MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU
B. LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
I. Khái niệm về
đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1. Tìm hiểu về đầu tư phát triển
1.1. Đầu tư
1.2. Đầu tư phát triển
2. Tìm hiểu về nguồn lực con người
2.1. Nguồn lực con người
2.2 Phát triển nguồn nhân lực
3. Đầu tư phát triển nguồn lực con người
II. Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực
III. Vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1.Đối với từng cá nhân trong xã hội
2.Đối với xã hội.
IV. Nội dung đầu tư phát triển nguồn lực
1. Đầu tư giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
1.1. Đầu tư cho chương trình giảng dạy
1.2. Đầu tư đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học
1
1.3. Đầu tư cơ sở hạ tầng giáo dục
2. Đầu tư y tế và chăm sóc sức khỏe
2.1. Đầu tư cơ sở vật chất (bệnh viện)
2.2. Đầu tư trang thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe
2.3. Đầu tư cho cán bộ y tế
3. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động
4. Đầu tư cho tiền lương
V. Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển nguồn lực con người
với các loại hình đầu tư khác
5. Đầu tư cải thiện môi trường lao động
5.1. Tiền lương
5.2. Bảo hiểm
5.3. Công đoàn
5.4. Điều kiện làm việc
3
6. Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển nguồn nhân lực
2.6.1. Về sức khỏe
2.6.2.Về trình độ văn hóa
2.6.3. Về chuyên môn kỹ thuật
2.6.4. Chỉ số tổng hợp
D. Giải pháp
1.Phát triên nguồn nhân lực theo chiều rộng:
1.1. Thu hút và nâng cao nguồn nhân lực từ nông thôn, vùng núi
1.2. Phát triển cơ sở hạ tầng ,xây dựng thêm nhà máy xí nghiệp :
1.3. Xây dựng môi trường, thực hiện an toàn lao động
2. Phát triển nguồn nhân lực theo chiều sâu
2.1. Tích cực thực hiện đầu tư cho giáo dục đào tạo
2.2. Chuyên môn hóa hệ thống làm việc
2.3. Thực hiện các chính sách thu hút, lôi kéo nhân tài
NỘI DUNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC
CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4
A. LỜI MỞ ĐẦU
Con người, vốn và công nghệ là ba yếu tố sản xuất để con người tạo
ra của cải vật chất, thiếu một trong ba yếu tố này hay có sự tăng
không đều giữa 3 yếu tố này đều tạo nên sự phát triển không cân đối
cho nền kinh tế. Nếu chúng ta chỉ chú trọng thu hút càng nhiều vốn để
đầu tư sản xuất kinh doanh mà quên mất đầu tư cho nâng cấp nguồn
nhân lực thì quá trình đầu tư đó không thể phát huy được hết lợi ích
1.2. Đầu tư phát triển
Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó
người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo
ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực
sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo
việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc
bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang
thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực
hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này
nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bổ
sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội
của đất nước
6
2. Tìm hiểu về nguồn lực con người
2.1. Nguồn lực con người (Human resources - nguồn nhân lực), yếu tố
quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổi địa phương
(Tỉnh, Thành Phố …) và nó khác với các nguồn lực khác (Tài chính, đất đai,
công nghệ …) ở chỗ nguồn lực với hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới
tự nghiên và trong quá trình lao động nảy sinh các vấn quan hệ lao động và
quan hệ xã hội, cụ thể hơn nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở các
khía cạnh sau đây:
_ Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội bao gồm toàn bọ
dân cư trong xã hội có khả năng lao động.
_ Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực
là khả năng lao động ở các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động.
_ Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá
trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố về thể lực và trí lực,
thuộc những người có giới hạn tuổi từ 15 trở lên.
khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc
y tế.
Như vậy phát triển nguồn nhân lực bao gồm các quá trình phát triển giáo
dục, tiếp thu kinh nghiệm, tăng cường thể lực, kế hoạch hóa dân số, tăng
nguồn khích hiệu ứng lan tỏa kiến thức trong nhân dân. PTNNL từ góc độ
8
làm chính sách vốn xã hội cũng như các quá trình khuyến khích hoặc tối ưu
hóa sự đóng góp của các quá trình đã nói trên vào quá trình sản xuất chẳng
hạn như các quá trình sử dụng lao động, khuyến là một giải pháp phân phối
hơn là tái phân phối.
3. Đầu tư phát triển nguồn lực con người
_ Đầu tư phát triển nhân lực là một bộ phận của đầu tư phát triển, nó là
việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm nâng cao và
khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức, thể lực của người lao động, để đáp
ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất.
_ Đầu tư phát triển bao gồm : đầu tư những tài sản vật chất và đầu tư phát
triển những tài sản vô hình.
_ Đầu tư phát triển nhân lực là một trong những nội dung của đầu tư
những tài sản vô hình. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội
dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư cho
công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm
việc của người lao động …
9
II. Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được xem xét trên góc độ về mặt chất lượng được thể hiện
trên các mặt trình độ văn hoá, trình độ chính thức chuyên môn, năng lực phẩm
chất... Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực
một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng sau
_ Nguồn nhân lực là nguồn lực con người
_ Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động.
dụng không hiệu quả và có môi trường phát triển không phù hợp và thuận lợi
sẽ là sự lãng phí đầu tư. Trong mọi sự lãng phí, lãng phí nguồn nhân lực con
người là mất mát to lớn và đáng sợ nhất.
III. Vai trò của đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1. Đối với từng cá nhân trong xã hội
Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực sẽ đem lại lợi ích cho mỗi cá
nhân. Để thấy được lợi ích của mỗi cá nhân trong việc đầu tư vào
nguồn nhân lực ta sẽ đi so sánh chi phí bỏ ra và lợi ích thu được qua
các bảng số liệu sau đây:
11
Hình 1:Tỷ lệ thất nghiệp theo trình độ học vấn
1. Hình 1 trên đây thể hiện một lợi ích khác mà học vấn cao đem lại.
Nó giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm bớt độ nhạy với chu kỳ kinh
doanh.
• Nên lưu ý một điều rằng các sinh viên tốt nghiệp ĐH có thể phải vật
lộn mới tìm được công việc đầu tiên của mình. Tuy nhiên, sau khi
bắt đầu đi làm thì tỷ lệ thất nghiệp của họ giảm dần (trong khoảng
thời gian từ 2 năm sau khi tốt nghiệp đến 5 năm, tỷ lệ thất nghiệp
này giảm xuống còn một nửa). Trong khi đó, mức tiền công họ nhận
được bắt đầu tăng ngay khi bắt đầu đi làm (trong khoảng thời gian
từ 2 năm sau khi tốt nghiệp đến 5 năm sau khi tốt nghiệp, mức
lương của nam tăng 20%, của nữ tăng 11%).
12
Hình 2: Biểu quan hệ thu nhập theo tuổi của nam
Hình 3: Biểu Quan hệ Thu nhập theo tuổi của nữ
13
1. Nam lứa tuổi 20 có trình độ đại học có thu nhập cao hơn so với nam
cùng độ tuổi có trình độ trung học khoảng 8,000 đô. Nam độ tuổi 50 có
trình độ đại học có thu nhập cao hơn so với nam cùng độ tuổi có trình
độ trung học khoảng 17,000 đô.
kinh tế sáng chế và phát triển. Càng có nhiều nhân viên R & D càng có
nhiều phát minh, sáng kiến mới.
- Các kỹ thuật mới là do các công ty, cá nhân hưởng ứng những khuyến
khích về kinh tế sáng chế và phát triển. Càng có nhiều nhân viên R & D
càng có nhiều phát minh, sáng kiến mới.
- Những hiệu ứng lan tỏa (spillover effects) củng cố thêm tác động này.
Phát minh về con chíp điện tử dẫn đến việc chế tạo ra đầu đĩa DVD và túi
khí cùng nhiều sản phẩm khác. Thực nghiệm đã củng cố thêm lập luận
này. Nó đưa ra bằng chứng chứng tỏ rằng đầu tư vào vốn con người có
vai trò quan trọng không kém gì đầu tư vào vốn tài sản trong việc tạo ra
tăng trưởng kinh tế
IV. Nội dung đầu tư phát triển nguồn lực
1. Đầu tư giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị nhất định về chuyên môn nghiệp
vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định.
Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động học tập trang thiết bị kiến
thức kĩ năng để cho người lao động làm công việc khó khăn phức tạp hơn và
để phát triển sự nghiệp của mình. Để hoàn thành tốt công tác đào tạo nguồn
15
nhân lực cần phải có sự đầu tư kĩ lưỡng về mọi mặt. Việc đầu tư cho giáo dục
được thể hiện qua các mặt chính sau:
1.1. Đầu tư cho chương trình giảng dạy
Chương trình giảng dạy thể hiện những nội dung sẽ được đưa vào nhà
trường nhằm nâng cao tri thức của mỗi người tham gia khóa học. Vì vậy
chương trình giảng dạy cần được coi trọng. Hiện nay ở Việt Nam thì
chương trình học được thể hiện rõ nét trong sách giáo khoa.
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục
đích dạy và học. Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách
chuẩn cho ngành học. Sách giáo khoa được phân loại theo đối tượng sử dụng
hoặc chủ đề của sách. Biên soạn một sách giáo khoa có giá trị cả một kì công.
·Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản
thân học viên tự tìm kiếm tri thứ c , tự hoạt động theo cách riêng độc
lập và sáng tạ o .
17
·Phương pháp giáo dục thụ động: Giáo viên truyền đạt kiến thức, độc
thoại, phát vấn hay đặt câu hỏi, giáo viên áp đặt kiế n th ứ c có sẵn, còn học
viên thì họ c thu ộ c lòng và nhớ máy móc. Giáo viên độc quyền đánh giá cho
điểm.
·Phương pháp giáo dục tích cực: Học viên tự tìm ra kiến thức bằng
hành động thao tác... giáo viên đối thoại với học viên, giáo viên hợ p tác và
trao đổi với học viên và giáo viên khẳng định kiến thức do học viên tìm ra.
Học sinh học cách học, cách đặt vấn đề và giả i quyết vấn đề , cách
số ng và trưởng thành. Học sinh tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo
viên cho điểm cơ động.
Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng nâng cao giáo dục hiện đại
với người học tích cực chủ động tìm kiếm kiến thức là một trong những điều
kiện quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo hiện nay. Ý thức
được tầm quan trọng của vấn đề này, nhà nước ta rất quan tâm tới việc bồi
dưỡng, cập nhật, vận dụng các phương pháp giảng dạy mới trong nhà trường.
1.3. Đầu tư cơ sở hạ tầng giáo dục
Việt Nam đang trên con đường phát triển với nhiều biến đổi cả về
chất và lượng. Một trong những những nguyên nhân đó là do đặc điểm
nguồn nhân lực Việt Nam. Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều ngân sách
cho công tác giáo dục. Một trong những nội dung đầu tư đó là đầu tư cho
cơ sở hạ tầng giáo dục. Mà ở đây chúng ta sẽ xét đến cơ sở nhà trường
nơi diễn ra quá trình đào tạo nguồn nhân lực. Để đầu tư cho giáo dục đào
tạo cần một lượng vốn rất lớn, điều đó có thể nằm ngoài khả năng ngân
18
sách của chính phủ, vì vậy phải tạo điều kiện tối đa cho các thành phần
kinh tế khác đầu tư cho giáo dục. Bên cạnh đó, ở những vùng sâu vùng
Ngoài các bệnh viện công lập như trên còn phải khuyến khích việc hình
thành và phát triển các bệnh viện theo hướng đa dạng hóa các loại hình
khám chữa bệnh, khuyến khích thành lập các bệnh viện bán công, dân lập,
tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài nhưng bệnh viện công vẫn giữ vai trò chủ
đạo. Nhất là bệnh viện chuyên khoa nhằm thực hiện chính sách xã hội hoá
và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế. Tuy nhiên, hệ thống bệnh viện
công vẫn đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt là phát triến các kỹ thuật cao, đảm
bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
20
2.2. Đầu tư trang thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe
Trang thiết bị y tế bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận
chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân
dân. Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai
đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức
khỏe nhân dân đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Trang thiết bị y tế là một
trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y
tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa
bệnh. Do vậy, lĩnh vực trang thiết bị y tế cần được tăng cường đầu tư cả về
số lượng và chất lượng, đảm bảo tính khoa học và hiệu quả. Việc đầu tư trang
thiết bị y tế cần phải chú ý những nội dung sau:
Ø Trang thiết bị y tế là lĩnh vực chuyên dụng và rất đắt tiền đòi hỏi nhiều
yêu cầu khắt khe về kỹ thuật cao, chính xác, an toàn và ổn định. Nhu cầu
kinh phí để trang bị mới cũng như duy trì hoạt động liên tục của trang thiết bị
đã có là rất lớn
Ø Đầu tư trang thiết bị y tế phải có trọng tâm, trọng điểm nhằm đạt được
tính hiệu quả, khoa học và kinh tế.
Ø Xây dựng kế hoạch đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất trang
thiết bị y tế mà trong nước có ưu thế. Trước hết tập trung sản xuất các thiết bị
y tế thông dụng phục vụ y tế cơ sở, chương trình dân số - kế hoạch hoá gia
đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, dụngcụ sử dụng một lần và các trang thiết
Đầu tư cho hệ thống giáo dục đào tạo các y bác sĩ ngay từ trong nhà trường.
Việc đào tạo phải được kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, đầu tư trang bị
các dụng cụ học tập phục vụ giảng dạy, sinh viên phải được tiếp xúc với các
loại bệnh tật ngay khi còn ở trên ghế nhà trường.
Muốn trò giỏi thì đội ngũ giáo viên phải là những người có chuyên môn và
kinh nghiểm giảng dạy cũng như thực hành trong thực tế.
Tổ chức các chương trình du học, cấp học bổng cho các sinh viên y khoa có
trình độ giỏi đi du học nước ngoài để nâng cao tầm hiểu biết và kinh nghiệm.
Tuy nhiên đi kèm với nó phải có sự thỏa thuận về công ăn việc làm sau khi
học xong tránh tình trạng chảy máu chất xám cũng như thất nghiệp sau khi
về nước.
23
Đội ngũ y, bác sĩ phải được quan tâm, phụ cấp phải phù hợp với trình độ và
hơn thế nữa là tránh hiện tượng lương được chi trả không đáp ứng được
những chi tiêu thiết yếu của cuộc sống.
Tóm lại, nhà nước và doanh nghiệp khi đầu tư vào y tế cần tập trung vào các
vấn để kể trên, cần phải vận dụng và kết hợp sao cho phù hợp với điều kiện
của các doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động.
24
3. Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động
Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự gia tăng lực lượng lao động và số
doanh nghiệp trong công tác an toàn – vệ sinh lao động(AT-VSLĐ), chúng ta
phải đối mặt với những thách thức về sự gia tăng tai nạn lao động(TNLĐ),
bệnh nghề nghiệp(BNN) và ô nhiễm môi trường lao động. Để giảm thiểu sự
bất lợi đó, không chỉ các địa phương cần quan tâm làm tốt công tác quản lý
nhà nước, mà còn cần cả các doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định về
AT-VSLĐ. Công tác AT-VSLĐ có tác động rất lớn đến kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia và đem lại quyền lợi trước hết cho doanh nghiệp, cho người lao
động và bản thân gia đình họ. Một công tác nghiên cứu tại Canada cho thấy
nếu đầu tư cho công tác AT-VSLĐ 1USD sẽ thu lợi được lại từ 1,5 đến 8