265 Quản trị nhân lực tại Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng Long - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Lời mở đầu

Trải qua quá trình dài hành thành và phát triển, trường Đại học Kinh Tế
Quốc Dân đã đào tạo được một đội ngũ cử nhân kinh tế hùng hậu ngày càng
tăng cả về số lượng và chất lượng, với hệ thống các khoa và chuyên ngành
phong phú về nhiều lĩnh vực trong ngành kinh tế, chất lượng các sinh viên tốt
nghiệp ra trường với một hệ thống kiến thức kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và
thực hành. Với phương trâm học đi đôi với hành, sau 7 kỳ học tập nghiên cứu
các môn học đại cương và chuyên ngành ở trường, cùng với sự tạo điều kiện
giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Quản Trị Kinh Doanh, em đó có cơ hội và
thời gian thực tập tại Công ty cổ phần mỹ nghệ Thăng Long, được áp dụng
những kiến thức lý thuyết về Quản trị kinh doanh vào thực tế tại doanh
nghiệp. Đây là một doanh nghiệp được thành lập từ năm 1989, mới trải qua
quá trình cổ phần hoá, với gần 20 năm hoạt động, Công ty đó có nhiều đóng
góp cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
(XNK) nói riêng.
Với đường lối đổi mới và chính sách của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế
nước ta đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới. Một mốc lịch sử
kinh tế rất quan trọng đó là ngày 11/1/2007 Việt Nam trở thành thành viên
chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Trong bối cảnh đó, các
doanh nghiệp Việt Nam có rất nhiều cơ hội để phát triển và cũng phải đương
đầu với nhiều thử thách mới của nền kinh tế thị trường. Do đó các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững thì phải nâng cao năng suất lao
động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên
thương trường.
Bất cứ một tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con
người hay nguồn nhân lực của nó. Do đó có thể nói nguồn nhân lực của một tổ
chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn
nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A

SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Chương I: Khái quát chung về Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng
Long
Chương II: Thực trạng QTNL tại Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ
Thăng Long
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác QTNL tại Công ty cổ
phần XNK mỹ nghệ Thăng Long
Do thời gian nghiên cứu có hạn và các kiến thức còn hạn chế nên bài
chuyên đề này em chỉ đề cập được đến những vấn đề nổi cộm nhất trong công
tác quản trị lao động tại Công ty nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và bạn bè để có thể hoàn thành tốt bài chuyên đề của mình.
Được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Thầy giáo – TS Trần Việt
Lâm trong quá trình thực tập, em đã học hỏi được nhiều kiến thức và hoàn
thành tốt bài chuyên đề tốt nghiệp của mình. Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin
chân thành cảm ơn thầy!
Bên cạnh đó, sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị trong phòng tổ chức
và ban lãnh đạo Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng Long cũng là một yếu
tố không thể thiếu để em có thể hoàn thành được bài viết của mình!

SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Chương I: Khái quát chung về Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng Long
I - Tổng quan về Công ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng Long
1. Thông tin chung về Công ty:
Công ty xuất nhập khẩu mỹ nghệ Thăng Long là một công ty kinh doanh
mới hoàn tất quá trình cổ phần hoá, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực XNK đồ
thủ công mỹ nghệ. Hoạt động chủ yếu trên ba lĩnh vực: xuất khẩu, nhận nhập
khẩu uỷ thác và buôn bán kinh doanh trong nước. Công ty có thực hiện gia công

tiên "Công ty XNK thủ công Mỹ nghệ và dịch vụ" do sát nhập hai công ty
thành viên là "Công ty Mỹ nghệ xuất khẩu" và "Công ty sản xuất gia công
dịch vụ hàng xuất khẩu".
Theo quyết định số 859/KTĐN-TCCB, ngày 30/12/1989 "Công ty XNK
thủ công Mỹ nghệ và dịch vụ" được đưa lên trực thuộc Bộ Thương mại và đổi
tên thành "Công ty XNK thủ công Mỹ nghệ Thăng Long".
Dựa trên quyết định 388/CP của Chính phủ chủ trương sắp xếp các
doanh nghiệp Nhà nước, ngày 07/05/1993 Bộ trưởng Bộ Thương mại ký quyết
định số 481/TM-TCCB đổi tên công ty thành "Công ty XNK Mỹ nghệ Thăng
Long" (viết tắt là ARTEX Thăng Long).
Cuối năm 1993, công ty đã cắt một bộ phận sản xuất bao bì sang liên
doanh với hãng Brilian của Anh để thành lập một liên doanh có tên là Ha Noi
Internation Packing Comporation (HIPC), tổng số vốn pháp định của liên
doanh là 1 triệu USD, trong đó phía Việt Nam góp 25% tổng số vốn.
Tháng 08/1994, công ty tiếp tục tách một bộ phận sản xuất may mặc
xuất khẩu sang liên doanh với hãng Marochi của Nhật Bản có chi nhánh tại
Hồng Kông để thành lập công ty may mặc xuất khẩu có tên là Arksun với tổng
số vốn khoảng 1 triệu USD.
Từ khi ra đời, với gần 20 năm tồn tại trên thị trường, Công ty cổ phần
XNK mỹ nghệ Thăng Long đã không ngừng phấn đấu và phát triển, đã đạt
được nhiều thành tích đáng kể.
Địa chỉ: 164 Tôn Đức Thắng - Đống Đa - Hà Nội; ĐT: 8.232.871
Email: FAX: 8.456.731
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Mã số thuế: 01 00106881
TK: 361 111 000 320 Tại ngân hàng công thương Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: Thăng Long art article import export company
Giấy phép kinh doanh số: 108246 ngày 14/5/1993 của Trọng tài kinh tế
NN.

Hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn, có lãi, kim ngạch XNK tăng mạnh,
mạng lưới thị trường được mở rộng, mặt hàng kinh doanh của công ty đa
dạng, đã mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác lớn như: Anh, Pháp, Đức,
Nhật Bản, Hàn Quốc… Cũng trong thời gian này, công ty đang gấp rút hoàn
thành tiến trình cổ phần hóa, bắt đầu từ ngày 26/4/2005.
Kể từ khi thành lập đến nay, Artex Thăng Long có một quá trình phát
triển về quy mô cũng như chức năng, phương thức hoạt động gắn liền với sự
thay đổi của nền kinh tế xã hội Việt Nam. Từ chỗ được bao cấp chuyển sang
tự hạch toán kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước. Được sự quan tâm lãnh đạo chỉ đạo của Bộ Thương Mại, sự hợp tác
giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể, sự quan tâm của bạn bè đồng nghiệp
cùng với những nỗ lực của chính bản thân mình, công ty đã có những thành
tựu đáng kể: xây dựng được niềm tin ở bạn hàng, không ngừng mở rộng thị
trường kinh doanh, ngày càng tìm được nhiều đối tác từ đó tăng doanh thu và
lợi nhuận hàng năm.
+ Giai đoạn 2005 đến nay: Cùng với việc tiếp tục các hoạt động kinh
doanh (SXKD), phát triển các thị trường cũ, khai thác các thị trường tiềm
năng, một điều đáng chú ý trong giai đoạn này là công ty đã hoàn thành quá
trình cổ phần hóa...
Như vậy, trải qua gần 6 năm chuẩn bị các công viêc cần thiết, đến ngày
14/5/2007 công ty đã chính thức hoàn thành việc cổ phần hóa doanh nghiệp.
Ngày 15/11/2007, theo quyết định số 1633/QĐ - BCT của Bộ Công Thương
( do Bộ Thương Mại và Bộ Công Nghệ sát nhập), giấy phép kinh doanh số
0103017209, công ty đổi tên thành Công Ty cổ phần XNK mỹ nghệ Thăng
Long, với tên giao dịch quốc tế là Artex.
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Qua từng năm phát triển công ty đã tập hợp được một đội ngũ lao động
có chuyên môn và trình độ tay nghề cao. Lao động của công ty đều được
hưởng lương và thưởng xứng đáng, các khoản BHYT, BHXH được công đoàn

Chi nhánh
TPHCM
®¹i héi ®ång cæ ®«ng
Héi ®ång qu¶n
trÞ
Ban kiÓm so¸t
Tæng gi¸m ®èc
Phã tæng
Gi¸m ®èc
Phßng
tchc
Phßng
tckh
Phßng
thÞ
tr­êng
Chi nh¸nh
T¹i tp.hcm
Phßng
kinh
Doanh 1
Phßng
kinh
doanh 2
Phßng
kinh
Doanh 4
Phßng
kinh
Doanh 6

* Phòng thị trường (Kinh tế đối ngoại):
- Nghiên cứu phân loại thị trường, mở rộng thị phần, tìm kiếm bạn hàng.
- Giao dịch mọi vấn đề liên quan đến yếu tố nước ngoài.
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
- Tổ chức và quản lý trang Web, mạng tin học nội bộ...
*Các phòng kinh doanh (phòng nghiệp vụ): thực hiện kinh doanh xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, phân theo đối tượng khách hàng. Khi có phương
án kinh doanh trình Phòng tài chính - kế hoạch kiểm tra trước khi giám đốc ký
duyệt sau đó các phòng tự đàm phán ký kết hợp đồng.
Phòng NV1: Xuất nhập khẩu hàng thêu ren
Phòng NV2: Xuất nhập khẩu mỹ nghệ
Phòng NV5: Xuất nhập khẩu thời trang
Phòng NV6: Xuất nhập khẩu hàng thêu ren
Phòng NV9: Nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất
*Chi nhánh của công ty tại TPHCM: thực hiện hạch toán độc lập, chịu sự
quản lý trực tiếp của giám đốc, hàng tháng phải trình báo cáo cho giám đốc,
cuối quý và cuối niên độ kế toán phải trình những số liệu liên quan lên các
phòng ban tại trụ sở chính.
Quản lý là một nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển. Căn cứ vào đặc điểm tổ chức kinh doanh cũng như
tính chất phức tạp của công việc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu mỹ nghệ
Thăng Long đó lựa chọn được mô lý hiệu quả, gọn nhẹ.
III – Đặc diểm chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty:
Công ty xuất nhập khẩu mỹ nghệ Thăng Long chủ yếu hoạt động trên ba lĩnh
vực: xuất khẩu, nhận nhập khẩu uỷ thác và buôn bán kinh doanh trong nước.
Công ty có thực hiện gia công nhưng với quy mô nhỏ và không thường xuyên.
Hoạt động chính của công ty là xuất nhập khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ
đa dạng về chủng loại, chất liệu.
* Các hoạt động kinh doanh của công ty:

SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
Hàng sơn mài – gỗ mỹ nghệ cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong kim
ngạch xuất khẩu của Công ty những năm gần đây. Tuy nhiên, mặt hàng này
còn khá đơn điệu về kiểu dáng, mẫu mã ít thay đổi và chất lượng chưa cao.
IV – Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn
2003-2007:
1. Kết quả về sản phẩm:
Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty trong những năm gần đây
như đã phân tích ở trên đó là: dao cạo râu, loa, amli, hóa chất, vải, và một vài
mặt hàng khác với kim ngạch ít hơn. Giai đoạn những năm gần đây, tổng kim
ngạch hàng nhập khẩu của công ty tăng cao so với năm trước đó. Tổng kim
ngạch NK từ năm 2004 đển năm 2005 tăng từ 14,439 triệu USD đến 14,703
triệu USD. Con số này tiếp tục tăng lên: từ năm 2006 đến 2007 tăng từ 17,552
triệu USD đến 21,170 triệu USD. Đây là một dấu hiệu rất khả quan trong kinh
doanh XNK hàng hóa. Về đối tượng các mặt hàng NK, các mặt hàng chủ yếu
của Công ty vẫn là dao cạo râu, loa âmli, hóa chât, vải sợi... Trong đó hiện
năm 2007 mặt hàng NK nhiều nhất của Công ty vẫn là dao cạo râu (5,318
triệu USD – chiếm25,12%). Để theo dõi tốt hơn, em xin đưa ra những con số
cụ thể trong các bảng số liệu dưới đây:

Bảng 1: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu 2004 - 2007
Mặt hàng
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Giá trị
(TrUSD)
CC %
Giá trị
(TrUSD)
CC %

may...Cũng trong năm 2007 kim ngạch XK của mặt hàng thêu ren vẫn chiếm
tỷ trọng lớn nhất như các năm trước đó (3.614 triệu USD, chiếm 30,27%).
Bảng 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 2004 – 2007
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Giá trị
(TrUSD)
CC
%
Giá trị
(TrUSD)
CC
%
Giá trị
(TrUSD)
CC
%
Giá trị
(TrUSD)
CC
%
Thêu ren 2.242 35.73 2.427 34.82 2.911 32.12 3.614 30.27
Gốm sứ 1.369 21.82 1.537 22.05 2.173 23.98 3.073 25.74
Sơn mài, gỗ mỹ
nghệ
0.870 13.87 1.026 14.72 1.330 14.68 1.853 15.52
Cói, dừa, mây 0.750 11.95 0.772 11.07 1.019 11.24 1.523 12.76
Dệt may 0.658 10.49 0.673 09.65 0.821 09.06 1.031 08.64
Hàng khác 0.385 06.14 0.536 07.69 0.808 08.92 0.844 07.07
Tổng
6.274 100,00 6.971 100,00 9.062 100,00 11.938 100.00

Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007

Giá trị
(TrUSD)
CC %
Giá trị
(TrUSD)
CC %
Giá trị
(TrUSD)
CC %
Giá trị
(TrUSD)
CC %
EU
2.681 42.73 2.987 42.85 3.855 42.54 4.951 41.47
Châu Á –
Thái Bình
Dương
1.798 28.66 1.972 28.29 2.521 27.82 3.356 28.11
Đông Âu -
NSG
0.931 14.84 1.041 14.93 1.402 15.47 1.897 15.89
Thị trường
khác
0.864 13.77 0.971 13.93 1.284 14.17 1.734 14.53
Tổng
6.274 100.00 6.971 100.00 9.062 100.00 11.938 100.00
Nguồn: Phòng Tài chính kế hoạch
Cơ cấu nhập khẩu theo thị trường những năm gần đây có xu hướng cao

Quốc
3.750 25.97 3.757 25.55 4.358 24.83 5.191 24.52
Singapo
3.161 21.89 3.183 21.65 3.812 21.72 4.522 21.36
Hàn Quốc
3.151 21.82 3.237 22.02 3.837 21.86 4.668 22.05
Thị trường
khác
1.755 12.16 1.822 12.39 2.259 12.87 2.773 13.10

Tổng
14.439 100.00 14.703 100.00 17.552 100.00 21.170 100.00
Nguồn: Phòng Tài chính kế hoạch
3. Kết quả về doanh thu và lợi nhuận:
Công ty ARTEX Thăng Long đã từng phải trải qua những giai đoạn hết
sức khó khăn tưởng chừng như không thể tồn tại được, nhưng cho đến nay
Công ty lại đạt được những thành tựu to lớn tròn hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Công ty đã đảm bảo kinh doanh có lãi và nộp ngân sách Nhà
nước, đồng thời mức thu nhập của cán bộ công nhân viên ngày càng được
nâng cao. Công ty cũng đã có những vị thế nhất định trong lĩnh vực kinh
doanh, ngành kinh doanh của mình.
Trong 3 năm gần đây, Công ty đã đạt được những thành công đáng kể,
cho thấy một sự phát triển đồng đề qua các thời. So với năm 2004,doanh thu
năm 2005 tăng lên 9,41%; tức là tăng 20.300.635.186 đồng. Tuy nhiên giá vốn
hàng bán. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng do có
sự bất ổn định của các hoạt động kinh doanh.Nhưng điều này không làm ảnh
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
hưởng nhiều đến kết quả kinh doanh, và lợi nhuận sau thuế vẫn tăng lên đều
qua các năm: năm 2007 lợi nhuận sau thuế là 1,3 tỷ đồng, tăng 18,2%.

1.Doanh thu Tỷ đồng 216 272 320 56 125.9% 48 117.6%
2.Lợi nhuận sau
thuế
Tỷ đồng 0.215 1.1 1.3 0.885 511.6% 0.2 118.2%
3.Kim ngạch
XNK
Triệu
USD
21.674 26.614 33.108 4.940 122.8% 6.494 124.4%
4.Đóng góp cho
ngân sách Nhà
nước
Tỷ đồng 0.98 1.3 1.7 0.32 132.7% 0.4 130.8%
5.Số lao động Người 152 128 97 -24 84.2% -31 75.8%
6.Thu nhập bq lao
động
Triệu
đồng
1.7 2.3 2.8 0.6 135.3% 0.5 121.7%
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
I – Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác QTNL của Công ty:
Các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có tác
động rất lớn đối với công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Các yếu tố
này có thể tác động theo chiều hướng khác nhau, ở mức độ khác nhau và vào
những thời điểm có thể không giống nhau. Vì vậy doanh nghiệp phải luôn chủ
động trong việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo để tác
động kịp thời, tạo điều kiện để công tác đào tạo và phát triển được diễn ra
thuận lợi, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp.
1. Các yếu tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp:
Bao gồm: mục tiêu, chiến lược, chính sách của doanh nghiệp; cơ sở vật chất

đào tạo một cách cụ thể, phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình.
Xét về trình độ chuyên môn, một doanh nghiệp mà có đội ngũ lao động ở
trình độ chuyên môn thấp thì nhu cầu đào tạo, phát triển càng cao. Do tâm lý
muốn nâng cao trình độ và thăng tiến hơn trong công việc. Bên cạnh đó nếu
doanh nghiệp có cơ cấu lao động già thì nhu cầu phát triển đội ngũ kế tục là
cần thiết.
• Nguồn tài chính:
Đây là nguồn cung cấp chi phí cho công tác đào tạo và phát triển của doanh
nghiệp. Chi phí hạn hẹp gây khó khăn cho việc lựa chọn đối tượng đào tạo,
phương pháp đào tạo… Do vậy, dự tính chi phí cho đào tạo và phát triển cũng
là một khâu rất quan trọng trong quy trình đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực.
• Sự thực hiện các chức năng khác của QTNL:
Đào tạo và phát triển có quan hệ với các nội dung khác củ QTNL như: kế
hoạch hóa nguồn nhân lực, tuyển mộ, tuyển chọn, khuyến khích nhân sự, phân
tích công việc, đánh giá thực hiện công việc…
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là cơ sở tạo tiền đề cho các công tác
trên được thực hiện tốt. Ngược lại các hoạt động đó lại có tác dụng hỗ trợ cho
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
công tác đạo tạo có hiệu quả. Điều này sẽ tạo điều kiện cho người lao động
tích cực tham gia đào tạo hơn và thu được hiệu quả cao nhất.
2. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp:
Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp bao gồm: chủ trương,
chính sách của Nhà nước; môi trường pháp lý của doanh nghiệp; khoa học
công nghệ…
• Môi trường pháp lý của doanh nghiệp và các chính sách của Nhà nước:
Chủ trương, chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt
động của doanh nghiệp nói chung cũng như công tác đào tạo và phát triển nói
riêng. Trong đó có những chính sách về lao động việc làm, đó là những công

cách suy nghĩ và nếp sống của mọi người, tính chất công việc…Như vậy có
thể thấy khoa học kỹ thuật phát triển không chỉ thuần túy là sự thay đổi của
máy móc mà còn liên quan đến con người. Do vậy con người cần phải được
đào tạo để ít nhất có thể vận hành được các thiết bị này, sau đó nâng cao kỹ
năng quản lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề cũng như thay đổi thái
độ và tác phong làm việc nhằm thích ứng với điều kiện và cơ chế làm việc
mới. Tác động thay đổi tích cực này góp phần kích thích mạnh mẽ người lao
động học tập nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc tạo cơ hội cải thiện
mức thu nhập của mình.
Tóm lại, đối với mỗi doanh nghiêp thì việc phân tích ảnh hưởng của các
nhân tố tác động đến hoạt động của doanh nghệp mình là vô cùng cần thiết.
Phân tích các nhân tố sẽ giúp tìm ra những thuận lợi và khó khăn, những nhân
tố thúc đẩy và kìm hẫm sự hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, từ đó đưa ra
các biện pháp thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho các yếu tố tích cực phát
triển và giảm bớt các yếu tố tiêu cực. Đối với hoạt động đào tạo và phát triển
cũng vậy, những nhân tố này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình này. Vì
vậy, những người làm công tác đào tạo phải biết được xu hướng thay đổi của
các nhân tố để cải tiến đổi mới các phương pháp cũng như quy trình đào tạo
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp mình cũng như
có thể đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của công việc.
II – Thực trạng công tác QTNL của Công ty:
1. Công tác tuyển dụng lao động tại công ty:
1.1.Tiêu chuẩn tuyển dụng:
Những quy định chung về tuyển dụng:
+ Việc xem xét tuyển dụng lao động dựa trên những nguyên tắc sau:
- Căn cứ vào kế hoạch hóa nguồn nhân lực của Công ty hàng năm;
- Căn cứ vào nhu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty;
- Căn cứ vào ngành nghề đào tạo, trình độ, khả năng của người lao động

biểu mẫu.
+ Phòng Tổ chức cân đối, tổng hợp nhu cầu bổ sung lao động của các đơn
vị theo biểu mẫu quy định trình GĐ Công ty phê duyệt.
+ Sau khi được duyệt, phòng Tổ chức sẽ thông báo tuyển dụng lao động,
tiếp nhận và xem xét hồ sơ, sơ tuyển, phỏng vấn. lập danh sách trích ngang hồ
sơ đạt yêu cầu tuyển dụng báo cáo GĐ Công ty.
+ Phỏng vấn:
- Đối với lao động giản đơn: trưởng phòng Tổ chức kết hợp trưởng các
bộ phận sử dụng lao động phỏng vấn, trình kết quả phỏng vấn để GĐ duyệt.
- Đối với lao động có trình độ Đại học trở lên: phòng Tổ chức bố trí để
GĐ trực tiếp phỏng vấn và quyết định tuyển dụng lao động.
- Trong trường hợp phải thi tuyển: phòng Tổ chức thành lập hội đồng thi
tuyển, các thí sinh làm bài và hội đồng thi tuyển chấm điểm (hoặc thuê ngoài
chấm). Nguyên tắc xét chọn lấy người có điểm từ trên cao xuống.
+ Khám sức khỏe: sau khi phỏng vấn, thi tuyển đạt yêu cầu, phòng Tổ
chức phối hợp cùng phòng Y tế thực hiện việc khám sức khỏe cho người lao
động. Nếu đủ sức khỏe thì tuyển vào và ký hợp đồng thử việc.
+ Công tác huấn luyện; phòng Tổ chức cho lao động mới tuyển đọc giới
thiệu chung về Công ty, học nội quy lao động, an toàn lao động, quy chế dân
chủ, giới thiệu hệ thống quản lý chất lượng.
SV: Lã Phan Quỳnh Chi Lớp: QTKD TH 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Việt Lâm
+ Ký hợp đồng thử việc: phòng Tổ chức soạn thảo HĐLĐ (HĐ thử việc)
trình GĐ công ty ký và đóng dấu. Người lao động hưởng mức lương thử việc
theo thỏa thuận, nhưng không quá 2 lần mức lương tối thiểu do Nhà nước quy
định và được thêm tiền phụ cấp ăn trưa theo quy định chung của Công ty do
Công ty chi trả. Thời gian thử việc theo quy định của Luật lao động.
+ Phòng Tổ chức giao lao động được tuyển cho đơn vị trực tiếp sử dụng
lao động. Trưởng đơn vị lập kế hoạch giao việc, huấn luyện, kèm cặp nghề,
thường xuyên kiểm tra tho dõi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status