm bắt và thoả mãn
nhu cầu khách hàng thì uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng lên.
Sáu là - Tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất gắn liền với việc tạo ra sản phẩm. Tổ chức sản xuất có khoa học,
hợp lý sẽ tạo ra sản phẩm có chất lợng cao và giá thành thấp, cung cấp sản phẩm kịp thời
ra thị trờng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bảy là - Hoạt động marketing của doanh ngiệp
Trong nền kinh tế thị trờng với sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi mỗi doanh nghiệp
không thể không có hoạt động marketing. Vì nhờ bộ phận này mà có thể phân tích
các nhu cầu , sở thích, thị hiếu của thị trờng và phân tích khả năng cạnh tranh của các
đối thủ. Trên cơ sở đó doanh nghiệp hoạch định các chiến lợc về sản phẩm, giá cả,
phân phối, giao tiếp và khuyếch trơng phù hợp đòi hỏi của thị trờng. Cho phép doanh
nghiệp tạo ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu ngời tiêu dùng với những mức gía

b - Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Một là - Các đối thủ cạnh tranh hiện có và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh hiện có đặc biệt là số các doanh nghiệp có quy mô lớn có
tác động quyết định tới mức độ gay gắt của cạnh tranh hiện tại trong ngành hàng. Bởi
vậy, nếu muốn tồn tại và đứng vững trên thị trờng thì khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp đòi hỏi phải không ngừng tăng lên để theo kịp hoặc vợt lên trên khả năng cạnh
tranh của các đối thủ khác.
Các đối thủ tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành trong tơng lai với ý muốn
chiếm giữ thị phần. Do đó đây cũng là một yếu tố tác động đến khả nang cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Hai là - Thị hiếu ngời tiêu dùng
20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đó là sự lựa chọn giữa hàng nội và hàng ngoại của ngời tiêu dùng cũng sẽ ảnh hởng
tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì bất cứ ngời tiêu dùng nào đều có chung ý
tởng khi đi mua hàng thì phải là hàng có chất lợng cao, giá cả hợp lý, mới lạ, hấp dẫn,
thuận tiện và đa năng. Đây chính là thách thức lớn đối với khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trong việc thoả mãn các thị hiếu của ngời tiêu dùng.
Ba là - Thu nhập của dân c
Là nhân tố có ảnh hởng quyết định đến khả nang thanh toán. Những ngời tiêu dùng
có thu nhập thấp chỉ có thể mua đợc hàng hoá có mức giá thấp với một chất lợng tơng
đối đủ để sử dụng trong một thời gian nhất định. Khi mà đại đa số mức thu nhập của
ngời dân còn thấp, nếu doanh nghiệp đa ra thị trờng những sản phẩm có mức giá bán
cao thì sẽ khó có thể cạnh tranh đợc với các sản phẩm khác cùng loại coa mức giá
thấp hơn.
Bốn là - Các sản phẩm thay thế
Sự gia tăng của sản phẩm thay thế sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh và thu hẹp quy
mô thị trờng của sản phẩm ở trong ngành hiện tại đồng thời làm hạn chế tiềm năng
lợi nhuận của ngành.

đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ mất dần khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trờng.
Tám là - Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà Nớc
Đây cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
thông qua các chính sách và luật pháp, các quan hệ kinh tế đối ngoại
+ Các chính sách nh : chính sách miễn giảm thuế đối với các mặt hàng nội địa
+ Các điều luật nh luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
những doanh nghiệp nào có khả năng tham gia liên doanh, liên kết.
+ Các quan hệ kinh tế đối ngoại của Nhà Nớc sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam hội nhập môi trờng quốc tế và tham gia một cách có hiệu quả vào
phân công lao động quốc tế. Đây là cơ hội cũng nh thách thức đối với khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khi Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của ASEAN và khu vực thơng mại tự do AFTA. Khi đó, hàng rào thuế
quan giữa các nớc thành viên sẽ bị bãi bỏ và các yếu tố nh : lao động, nguyên vật
liệu, tiền vốn và hàng hoá sẽ chuyển dịch tự do giữa các thành viên. Đây cũng là
thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam.
Chơng ii
Thực trạng hoạt động cạnh tranh
của Công ty cổ phần Thăng Long hiện nay

I- Khái quát chung về Công ty cổ phần Thăng Long
22

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tên doanh nghiệp : Công ty cổ phần Thăng Long
Tên quan hệ quốc tế : Thang Long Joint - Stock Company
Tên cơ quan chủ quản : Sở Thơng mại Thành phố Hà Nội
Trụ sở giao dịch : 181 Lạc Long Quân, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại : (84 - 4) 7534862 Fax: (84 - 4) 8631898
Địa chỉ E-mail :

nhân dân Thành phố Hà Nội.
23

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tiền thân của xí nghiệp là Xởng sản xuất rợu và nớc giải khát lên men trực thuộc
Công ty rợu bia Hà Nội. Sản phẩm truyền thống của xởng là rợu pha chế các loại.
Đến những năm 80 xởng mới đợc đầu t trang thiết bị và công nghệ sản xuất rợu vang.
Khi mới thành lập, Xí nghiệp chỉ là một đơn vị sản xuất nhỏ với 50 công nhân, cơ
sở vật chất nghèo nàn, sản xuất hoàn toàn thủ công. Vợt qua những khó khăn ban đầu
của những ngày đầu thành lập, sản lợng sản xuất của Xí nghiệp không ngừng đợc
nâng lên từ 106.000 lít (năm 1989) lên 530.000 lít (năm 1993). Diện tích nhà xởng,
kho bãi không ngừng đợc nâng cấp và mở rộng. Đời sống của cán bộ công nhân viên
đợc cải thiện. Sản phẩm mang nhãn hiệu Vang Thăng Long đã dần tìm đợc chỗ đứng
trên thị trờng.
Giai đoạn 1994-2001: Bán cơ giới hoá và cơ giới hoá
Đây là giai đoạn phát triển vợt bậc về năng lực sản xuất, chất lợng sản phẩm và thị
trờng tiêu thụ của Công ty. Lúc này Xí nghiệp Rợu - nớc giải khát Thăng Long đợc
đổi thành Công ty Rợu - nớc giải khát Thăng Long theo quyết định số 3021/QĐUB
ngày 16/08/1993 của UBND Thành phố Hà Nội. Trong giai đoạn này, Công ty đã tích
cực đầu t đổi mới thiết bị công nghệ, triển khai và áp dụng thành công mã số mã vạch
cùng hệ thống quản lý chất lợng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002 và hệ thống phân
tích xác định và kiểm soát các điểm nguy hại trọng yếu trong quá trình sản xuất
(HACCP). Công ty đã đầu t gần 11 tỉ đồng cho thiết bị, nhà xởng, môi trờng, văn
phòng và các công trình phúc lợi Đặc biệt từ năm 1997, Công ty đã đầu t thiết bị
nhằm cơ giới hoá và tự động hoá quá trình sản xuất để chuẩn bị tốt hơn cho hội nhập
thị trờng khu vực và quốc tế. Chính vì vậy, sản lợng và chất lợng sản phẩm sản xuất
ra không ngừng tăng. Sản lợng vang của Công ty tăng từ 1,6 triệu lít (năm 1994) lên
5,5 triệu lít (năm 2002).
Nhờ sự đầu t và đổi mới đó, thị trờng Công ty không ngừng đợc mở rộng. Công
ty không những làm chủ thị trờng trong nớc mà còn từng bớc xâm nhập thị trờng nớc

trởng
- Chủ tịch Hội đồng quản trị: là ngời lập chơng trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng
quản trị, theo dõi quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị.
- Giám đốc điều hành: là ngời trực tiếp điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty.
- Phó giám đốc điều hành : là ngời giúp Giám đốc quản lý các nhiệm vụ sản xuất.
- Phòng tổ chức : chức năng chính là thực hiện quản lý nhân sự, đảm bảo nguồn lao
động của Công ty hợp lý, tuyển lao động mới, lập kế hoạch tiền lơng công nhân
- Phòng hành chính : thực hiện quản lý hành chính; quản lý hồ sơ, văn th lu trữ và các
thiết bị văn phòng, nhà khách và tổ chức công tác thi đua tuyên truyền.
- Phòng kế toán : chịu trách nhiệm về vấn đề sổ sách tài chính của Công ty; thực hiện
nhiệm vụ lập kế hoạch tài chính, tính toán chi phí, thu hồi công nợ, hạch toán lãi,
thanh toán lơng cho công nhân, thanh toán tiền hàng cho khách hàng đảm bảo cho
hoạt động tài chính của Công ty đợc lành mạnh và thông suốt.
- Phòng cung tiêu : làm nhiệm vụ nghiên cứu, tiếp cận và phân tích các nguồn nguyên
vật liệu đầu vào, đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ cả về số lợng và chất lợng cho
quá trình sản xuất đồng thời tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm.
- Phòng nghiên cứu - đầu t phát triển : hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất đồng
thời nghiên cứu sản phẩm mới.
- Phòng thị trờng : nghiên cứu phát triển, mở rộng thị trờng, phát hiện sản phẩm mới
phù hợp với nhu cầu ngời tiêu dùng và thực hiện công tác tiêu thụ sản phẩm.
25

Trích đoạn Những thành tựu đạt đợc Tiếp tục đầu t cải tiến và đổi mới công nghệ Sắp xếp lại và hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đào tạo bồi dỡng nguồn nhân lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status