Chuyên đề thực tập cuối khóa
Lời mở đầu
Hoạt động quảng cáo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống kinh tế- xã
hội của nhiều nước trên thế giới và phát triển theo nhịp độ của sự phát triển
kinh tế thị trường. Ngày nay, quảng cáo đã trở thành một động lực quan
trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của hầu hết các nước trên thế
giới.
Ở Việt Nam, quảng cáo hình thành và phát triển đồng thời với công
cuộc đổi mới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã
đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Kể từ khi pháp
lện quảng cáo ra đời (30/11/2001), hoạt động quảng cáo đã có những chuyển
biến rõ rệt và đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đạt được, ngành quảng cáo của Việt Nam vẫn kém phát
triển, chưa tương xứng với tiềm năng và còn thua kém nhiều so với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Một trong những nguyên nhân chính là
do chóng ta thiếu vốn, công nghệ và một đội ngũ lao động chuyên nghiệp và
có kinh nghiệm.
Trong thời gian thực tập tại Phòng Dịch Vụ, Cục Đầu tư nước ngoài
thuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư, qua tham khảo và nghiên cứu tài liệu về lĩnh
vực quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua, em nhận thấy nguồn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này đã góp phần không nhỏ vào sự tiến bộ
và phát triển của ngành quảng cáo nước nhà. Tuy nhiên, quảng cáo là ngành
được Nhà nước bảo hộ vì đây là một ngành công nghiệp dịch vụ non trẻ ở
nước ta, nên trong thời gian qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào lĩnh vực này còn hạn chế. Thời gian tới, khi Việt Nam gia nhập WTO,
chóng ta sẽ dần phải dỡ bỏ sự bảo hộ này. Xuất phát từ thực tiễn đó, em
quyết định viết đề tài này với mục đích đưa ra một số giải pháp nhằm tăng
cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo ở nước ta
trong giai đoạn 2006- 2010.
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
1
Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF):” FDI là một loại hình
đầu tư quốc tế trong đó một tổ chức cư trú tại một nền kinh tế thu được lợi
Ých lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Lợi Ých lâu
dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhà
đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu
tư đối với doanh nghiệp này”
Theo điều 2, luật đầu tư nước ngoài năm 1996:” Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
luật này”.
1.1.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Quá trình thu hút và quản lý vốn FDI trên thực tế diễn ra rất đa dạng,
phức tạp và không ngừng biến đổi. Nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư, cũng như tạo điều kiện cho
các nhà quản lý trong nước thực hiện tốt chức năng của mình, luật đầu tư
nước ngoài đã quy định những hình thức dưới đây các nhà đầu tư nước
ngoài được phép đầu tư vào Việt Nam:
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
3
Chuyên đề thực tập cuối khóa
1.1.2.1. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “Doanh nghiệp 100% vốn
đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100%
vốn tại Việt Nam”.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình
thức công ty TNHH, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
Vốn pháp định của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Ýt nhất phải
bằng 30% vốn đầu tư. Đối với những dự án xây dựng công trình kết cấu hạ
tầng, những dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng
rừng, dự án có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20%
vốn đầu tư, đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự án đầu
tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn
tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không quá 20% vốn đầu tư được cơ quan
cấp giấy phép đầu tư chấp thuận.
Doanh nghiệp liên doanh thành lập hội đồng quản trị để lãnh đạo công
ty với nhiệm kỳ không quá 5 năm. Các bên cử người của mình tham gia hội
đồng quản trị ứng vời phần vốn góp trong vốn pháp định. Tổng giám đốc là
người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, trừ trường hợp điều lệ
doanh nghiệp có quy định khác. Tổng giám đốc hoặc phó tổng giám đốc thứ
nhất do bên liên doanh Việt Nam đề cử và phải là công dân Việt Nam
thường trú trên lãnh thổ Việt Nam.
Lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp được phân chia theo tỷ lệ góp
vốn trong phần vốn pháp định. Doanh nghiệp liên doanh không được giảm
vốn trong quá trình liên doanh, nếu tăng vốn phải làm bản giải trình lên Bộ
Kế hoạch và Đầu tư để xem xét giải quyết.
1.1.2.3.2. Những thuận lợi và khó khăn khi thành lập doanh nghiệp
liên doanh.
• Các doanh nghiệp liên doanh khi thành lập sẽ có những thuận lợi, đó là:
Không bị hạn chế về lĩnh vực đầu tư, và được phép chuyển nhượng
vốn sau khi đăng ký việc chuyển nhượng với cơ quan cấp giấy phép đầu tư.
Các doanh nghiệp liên doanh thường dễ tìm địa điểm để xây dựng nhà
xưởng do bên đối tác Việt Nam thường góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Đồng thời bên Việt Nam hỗ trợ doanh nghiệp liên doanh trong việc tuyển
dông lao động, tìm kiếm các nguồn nguyên liệu trong nước để cung cấp cho
doanh nghiệp cũng như tìm thị trường tiêu thụ trong nước, còn bên nước
ngoài có thể chủ động hơn trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh,
áp dụng và phát huy các công nghệ mới, các kinh nghiệm quản lý của mình
tại Việt Nam .
Và một ưu điểm của hình thức đầu tư này được các chủ đầu tư nước
ngoài quan tâm đó là, rủi ro được chia sẻ giữa bên Việt Nam và bên nước
tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình
đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư
quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn
đầu tư và lợi nhuận hợp lý”.
• “Hợp đồng xây dựng-chuyển giao ( Build-Transfer, B.T ) là văn
bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu
tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng
xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
6
Chuyên đề thực tập cuối khóa
Nam, Chính phủ Việt Nam tạo điệu kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực
hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý”.
1.1.2.4.2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các phương thức
đầu tư này.
• Khi đầu tư vào Việt Nam dưới các phương thức này, nhà đầu tư
nước ngoài sẽ được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ Việt Nam về tiền
thuê đất, thuế, thời gian đầu tư, đồng thời nhà đầu tư nước ngoài cũng được
tạo điều kiện để thu hồi vốn nhanh và có lãi hợp lý.
• Tuy nhiên nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vao Việt Nam dưới
những hình thức này thì cũng gặp những khó khăn, đó là: Nhà đầu tư nước
ngoài chỉ được ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam để xây dựng các công trình hạ tầng của Việt Nam như đường, cầu,
cảng, các công trình điện nước,… mà họ không được tự do lựa chọn đối tác
đầu tư cũng như các ngành nghề.
1.1.2.5. Khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao.
Theo luật ĐTNN tại Việt Nam, các khu công nghiệp, khu chế xuất và
khu công nghệ cao không được coi là các hình thức đầu tư mà chúng chỉ có
thể được coi như những khu vực thu hút đầu tư nước ngoài. Thực chất đây là
những khu vực địa lý có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng và được hưởng
Hỗu hết các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá thâm nhập thị trường như
một trong những nhân tố quan trọng nhất để mở rộng ra nước ngoài và quyết
định địa bàn đầu tư. Dân số, chất lượng hạ tầng giao thông và cơ sở hạ tầng,
chính sách bảo hộ của một quốc gia, cũng như chính sách về xuất nhập khẩu
là những yếu tố quan trọng để nhà đầu tư nước ngoài quyết định thâm nhập
đầu tư ra nước ngoài. Tóm lại,tính cạnh tranh về khía cạnh thâm nhập thị
trường vào một quốc gia được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá thông
qua quy mô thị trường và chi phí thâm nhập thị trường.
Theo kết quả điều tra, về khía cạnh “thâm nhập thị trường”, Việt Nam
được đánh giá kém hấp dẫn hơn ASEAN4 và Trung Quốc vì Việt Nam có
quy mô thị trường trong nước hẹp và chi phí thâm nhập thị trường khu vực
cao.
1.1.3.2.Chi phí kinh doanh.
Chi phí kinh doanh là một trong các yếu tố quan trọng được các nhà
đầu tư nước ngoài quan tâm. Chi phí kinh doanh bao gồm: chi phí viễn
thông; chi phí vận tải; chi phí về lao động; chi phí điện, nước; chi phí thuê
đất, văn phòng… Nừu một nước có chi phí kinh doanh thấp là địa điểm hấp
dẫn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và ngược lại.
Hầu hết các nhà ĐTNN đều chỉ ra rằng chi phí kinh doanh cao là
điểm bất lợi chính của Việt Nam. Phân tích các chi phí tại Việt Nam được
thực hiện trước đây cho thấy chi phí đầu tư và chi phí kinh doanh tại Việt
Nam là tương đối cao so với ASEAN4 và Trung Quốc. Theo kết quả điều tra
các nhà ĐTNN, mặc dầu hệ thống hai giá không ảnh hưởng nhiều đến chi
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
8
Chuyên đề thực tập cuối khóa
phí kinh doanh nhưng nó tạo ra Ên tượng đối xử không nhất quán (sự phân
biệt) đối với các ĐTNN. Điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường
kinh doanh tại Việt Nam. Ngoài ra, việc thiếu nguyên vật liệu, công nghiệp
hỗ trợ và hệ thống thuế nhập khẩu không hấp dẫn cũng được nhìn nhận là
phòng)
2 1 3 3 4
Chi phí/chất lượng thuê
(tiền thuê đất trong KCN và
KCX)
2 2 4 3 2
Chi phí không chính thức
(chi phí hành chính, tham
nhòng)
1 1 3 3 2
Thuế thu nhập cá nhân 1 2 2 3 3
Thuế suất thực tế 1 2 2 3 3
Nguồn: Ngân hàng thế giới.
1.1.3.3.Môi trường chính trị và xã hội.
Ổn định chính trị và xã hội là lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Yếu tố này được thể hiện thông qua các khía cạnh như: chiến tranh, mâu
thuẫn sắc téc, an ninh trật tự xã hội… Đây là yếu tố giúp nhà đầu tư nước
ngoài thấy yên tâm khi chọn địa điểm đầu tư.
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
9
Chuyên đề thực tập cuối khóa
Sau sự kiện 11/9 Việt Nam đã được tổ chức rủi ro kinh tế và chính trị
(PERC) tại Hồng Kông xếp ở vị trí thứ nhất về khía cạnh ổn định chính trị
và xã hội. So với các nước ASEAN4 và Trung Quốc, Việt Nam có Ýt vấn đề
liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn. Sau khi đưa ra các chính
sách “đổi mới”, Việt Nam đã và đang được mức tăng trưởng GDP ổn định.
Sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì và Việt Nam được
đánh giá là nơi an toàn để đầu tư.
1.1.3.4.Luật pháp.
Trước khi ra quyết định chọn địa điểm đầu tư, các nhà đầu tư nước
khích sự tham gia của khối tư nhân trong cung cấp dịch vụ tiện Ých và cơ sở
hạ tầng, như vậy sẽ làm tăng chất lượng và giảm chi phí mà chúng là các
nhân tố chủ chốt thu hót FDI vào Việt Nam.
1.1.3.6. Thị trường lao động.
Tính cạnh tranh của thị trường lao động một quốc gia được thể hiện ở
chi phí lao động và chất lượng lao động, bao gồm cả lao động phổ thông và
lao động chất lượng cao
Việt Nam là một quốc gia cã một lực lượng lao động hơn 40 triệu
người, hang năm tăng thêm từ 1,1 đến 1,2 triệu người. Chi phí lao động
tương đối thấp so với các nước khác trong khu vực. Đây là điểm lợi thế của
Việt Nam. Tuy nhiên, lực lượng nhân công qua đào tạo của Việt Nam lại
tương đối thấp, chỉ gần 12% lực lượng nhân công Việt Nam được qua đào
tạo. Lực lượng nhân công không có chuyên môn kỹ thuật thì dư thừa trong
khi đó lại thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật. Và việc yêu cầu các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải tuyển dụng lao động trong
nước thông qua các cơ quan tuyển dụng được phép đã hạn chế tính linh hoạt
của thị trường lao động của Việt Nam
Tóm lại, mặc dầu Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về đội ngũ nhân
công rẻ và trẻ nhưng chất lượng nhân công lao động vẫn thấp. Tình trạng
này làm giảm tính cạnh tranh của Việt Nam trong các ngành công nghệ cao.
1.1.3.7. Tham nhòng.
Bằng chứng có tính thực tiễn cho thấy rằng nạn tham nhũng thường
xuyên xảy ra và không thể lường trước được không những gây tổn hại đến
nền kinh tế của một quốc gia mà còn gây tổn hại đến quá trình đầu tư, gây
tâm lý e ngại cho nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đầu tư ở một quốc
gia.
Theo kết quả điều tra về tham nhũng năm 1999 do tổ chức minh bạch
Quốc tiến hành, Việt Nam có chỉ số 2,6 và xếp thứ 75 trong tổng số 99 nước
được khảo sát (chỉ số tham nhòng do tổ chức này áp dụng chạy từ 10-“mức
độ trong sạch cao” đến 0-“mức độ tham nhòng cao”).Đến năm 2002, Việt
phải giảm thuế suất nhập khẩu xuống dưới 20% đối với 80% hàng hoá. Do
đó, không có lợi về mặt kinh tế cho các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các
cơ sở sản xuất ở Việt Nam.
Tóm lại, tất cả các yếu tố trên đều góp phần quan trọng vào việc thu
hót FDI của một quốc gia, do vậy nhằm tăng tính cạnh tranh trong việc thu
hut FDI các nước cần phải có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy tính
cạnh tranh cho các yếu tố trên.
1.1.4. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển
kinh tế-xã hội của một quốc gia đang phát triển.
Khủng hoảng nợ những năm 80 của thế kỉ XX khiến cho các nước
đang phát triển rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, để thoát khỏi tình
trạng đó các nước này đã thực hiện một loạt các biện pháp như: cải cách
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
12
Chuyên đề thực tập cuối khóa
kinh tế theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường, áp dụng chiến lược
công nghiệp hoá vào xuất khẩu… Nhưng do khủng hoảng nợ chồng chất,
các nước đang phát triển không thể tiếp tục vay thêm từ các tổ chức quốc tế,
vì vậy họ phải nhìn vào nguồn vốn FDI. Thực tế đã chứng minh đây là nhân
tố quan trọng để các nước đang phát triển thoát khỏi nợ nần và từng bước
công nghiệp hoá đất nước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp này đã có vai trò
quan trọng đối với các nước đang phát triển, cụ thể là:
1.1.4.1. FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu qủa các nguồn lực trong
nước.
Hầu hết các nước đang phát triển đều thiếu vốn để công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước và nguồn vốn FDI đã góp phần quan trọng thúc đẩy
quá trình này Đây là đồng vốn do nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý,
sử dụng và tự chịu trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh của mình, vì
vậy thông qua việc sử dụng nguồn vốn FDI, nhiều nguồn lực trong nước
năm 2000 ( tăng 72% so với năm trước) và từ 45 vạn người và năm 2001 lên
59 vạn người vào năm 2002 ( tăng 31% so với năm trước ). Đến nay, khu
vực FDI đã thu hút trên 66 vạn lao động trực tiếp ( tăng 12% so với năm
trước ), vượt 10% so với dự kiến ban đầu.
Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh trên lãnh thổ các quốc gia đang phát triển, họ sẽ đưa các
chuyên gia giỏi, cũng như phương thức quản lý doanh nghiệp hiện đại và
chuyên nghiệp. Như vậy, những người lao động cũng như các doanh nghiệp
nước đó sẽ có điều kiện và cơ hội để học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn
kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp.
1.1.4.4. Nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty trong
nước.
Thông qua FDI, nhiều nguồn lực ở các quốc gia đang phát triển như
lao động, đất đai, lợi thế địa lý kinh tế, tài nguyên… được phân bổ một cách
hợp lý hơn. Qua đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp ở các nước này có thể
học tập mô hình quản lý hiện đại, mở rộng mối liên kết kinh doanh với
doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp phụ trợ, phụ liệu. Đồng
thời, khu vực đầu tư nước ngoài cũng tạo sức Ðp thúc đẩy các doanh nghiệp
nước sở tại cạnh tranh vươn lên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều
kiện giúp các doanh nghiệp này làm quen với phương thức làm ăn theo tiêu
chuẩn quốc tế.
1.1.4.5. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho các nước
đang phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Thông qua nguồn vốn FDI các nước đang phát triển có thể tiếp tục
nhận kỹ thuật công nghệ mới, tiên tiến trên thế giới để từ đó nâng cao trình
độ khoa học công nghệ từng bước công nghiệp hoá.
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
14
Chuyên đề thực tập cuối khóa
mới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã đóng góp
đáng kể vào phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Để Quảng cáo Việt Nam
phát triển vững chắc đúng định hướng và tạo hành lang pháp lý cho hoạt
động quảng cáo, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về “xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đã đề ra nhiệm
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
15
Chuyên đề thực tập cuối khóa
vụ phải xây dựng luật quảng cáo. Năm 2001, đáp ứng sự phát triển của
quảng cáo, tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạt động này, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội khoá X đã thông qua Pháp lệnh quảng cáo, sau đó là
các văn bản hướng dẫn thi hành của Chính phủ và Bộ Văn hoá- Thông tin.
Theo điều 4-chương I, pháp lệnh quảng cáo:” Quảng cáo là giới thiệu
đến người tiêu dung về hoạt động kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, bao gồm
dịch vụ có mục đích sinh lời và dịch vụ không có mục đích sinh lời”.
1.2.1.2. Các phương tiện quảng cáo.
Ngay từ những năm cuối thập niên 80, hoạt động quảng cáo tại Việt
Nam đã manh nha hình thành và trải qua một quá trình sơ khai từ khi có
nhiều công ty nước ngoài lần lượt vào Việt Nam đầu tư kinh doanh. Sau
ngày Mỹ huỷ bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam vào đầu tháng 2/1994, những
đặc trưng về một nền công nghiệp quảng cáo đã hình thành với những thị
phần ngày càng phát triển theo tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự phát triển của
quảng cáo trong giai đoạn này đáp ứng được sự đòi hỏi của sản xuất hang
hoá, tính hấp dẫn của nền kinh tế mở, sự thúc bách của quá trình hội nhập.
Những chiến dịch quảng cáo có quy mô bắt đầu nở rộ trên các phương tiện
thông tin đại chúng. Người tiêu dùng thu nhận đầy đủ các loại thông tin về
chất lượng hàng hoá, sản phẩm và được sống với một thế giới công khai
chọn lựa để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình. Và như
một tất yếu, các phương tiện quảng cáo như báo chí, truyền hình, đài phát
thanh, quảng cáo trên panô, áp phích… đã phát triển mạnh mẽ tạo nên sự
Cùng quảng cáo sản phẩm trong một không gian rộng lớn là điều các
nhà sản xuất quan tâm trong xã hội hiện đại. Hội trợ triển lãm là cơ hội để
các doanh nghiệp tự giới thiệu mình trước công chúng.
Hình thức quảng cáo trên các bảng, biển, panô, băng rôn, màn hình
đặt nơi công cộng và các phương tiện quảng cáo ở ngoài trời khác, ngày
càng được phát triển đặc biệt là ở các đô thị lớn. Đây là hình thức quảng cáo
tốn Ýt kinh phí, nhưng đem lại hiệu quả cao. Tuy nhiên các nước cần có sự
quy hoạch cụ thể trong hình thức quảng cáo này để nó phát triển một cách
quy củ, góp phần làm đẹp cảnh quan đô thị.
1.2.2. Vai trò của ngành quảng cáo với sự phát triển kinh tế -xã
hội của đất nước.
Từ khi nước ta chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
kinh tế- xã hội nước ta đã có những chuyển biến rất mạnh mẽ. Đời sống của
đại bộ phận nhân dân được nâng cao. Các hoạt động kinh tế- văn hoá- xã hội
ngày một phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vật chất và các
giá trị văn hoá, tinh thần của người lao động. Công cuộc đổi mới đã tạo ra
cơ hội to lớn cho ngành quảng cáo hình thành và phát triển.
Thông qua quảng cáo, người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ phù hợp, góp phần kích thích sự phát triển của sản xuất đáp ứng nhu
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
17
Chuyên đề thực tập cuối khóa
cầu tiêu dùng, đẩy mạnh canh tranh, đổi mới sản phẩm hàng hoá, hạ giá
thành… tạo điều kiện thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
Quảng cáo đã đem lại việc làm cho hàng nghìn người, bao gồm những
người làm quảng cáo chuyên nghiệp, đơn vị kinh doanh dịch vụ quảng cáo
và những người làm các công việc phụ trợ cho quảng cáo như hoạ sỹ, nhà
quay phim, nhiếp ảnh, nhà văn, nhà thơ, thợ in, kỹ thuật viên, báo chí, xuất
bản, tiếp thị…
Chuyên đề thực tập cuối khóa
khu vực là rất lớn và thường xuyên tăng lên. Hiện nay nhu cầu quảng cáo
trên thị trường Việt Nam là 7000 tỷ đồng và tới năm 2020 có thể đạt 24000
tỷ đồng. Với tổng mức nhu cầu như vậy đã làm cho thị trường này rất sôi
động, cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi dịch vụ quảng cáo đa dạng,
phong phú với chất lượng cao. Từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp quảng cáo
phải thường xuyên đổi mới công nghệ, đẩy mạnh hoạt động sáng tạo ý
tưởng, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ lao động… Mặc dù số
lượng các công ty quảng cáo của Việt Nam tăng lên một cách chóng mặt,
cộng thêm sự đa dạng của chúng làm người ta lầm tưởng về một sự trưởng
thành của các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam. Trong khi đó, thực chất
các doanh nghiệp quảng cáo của chúng ta vẫn chỉ đa phần là thực thi những
công đoạn hết sức cụ thể hoặc thuần tuý kỹ thuật như quảng cáo tấm lớn,
quảng cáo ngoài trời, thiết kế đồ hoạ, hay có những doanh nghiệp chỉ
chuyên trách dịch vụ quan hệ công chúng, tổ chức sự kiện, hoặc môi giới tài
trợ và bản quyền truyền hình… Nguyên nhân nào đã dẫn đến sự kém phát
triển đó của các công ty quảng cáo Việt Nam? Đáp án cho câu hỏi này đó là
những nguyên nhân do các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam thiếu vốn,
thiếu công nghệ , thiếu kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực
này.
Các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, họ luôn thiếu vốn để đầu tư mở rộng doanh nghiệp cũng như để
mua các trang thiết bị, công nghệ tiên tiến để phục vô cho ngành nghề của
mình.
Ngoài ra, kinh nghiệm, uy tín và năng lực sáng tạo của các công ty
quảng cáo trong nước cũng là điều đáng phải bàn. Thiếu người quen việc,
giỏi nghề, thiếu tài liệu giáo trình, sách báo chuyên ngành, thiếu trường,
thiếu lớp, thiếu thầy và thiếu không gian học tập thực tế cho lớp trẻ… chính
là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến hệ quả là các nhà quảng cáo Việt Nam
chỉ có được một thị phần và vị trí khiêm tốn. Theo kết qủa điều tra của báo
Và ngành quảng cáo cũng như các ngành khác, không thể đứng ngoài xu
hướng chung này. Mặt khác, những cam kết của Việt Nam trong quá trình
đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong lĩnh vực quảng
cáo đã buộc Việt Nam phải chấp nhận tiến hành mở cửa với những quy định
thay đổi về vốn đầu tư, hình thức đầu tư, phạm vi đầu tư cho các nhà đầu tư
nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam theo quy định quốc tế.
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
20
Chuyên đề thực tập cuối khóa
Chương 2
Thực trạng thu hót FDI vào lĩnh vực
quảng cáo ở Việt Nam trong thời gian qua
2.1. Những quy định của pháp luật về FDI trong lĩnh vực quảng
cáo
2.1.1. Những quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài trong
lĩnh vực quảng cáo.
Xuất phát từ thực tiễn năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam trong lĩnh vực quảng cáo còn hạn chế, Chính phủ đã xếp đầu tư nước
ngoài trong lĩnh vực này vào nhóm các lĩnh vực đầu tư có điều kiện để có
các biện pháp bảo hộ và hỗ trợ cho sự phát triển của ngành công nghiệp dịch
vụ non trẻ này. Trong những năm đầu khi Luật Đầu tư nước ngoài có hiệu
lực, Việt Nam chưa cho phép nhà đầu tư tham gia vào thị trường quảng cáo.
Cho đến khi nghị định 194/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính
phủ về hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam và Thông tư 37/VHTT-
TT ngày 1 tháng7 năm 1995 hướng dẫn Nghị định 194/NĐ-CP được ban
hành, thì nhà đầu tư nước ngoài mới được đầu tư dưới hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh trong thời gian tối đa là 5 năm với doanh nghiệp quảng
cáo Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của thị trường, tại Nghị định 24/2000/NĐ-CP
ngày 31 tháng 7 năm 2000 (Sau đây gọi tắt là “Nghị định 24/2000/NĐ-CP
cáo là việc thực hiện chiến lược tiếp thị, xúc tiến quảng cáo, tư vấn quảng
cáo, thực hiện ý tưởng quảng cáo, phát hành quảng cáo, giới thiệu sản phẩm
quảng cáo đến người tiêu dùng”, nghĩa là dự án được xác định là cung cấp
dịch vụ quảng cáo khi bắt đầu thực hiện chương trình tiếp thị cho đến khi
giới thiệu quảng cáo đến công chúng. Điều này cũng có nghĩa là các dự án
nghiên cứu thị trường, lập kế hoạch tiếp thị, chiến lược phát triển sản phẩm
là những công đoạn trước của quá trình quảng cáo và do vậy không thuộc
nhóm các dự án quảng cáo.
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
22
Chuyên đề thực tập cuối khóa
Cho đến nay đã có thông tư của bộ văn hóa-thông tin sè 79/2005/TT-
BVHTT ngày 08/12/2005 sửa đổi, bổ sung một số quy định thông tư số
43/2003/TT-BVHTT ngày 16/7/2003 của bộ văn hóa thông tin hướng dẫn
thực hiện nghị định số 24/2003/NĐ-CP chi tiết pháp lệnh quảng cáo. Nói
chung, thông tư số 79/2005/TT-BVHTT đã có sửa đổi và bổ sung nhưng
quy địnhvề đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực quảng cáo của nghị định số
24/2003/NĐ-CP nhưng vẫn không có gì thay đổi.
2.1.2. Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực quảng cáo thời gian
qua.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở cửa thị trường là một yêu
cầu bức thiết khách quan. Tuy nhiên, xét điều kiện và năng lực thực tế của
doanh nghiệp quảng cáo trong nước, Chính phủ đã xây dựng một lộ trình
mở cửa nhằm từng bước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào
thị trường, trong khi củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong nước. Điều này được thể hiện rõ trong Hiệp định thương mại
Việt Nam- Hoa Kỳ và Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam-
Nhật Bản.
2.1.2.1. Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ (BTA)
Theo bảng lộ trình cam kết thương mại dịch vụ cụ thể (Phụ lục G,
Đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Đồng thời là
cầu nối quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúc
đẩy phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và tạo điều kiện để Việt Nam chủ
động hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống kinh tế thế giới.
2.2.1.1. Tình hình ĐTNN vào nước ta năm 2006
Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2006 cả nước
thu hút được gần 10 tỷ USD vốn đăng ký mới, tăng 45,1% so với cung kỳ
năm trước, trong đó có khoảng 800 dự án được cấp mới, với tổng vốn đăng
ký trên 7,6 tỷ USD, tăng 60,8% so với cùng kỳ năm trước và 490 lượt dự án
tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với tổng số vốn tăng thêm khoảng 2,4 tỷ
USD. Quy mô vốn đầu tư trung bình cho một dự án trong năm 2006 đạt 9,4
triệu USD/dự án, điều này chứng tỏ số lượng dự án có quy mô lớn đã tăng
lên
Bức tranh về đầu tư nước ngoài ở nước ta trong năm 2006 có màu sắc
phong phú hơn với sự xuất hiện của một số dự án mới có quy mô lớn từ các
tập đoàn xuyên quốc gia Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, như dự án của công
ty thép Posco có vốn đầu tư 1,126 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Intel với
tổng số vốn đầu tư 1 tỷ USD, dự án của Tập đoàn Tycoons với tổng số vốn
dr 556 triệu USD, dự án Hồ Tây vốn đầu tư 314,1 triệu USD, dự án Winvest
Investment với vốn đầu tư 300 triệu USD… Nhiều dự án được cấp phép đã
tích cực triển khai thực hiện như các nhà máy của Công ty Hoya Glass
Disle, Canon, Matsushita, Brothers, Honda… Ước tính vốn thực hiện trong
năm 2006 đạt khoảng 4,1 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm 2005
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
24
Chuyên đề thực tập cuối khóa
Hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài tiếp tục khả quan. Doanh thu của các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài trong năm 2006 đạt 29,4 tỷ USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ năm
SV: Đậu Thị Quỳnh Trang Líp: K42/08.01
25