LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 73

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TSCĐ TRONG DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI TSCĐ TRONG DN
1. Khái niệm tài sản cố định ( TSCĐ)
TSCĐ là bộ phận chủ yếu trong cơ sở vật chất - kỹ thuật của một doanh
nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh khác nhau. TSCĐ bao gồm
rất nhiều loại và được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau. Xét một cách tổng quát
thì TSCĐ được chia thành hai loại: Loại có hình thái vật chất cụ thể được gọi là
TSCĐ hữu hình, loại chỉ tồn tại dưới hình thái giá trị được gọi là TSCĐ vô hình.
Để được xem là TSCĐ thì bản thân tài sản phải thực hiện được một hoặc
một số chức năng nhất định đối với quá trình hoạt động của doanh nghiệp; có giá
trị lớn đạt đến mức qui định; nếu tồn tại dưới hình thái vật chất cụ thể thì hình thái
này sẽ giữ nguyên trong suốt quá trình sử dụng; có thời gian sử dụng dài nên
phương thức luân chuyển là chuyển dần giá trị của mình vào chi phí của các đối
tượng sử dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất.
Theo qui định hiện hành, để trở thành TSCĐ thì bản thân tài sản phải có đủ 2
tiêu chuẩn sau:
- Có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên.
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
Những tài sản nào không đạt 2 tiêu chuẩn này thì được gọi là công cụ, dụng
cụ ( hữu hình ) hoặc gọi là chi phí trả trước ( tồn tại dưới hình thức giá trị).
Tuy nhiên tiêu chuẩn giá trị thường mang tính linh hoạt để phù hợp với tính
đặc thù về tư liệu lao động được sử dụng trong các ngành khác nhau.
2. Đặc điểm TSCĐ
Đặc điểm quan trọng của TSCĐ là tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh
doanh mà không thay đổi hình dạng vật chất ban đầu. Trong quá trình sản xuất
kinh doanh giá trị sử dụng của TSCĐ bị hao mòn và dịch chuyển từng phần vào
giá trị sản phẩm mới sáng tạo ra và được bù đắp lại bằng tiền khi sản phẩm được
tiêu thụ. TSCĐ cũng là một loại hàng hoá có giá trị sử dụng và giá trị. Nó là sản
phẩm của lao động và được mua bán trao đổi trên thị trường tư liệu sản xuất .
3. Phân loại tài sản cố định trong doanh nghiệp.

minh sáng chế, bản quyền tác giả ....
TSCĐ vô hình gồm:
- Chi phí về sử dụng đất : Là bao gồm các chi phí thực tế đã chi ra có liên quan
trực tiếp tới đất sử dụng bao gồm : tiền chi ra để có quyền sử dụng đất ( cả tiền
thuế đất hay tiền sử dụng đất trả một lần nếu có, lệ phí trước bạ) nhưng không
bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất.
- Chi phí thành lập doanh nghiệp : Là các chi phí thực tế hợp lý, hợp lệ và cần
thiết đã được những người tham gia thành lập doanh nghiệp chi ra có liên quan
trực tiếp tới việc chuẩn bị khai sinh ra doanh nghiệp bao gồm các chi phí cho công
tác nghiên cứu, thăm dò, lập dự án để thành lập.
- Chi phí nghiên cứu phát triển : Là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh
nghiệp đã chi ra để thực hiện các công tác nghiên cứu, thăm dò, xây dựng các kế
hoạch đầu tư dài hạn nhằm đem lại lợi ích đầu tư lâu dài cho doanh nghiệp.
- Chi phí về bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả, mua bản quyền tác
giả, nhận chuyển giao công nghệ : Là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã chi
ra cho các công trình nghiên cứu ( bao gồm chi phí thử nghiệm, chi phí cho công
tác kiểm nghiệm, nghiệm thu của nhà nước) được nhà nước cấp bằng phát minh
sáng chế, bản quyền tác giả, bản quyền nhãn hiệu, chi phí cho việc chuyển giao
công nghệ từ các tổ chức và cá nhân mà các chi phí này có tác dụng phục vụ trực
tiếp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí về lợi thế kinh doanh : Là khoản chi phí cho phần chênh lệch doanh
nghiệp phải trả thêm ( Chênh lệch trả thêm = Giá mua - Giá trị của tài sản theo
đánh giá thực tế ). Ngoài tài sản theo đánh giá thực tế (TSCĐ, TSLĐ) khi doanh
nghiệp đi mua, nhận sát nhập, hay hợp nhất của một doanh nghiệp khác. Lợi thế
này được hình thành từ ưu thế về vị trí kinh doanh, về danh tiếng, về uy tín với
bạn hàng, về trình độ đội ngũ tay nghề của người lao động, về trình độ điều hành
tổ chức của ban quản lý doanh nghiệp đó.
Trên thực tế TSCĐ vô hình trong tổng số tài sản của doanh nghiệp có chiều
hướng gia tăng. Nhưng việc đánh giá các TSCĐ vô hình rất phức tạp TSCĐ hữu
hình có thể tham khảo giá trên thị trường của chúng một cách tương đối khách

ngoài không tính trích khấu hao nhưng phải có trách nhiệm thanh toán tiền đi thuê
và hoàn trả đầy đủ khi kết thúc hợp đồng giữa hai bên .
TSCĐ sẽ được phân ra là :
a) TSCĐ tự có: Là những tài sản mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn tự có,
tự bổ xung, nguồn do doanh nghiệp đi vay, do liên doanh liên kết .
b)TSCĐ đi thuê: Để tăng cường sức sản xuất đồng thời cũng nhằm đáp ứng
nhu cầu sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp có thể đi thuê TSCĐ của các
đối tượng khác nhau. Thuê dài hạn TSCĐ có thể thực hiện theo các phương thức:
Thuê tài chính và thuê hoạt động
- TSCĐ đi thuê hoạt động : Thuê TSCĐ tính theo thời gian sử dụng hoặc khối
lượng công việc hoàn thành, không đủ điều kiện và không mang tính chất thuê
vốn.
-TSCĐ thuê tài chính : Đây là hình thức thuê vốn dài hạn, phản ánh giá trị hiện
có và tình hình biến động toàn bộ số TSCĐ đi thuê tài chính của đơn vị .
Cách phân loại này giúp đơn vị sử dụng có thông tin về cơ cấu, từ đó tính và
phân bổ chính xác số khấu hao cho các đơn vị sử dụng. Đối với các TSCĐ chờ
thanh lý phải có những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ .
3.5 Phân loại TSCĐ theo cách khác
Toàn bộ TSCĐ phân thành các loại sau :
a) TSCĐ tài chính : Là khoản đầu tư dài hạn, đầu tư vào chứng khoán và các
giấy tờ giá trị khác. Các loại tài sản này được doanh nghiệp giữ lâu dài nhằm mục
đích thu lợi và các mục đích khác như chiếm ưu thế quản lý hoặc đảm bảo an toàn
cho doanh nghiệp.
b) TSCĐ phi tài chính : Bao gồm các TSCĐ khác phục vụ cho lợi ích của
doanh nghiệp, nhưng không được chuyển nhượng trên thị trường tài chính .
II. YÊU CẦU QUẢN LÝ TSCĐ VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN TSCĐ
1. Yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp
TSCĐ là cơ sở vật chất kĩ thuật, yếu tố chủ yếu thể hiện năng lực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, TSCĐ là hệ thống xương và bắp thịt
của quá trình kinh doanh. Vì vậy trang thiết bị hợp lý, bảo quản và sử dụng tốt

đủ khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh.
- Tham gia lập dự toán về chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí nâng cấp, cải tạo
TSCĐ, phản ánh và giám đốc tình hình thực hiện dự toán chi phí sửa chữa, nâng
cấp, cải tạo TSCĐ .
III. NỘI DUNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TSCĐ
1. Đánh giá TSCĐ
Ngoài việc phân loại TSCĐ, đánh giá TSCĐ là một công việc hết sức quan
trọng. Thực chất việc đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ của tài sản.
TSCĐ được đánh giá lần đầu và có thể đánh giá lại trong quá trình sử dụng. Đánh
giá TSCĐ bắt nguồn từ sự biến động lớn của mặt bằng giá mà chủ yếu là do tình
hình lạm phát gây ra. Ngoài ra cuộc đánh giá lại còn xảy ra khi đem TSCĐ làm
vốn góp liên doanh. Việc đánh giá TSCĐ có thể được đánh giá theo: Nguyên giá
TSCĐ; theo giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
a) Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá
Nguyên giá TSCĐ là giá trị đầu tư ban đầu của TSCĐ. Nguyên giá TSCĐ
được xác định theo nguyên tắc giá phí tuỳ thuộc vào trường hợp tăng TSCĐ mà
nguyên giá TSCĐ được xác định như sau :
- Đối với TSCĐ mua vào :
Nguyên giá TSCĐ = Giá mua ( giá hoá đơn) +Các chi phí trước khi dùng
* Giá mua hay giá hoá đơn được xác định như sau:
- Là giá thanh toán với người bán nếu đơn vị áp dụng thuế VAT trực tiếp hoặc
không áp dụng VAT.
- Giá mua chưa có thuế VAT nếu áp dụng thuế VAT theo phương pháp khấu
trừ.
- Nếu TSCĐ nhập khẩu thì giá nhập khẩu TSCĐ gồm: Giá hoá đơn + thuế
nhập khẩu.
* Các chi phí trước khi dùng gồm: Toàn bộ các phí tổn mua tài sản, giao
nhận tài sản, chuyển quyền sở hữu tài sản, chi trước khi sử dụng tài sản.
- Đối với TSCĐ tiếp nhận từ bộ phận xây dựng cơ bản :
Nguyên giá TSCĐ = Giá trị quyết toán của công trình + các khoản phụ phí

- Kế toán khấu hao TSCĐ
- Kế toán sửa chữa TSCĐ
2.2 Phương pháp kế toán TSCĐ
a) Chứng từ sử dụng :
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, TSCĐ của doanh nghiệp thường
xuyên biến động. Để quản lý tốt TSCĐ, kế toán phải theo dõi chặt chẽ, phản ảnh
ánh đầy đủ tình hình tăng giảm TSCĐ và phải có chứng từ hợp lệ theo chế độ
chứng từ quy định theo quyết định số 1417C/ QĐ/ CĐKT ngày 01/11/1995 của
Bộ trưởng Bộ tài chính về các chứng từ tăng giảm TSCĐ.
Hệ thống chứng từ bao gồm :
- Biên bản giao nhận TSCĐ ( mẫu số 01 - TSCĐ )
- Thẻ TSCĐ ( mẫu số 02 - TSCĐ )
- Biên bản thanh lý TSCĐ ( mẫu số 02 – TSCĐ )
- Biên bản giao nhận sửa chữa lớn hoàn thành ( mẫu số 04- TSCĐ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status