Lý luận chung về bảo hiểm xã hội và
công tác thu bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Lý luận chung về bảo hiểm xã hội và
công tác thu bảo hiểm xã hội
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Phiên bản trực tuyến:
/>MỤC LỤC
1. Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm xã hội
2. Bản chất và chức năng của bảo hiểm xã hội
3. Quan điểm về bảo hiểm xã hội
4. Đối tượng và đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và Các chế độ bảo hiểm xã hội
5. Quỹ bảo hiểm xã hội
6. Công tác thu bảo hiểm xã hội
Tham gia đóng góp
1/24
Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo
hiểm xã hội
Sự cần thiết khách quan của BHXH
Thời tiết có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân cây cối tươi tốt, đâm chồi nảy lộc.
Qua hạ sang thu, đông lại về. Sống trong trời đất con người, ai cũng luôn mong muốn
được tồn tại, phát triển, trường tồn mãi mãi. Nhưng cũng như quy luật của tự nhiên, thực
tại luôn có sự thay đổi, biến hóa bởi ai cũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của
đời người đó là sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết. Đó là vòng: sinh, lão, bệnh, tử và
ước muốn của con người là có được cuộc sống an sinh, hạnh phúc. Nhưng quy luật của
tạo hóa là sinh ra lớn lên và già yếu mà ai cũng phải trải qua. Đi theo cùng quy luật đó
là những rủi ro, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào trong cuộc sống.
trên xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ
hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ
sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động
khi họ gặp phải những biến cố bất lợi trong cuộc sống. Chính nhờ những mối quan hệ
ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải đều và chia nhỏ rủi ro
của một người cho nhiều người làm cho cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng
được đảm bảo ổn định, đồng thời giới chủ cũng thấy mình có lợi trong nhiều mặt và đảm
bảo được tiến độ sản xuất nâng cao năng xuất lao động.
Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu ràng toàn bộ những hoạt động với
những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là Bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với
người lao động. Đây là một trong những phương thức đối phó hữu hiệu nhất trong hệ
thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những phát kiến văn minh nhân loại về
khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ
cho con người.
Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước năm 1945 Chính phủ đã trú trọng đến vấn
đề phát triển chính sách BHXH và bảo trợ xã hội. Đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
sớm quan tâm ban hành và thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước và thường
xuyên được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước.
Hệ thống BHXH ngày càng được mở rộng đã góp phần to lớn vào việc ổn định cuộc
sống cho người lao động, góp phần ổn định kinh tế chính trị xã hội của đất nước.
Tất nhiên, BHXH vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được những yếu điểm của nó mặc dù
là cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài. Song không thể phủ nhận sự tồn tại của
hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan cho mọi Quốc gia, cho toàn nhân
loại.
Vai trò của BHXH.
Có thể nói từ khi khái niệm BHXH được biết đến ở mọi Quốc gia thì chính sách BHXH
đều do Nhà nước quản lý một cách thống nhất. Trong mọi chế độ xã hội BHXH luôn
đóng vai trò quan trọng và thể hiện được những vai trò to lớn.
Đối với người lao động (NLĐ).
Có thể nói BHXH có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần đảm bảo cuộc sống ổn
kinh doanh. Nhưng mong muốn của NSDLĐ đó không phải lúc nào cũng thực hiện
được, bởi trong quá trình sản xuất cũng như trong đời sống NLĐ có thể gặp rủi ro vào
bất kì lúc nào. Và lúc đó, NSDLĐ sẽ không có người làm thuê cho mình dẫn đến gián
đoạn quá trình sản xuất kinh doanh làm giảm năng xuất lao động rồi dẫn đến giảm thu
nhập cho NSDLĐ. Nhưng khi có sự trợ giúp của BHXH, NLĐ không may gặp rủi ro
đó phần nào được khắc phục về mặt tài chính, từ đó NLĐ có điều kiện phục hồi nhanh
những thiệt hại xảy ra. Làm cho người lao động nhanh chóng trở lại làm việc giúp
NSDLĐ, yên tâm, tích cực lao động sản xuất làm tăng năng xuất lao động, góp phần
tăng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
4/24
Đối với Nhà nước.
• BHXH là một trong những bộ phận quan trọng giúp cho Ngân sách Nhà nước
giảm chi đến mức tối thiểu nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống
cho NLĐ và gia đình họ được phát triển an toàn hơn. Khi NLĐ hoặc NSDLĐ
gặp tai nạn rủi ro sẽ làm quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, năng suất
lao động giảm xuống (cung hàng hoá nhỏ hơn cầu) làm tăng giá cả thị trường
và rất có thể dẫn đến tình trạng lạm phát, khi đó buộc Chính phủ phải can thiệp
điều tiết giá cả để ổn định đời sống của người dân.
• BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nước ổn định trật tự an toàn
cho xã hội: BHXH điều hoà, hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ
đồng thời tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, ổn định cho người lao động.
Bởi khi mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ chưa được giải quyết sẽ có thể dẫn
đến những cuộc đình công, thậm chí là gây ra những cuộc bãi công lan rộng
trên cả nước của những người công nhân (NLĐ) đến lúc đó sản phẩm lao động
xã không được sản xuất ra, mà nhu cầu tiêu dùng của xã hội vẫn cứ tiếp tục
tăng lên khi đó buộc Chính phủ phải nhập khẩu hàng hoá. Như vậy, Chính phủ
sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như: giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm
bảo nhu cầu tối thiểu của người dân…
• BHXH có vai trò quan trong trọng việc tăng thu, giảm chi cho Ngân sách Nhà
nước:
hơn. Vì vậy có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt
quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Đóng vai trò như một vị cứu tinh cho NLĐ
khi họ gặp phải những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống. Có thể nói
nhu cầu về BHXH thuộc về nhu cầu tự nhiên của con người. Xuất phát từ nhu
cầu cần thiết để đảm bảo cho các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu.
• Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động
và diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ. Bên BHXH
(bên nhận nhiệm vụ BHXH thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước
lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều
kiện ràng buộc cần thiết.
BHXH được xem như là một hệ thống các hoạt động mang tính xã hội nhằm đảm bảo
đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội
nói chung.
• Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH có thể nói là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con
người như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp… hoặc cũng
có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già,
thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá
trình lao động.
• Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến
cố rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn
tích lại.
Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu. Ngoài ra còn được hỗ
trợ của Nhà nước khi có sự thâm hụt quỹ (thu không đủ chi), chính vì vậy mà chính
sách BHXH nằm trong hệ thống chung của chính sách về kinh tế xã hội và là một trong
những bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách quản lý đất nước của Quốc gia.
7/24
• Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao
động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này
hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động cá nhân và tăng năng
suất lao động xã hội góp phần tăng mối quan hệ tốt đẹp và gắn bó lợi ích giữa
NLĐ, NSDLĐ và nhà nước.
8/24
• BHXH thực hiện chức năng điều hoà lợi ích giữa ba bên: NLĐ, NSDLĐ, Nhà
nước đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp phần ổn định chính trị,
kinh tế, xã hội.
• BHXH còn thực hiện chức năng giám đốc bởi BHXH tiến hành kiểm tra, giám
sát việc tham gia thực hiện chính sách BHXH của NLĐ, NSDLĐ theo quy định
của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, góp phần ổn định xã hội.
9/24
Quan điểm về bảo hiểm xã hội
Quan điểm về bảo hiểm xã hội
BHXH ra đời và phát triển lúc đầu còn mang tính tự phát về sau được nhà nước luật
pháp hóa các chế độ BHXH. Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 140 quốc gia thực
hiện BHXH tuy nhiên việc thực hiện BHXH ở mỗi nước là khác nhau. Tuỳ vào mỗi mỗi
quốc gia trên thế giới mà chính sách BHXH được lựa chọn với hình thức, cơ chế và mức
độ thoả mãn nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướng
phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia đó. Nhưng có một số quan điểm về BHXH được
hầu hết các nước trên thế giới đã thừa nhận.
• Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là một bộ phận quan trọng nhất
trong hệ thống các chính sách xã hội. Quan điểm này chứng tỏ rằng các nước
đều thừa nhận tính xã hội cao của BHXH. Ở Việt nam BHXH được xếp trong
hệ thống các chính sách đảm bảo xã hội của Đảng và Nhà nước. Bởi mục đích
chủ yếu của chính sách này là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ
khi mà có sự kiện rủi ro bất ngờ đến với họ.
• NSDLĐ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho NLĐ. NSDLĐ, họ phải có
nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp quỹ BHXH đồng thời thực hiện đầy đủ các
chế độ BHXH đối với NLĐ mà mình sử dụng theo đúng luật pháp quy định.
Bởi NSDLĐ muốn ổn định kinh doanh sản xuất thì ngoài sự hoạt động của máy
Đức ngày nay) đã ban hành luật Bảo hiểm y tế. Một số nước châu Âu và Bắc mĩ mãi
đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH mặc dù ra đời từ rất lâu như vậy nhưng
đối tượng của BHXH vẫn có nhiều quan điểm khác nhau gây ra nhiều tranh cãi. Đôi khi
còn có sự nhầm lẫn giữa đối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH.
Đối tượng của BHXH.
BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do giảm, mất khả
năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm đau tai nạn, tuổi già. Chính
vì vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến động hoặc giảm, mất đi
do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra.
Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà bao gồm các
khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho NLĐ có nhu cầu đóng
góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH.
Đối tượng tham của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp tham gia
đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền lương của NLĐ
theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã
hội.
Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với những
người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn quỹ
BHXH.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh nghiệp
nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng
được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
12/24
• Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và NSDLĐ phải tham gia BHXH
một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật
BHXH.
• Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn lương
và NLĐ không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp của NLĐ cùng
định 218/CP ra đời ngày 27/12/1961 quy định chế độ BHXH ở Việt nam gồm 6 loại chế
độ trợ cấp: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, mất sức lao động, chế độ tử tuất. Khi
13/24
nền kinh tế phát triển và chuyển đổi theo cơ chế thị trường từ năm 1986 đặc biệt là từ
những năm 1990 trở lại đây, điều kiện kinh tế đã thay đổi thì Nghị định 43/CP ngày 22/
6/1993 và Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 thống nhất bỏ chế độ trợ cấp mất sức
lao động. Như vậy là hiện nay BHXH Việt nam thực hiện 5 chế độ. Đến năm 2003, do
BHYT Việt nam sát nhập với BHXH Việt nam do đó hiện nay ở Việt nam thực hiện 6
chế độ BHXH. Các chế độ đó là: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, chế độ tử tuất,
chế độ chăm sóc y tế.
14/24
Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội
Khái niệm về quỹ BHXH.
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước. Quỹ
này được dùng để chi trả trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH và chi phí cho sự
nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các nghành.
Có thể hiểu quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH:
NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước bù thiếu nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH và đảm
bảo cho hoạt động của hệ thống BHXH.
Như vậy, quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách Nhà nước,
được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Quỹ này được quản lý theo cơ chế cân bằng thu chi
do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạng thái tĩnh mà luôn có sự biến động theo chiều
hướng tăng lên hoặc thâm hụt. Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng
giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, do rủi ro
được dàn trải cho số đông người tham gia. Đồng thời quỹ này cũng góp phần giảm chi
ngân sách cho Nhà nước; khi có biến cố xã hội xảy ra như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh,
quỹ BHXH cũng là một khoản không nhỏ giúp Nhà nước thay cho cứu trợ xã hội, phúc
lợi xã hội, …
Nguồn hình thành quỹ.
+ Các nguồn khác: như sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, lãi do
đầu tư phần quỹ nhàn rỗi, khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH
Đây là phần thu nhập tăng thêm đô bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH được
cơ quan BHXH đưa vào hoạt động sinh lời. Việc đầu tư quỹ nhàn rỗi này cũng cần phải
đảm bảo khả năng thanh khoản khi cần thiết, an toàn và mang tính xã hội.
• Phương thức đóng góp.
Phương thức đóng góp BHXH của NLĐ và NSDLĐ hiện vẫn còn hai quan điểm:
+ Căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.
+ Căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của NLĐ được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh
tế quốc dân để xác định mức đóng góp.
• Mức đóng góp BHXH: Ở một số nước quy định người sử dụng lao động phải
chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và
trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả NGLĐ và NSDLĐ cùng đóng góp mỗi
một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định quỹ BHXH do NLĐ và
NSDLĐ đóng, Chính phủ sẽ bù thiếu.
Ở Việt nam quy định NLĐ đóng 5% lương tháng cho BHXH, 1% lương tháng cho
BHYT; còn NSDLĐ đóng 15% quỹ lương tháng cho BHXH và 2% quỹ lương tháng cho
BHYT.
16/24
Mục đích sử dụng quỹ BHXH.
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau:
• Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH: Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn
nhất của BHXH nhằm đảm bảo ổn định, duy trì cuộc sống cho NLĐ đồng thời
góp phần ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử dụng để trợ
cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia
đình họ khi mà đối tượng tham gia gặp rủi ro và các chế độ được BHXH trợ cấp là 9 chế
độ BHXH đã nêu trong công ước 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ.
Trong thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thường xuyên trên phạm vi
rộng, hầu hết các nước trên thế giới đều có những khoản chi thường xuyên là chi lương
ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc.
Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung thống nhất có sự ràng
buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ
chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của
từng người lao động. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa
trên số lượng người tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công
tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính
sách BHXH. Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các
chức năng cũng như bản chất của mình.
18/24
- Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi
và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai. Do BHXH cũng như các loại
hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra
yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH. Nếu không thu được BHXH thì quỹ
BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ. Vậy hoạt động thu
BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH.
Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá
trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị doanh nghiệp được
hoạt động bình thường.
Quy trình thu BHXH.
• Đăng kí tham gia BHXH.
NSDLĐ, cơ quan, doanh nghiệp quản lý các đối tượng tham gia có trách nhiệm đăng kí
tham gia BHXH với cơ quan BHXH được phân công quản lý nhằm xác định số lượng
người tham gia BHXH để thông báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền về BHXH.
Đây là khâu đầu tiên trong quá trình thu và quản lý thu quỹ BHXH, tuỳ vào mỗi nước
mà có quy định khác nhau trong việc nộp hồ sơ đăng kí tham gia BHXH cho người lao
động nhưng nhìn chung hồ sơ đăng kí tham gia BHXH thường bao gồm:
• Các quy định, công ước đăng kí tham gia BHXH.
• Danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH
Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động nhằm thực hiện
quyền lợi cho NLĐ nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ. Việc đóng góp vào quỹ BHXH
của các bên tham gia BHXH là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng. Vậy thu từ đóng
góp của những người tham gia BHXH là nguồn nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất cho
quỹ BHXH ở hầu hết các quốc gia.
Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, thu đúng đối tượng và rõ
ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia
BHXH. Bên cạnh đó cần phải tổ chức theo dõi, ghi chép kết quả đóng BHXH của từng
người, đơn vị để làm cơ sở cho việc tính mức hưởng BHXH theo quy định.
Hơn nữa, công tác thu BHXH có những đặc điểm sau:
+ Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian nên công tác quản lý thu
BHXH là rất khó khăn và phức tạp.
+ Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại do đó khối lượng công việc là rất
lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương
ứng.
+ Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn
tiền thu BHXH.
Do vậy, công tác quản lý thu BHXH cũng là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn của ngành
BHXH. Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình quản lý
thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ hiện
nay. Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong
cả hệ thống từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả đặc biệt là quản lý tiền thu
quỹ BHXH…
20/24
Trong quá trình tiến hành công tác thu với phương châm là thu đúng đối tượng, đúng
phạm vi thu và quan trọng hơn nữa là thu được đủ số tiền đóng BHXH từ các đối tượng
tham gia BHXH thì việc tăng cường công tác quản lý thu BHXH là vấn đề được các cơ
quan quản lý và mọi người rất quan tâm. Để hình thành nên một kế hoạch thu, một chính
sách thu BHXH thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đòi
hỏi phải nghiên cứu, giải quyết hàng loạt vấn đề cả về lý luận và thực tiễn.