SVTH: Lª SÜ TuÊn - Líp: Ng©n hµng 44C 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hầu hết sự phát triển về kinh tế của các quốc gia trên thế giới
hiện nay và trong tương lai đều có sự tham gia của các khu vực kinh tế thuộc
Nhà nước, Tư nhân, và nước ngoài. và mỗi khu vực này này đều có những
đóng góp nhất định đối với mỗi nền kinh tế cụ thể, tuy nhiên theo kinh
nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới thì khu vực kinh tế tư nhân là
khu vực có đóng góp quan trong trong thúc đẩy qua trình phát triển của họ,
mà khu vực kinh tế tư nhân thường là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngay
cả Mỹ một nước có nền kinh tế hàng đầu thế giới, có các công ty xuyên quốc
gia khổng lồ, thì việc đóng góp cho nền kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ của khu vực tư nhân. Đối với việt nam thì khu vực kinh tế tư nhân
đã có những đóng góp to lớn những cho kinh tế nước nhà. Nhưng khu vực
kinh tế này vẫn có những khó khăn trong đó khó khăn về vốn là vấn đề nan
giải hiện nay. Hiện nay tôi đang thực tập tại VIETCOMBANK _Ba Đình, nên
tôi chọn đề tài: "Mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư
nhân của ngân hàng ngoại thương nội chi nhánh _ Ba Đình", với dung
gồm:
Chương I : Tổng quan về tín dụng và khu vực kinh tế tư nhân.
Chương II : Thực trạng hoạt động tín dụng của NHNT- CN Ba Đình đối với
khu vực kinh tế tư nhân.
Chương III : Một số ý kiến để mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực
kinh tế tư nhân.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
+ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi: đây là nguyên tắc
quan trọng nhất vì vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động. Ngân hàng
phải tri trả khi khách hàng đến rút tiền. Nếu khoản tín dụng không được hoàn
trả đúng hạn điều này có thể làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh
khoản.
để tránh điều nay ngân hàng phải quy định kỳ hạn nợ, khi đến hạn thì khác
hàng phải trả nếu không thì ngân hàng có thể tự động trích số dư tài khoản
tiền gửi của người đi vay hay phát mại tài sản đảm bảo.
+ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: vì khi cho khách hàng vay
thì ngân hàng còn phải thẩm định phương án sản xuất từ đó mới có phương
án giải ngân. Nếu trong quá trình nếu phát hiện có vấn đề trong việc sử dụng
tiền thì ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước thời hạn trong hợp đồng tín
dụng, nếu thu không đủ khoản tiền đã cấp thì khoản tiền còn lại chưa thu
được sẽ được chuyển thành nợ quá hạn. nguyên tắc này rất quan trọng, khi
ngân hàng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và
yêu cầu của nền kinh tế trong những giai đoạn cụ thể. Còn khi cung ứng cho
các đơn vị sản xuất kinh doanh thì phải đáp ứng các mụch đích trong sản xuất
kinh doanh để thúc đẩy các đơn vị hoàn thành các mục tiêu của mình.
+ Vốn vay phải có tài sản đảm bảo: trong nền kinh tế thị trường các hoạt
động nói chung và các hoạt động kinh tế nói riêng diễn ra vô cùng đa dạng và
phức tạp, không có nhà quản trị ngân hàng nào có thể đự đoán chính xác
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
những diễn biến có thễ xảy ra trên thị trường, do đó rủi ro là không thể tránh
khỏi, để giảm thiểu rủi ro thì các ngân hàng càng tao ra được nhiều khoản thu
càng tốt cho các khoản cho vay của mình và đảm bảo chình là nguồn thu thứ
hai sau nguồn thu thứ nhất như: vốn lưu động, khấu hao, lợi nhuận, thu nhập
…
Đảm bảo tín dụng như là một phương tiện cho người chủ ngân hàng có
thêm một nguồn thu khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản, tài
đồng tín dụng.
+ Chiết khấu thương phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó, vì nó
đem lại ngay cho khách hàng một số tiền bình thường mà chỉ được chi trả khi
nó đến hạn thanh toán trong thương phiếu.
Nhưng về mặt pháp lỳ thì không phải là một khoản cho vay, vì ngân
hàng không cho khách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả cho ngân
hàng, mà ở đây ngân hàng ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến
hạn đổi lại ngân hàng nắm quyền sở hữu thương phiếu đó, vì vậy ngân hàng
sẽ được đòi lại khoản ứng trước đây bằng cách truy đòi trái phiếu khi đến hạn.
Như vậy chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước cho giá trị một thương
phiếu đổi lấy việc chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu.
+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán hay còn gọi là cho vay uỷ
nhiêm thu: Đây là trường hợp ngân hàng mua đứt các chứng quyền để đi đòi
nợ, bao thanh toán có thể được xác định là một hợp đồng, mà trong đó các
ngân hàng mua đứt các trái quyền của người bán đối với người mua là khách
hàng của ngân hàng.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
1.1.2.3. Tín dụng qua chữ ký.
Tín dụng qua chữ ký có thể là kết quả của chữ ký của ngân hàng, trong
hình thức này ngân hàng không phải bỏ tiền ra ngay mà ngân hàng cam kết sẽ
trả một khoản nợ của khách hàng của mình khi mà khách hàng của mình
không thực hiện đúng cam kết trả nợ như đã thoả thuận trước, do bảo lãnh
bằng uy tín của mình nên bảo lãnh của ngân hàng còn gọi là bảo lãnh qua
chữa ký.
Về tính pháp lý thì loại tín dụng này dựa vào luật bảo lãnh cũng như
các cam kết bảo lãnh và tái bảo lãnh,
Bảo lãnh là đưa ra những cam kết dưới hình thức cấp chứng thư và hạch toán
theo tài khoản ngoại bảng, các ngân hàng chỉ đưa vào tài khoản nội bẳng khi
mà ngân hàng thực hiện chi trả cho khách hàng của mình ,bảo lãnh gồm:
không thể chuyển nhượng để thu hồi vốn trước thời hạn định.
1.1.3.2.Tín dụng ngân quỹ.
Tín dụng ngân quỹ là để thoả mãn nhu cầu vốn lưu động của các doanh
nghiệp.
+ Tín dụng huy động trái quyền: đây là việc huy động các trái quyền đối
với khách hàng trong nước và nước ngoài, khi đó khoản tín dụng này nhằm sử
dụng ngay giá trị của các trái quyền sau khi trừ đi khoản tiền chiết khấu mà lẽ
ra đến hạn mới được nhận.
+ Tín dụng ngân quỹ: nhằm đảm bảo sự cân đối ngân quỹ của doanh
nghiệp ngân quỹ của doanh nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
này vì có sự chênh lệch về thời gian các khoản chi phí và thu nhập của doanh
nghiệp.
- Tạm ứng hay vượt chi tài khoản: hình thức này giúp cho doanh nghiệp
đối phó với thiếu vốn lưu động rất ngắn, trong hạn mức và thời gian quy định
thì nó đảm bảo cho tài khoản của doanh nghiệp dư nợ hay vượt chi, hình thức
này không có sự đảm bảo nội tại nào mà chỉ căn cứ vào tình hình tài chính,
mức độ và điều kiện hoạt động của tài sản.
- Tín dụng ngân quỹ thuần tuý : khi khoản tín dụng có tính chất dài hơn
thì ngân hàng có thể cho vay theo hình thức có thể là vượt chi tài khoản với
thời gian dài hơn và kèm theo những điều kiện đảm bảo cho khoản vay đó
hoặc có thể chiết khấu chứng từ có kỳ hạn cố định, các chứng từ này có thể
gọi là các chứng từ tài chính. Về thời hạn thì có thể là tín dụng tuần hoàn để
đáp ứng nhu cầu thường xuyên, hay thời vụ để đáp ứng nhu cầu có tính chất
thời vụ của doanh nghiệp.
1.1.1.3. Tín dụng thuê mua.
Hoạt động thuê mua bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp sản xuất hoặc
cung cấp các thiết bị, nhà cửa lớn, thời gian sử dụng lâu dài, mặt khác do
người mua không đủ tiền hay họ chỉ cần sử dụng trong thời gian chưa hết thời
+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thường là tài sản
cố định do đó nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là
thời hạn cơ bản là thời hạn mà người đi thuê không được huỷ ngan hợp đồng
do đó tiền mà ngân hàng thu được phải đủ cả gốc và lãi và thời hạn gia hạn
thêm là người đi thuê có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp…, trong nghiệp vụ thuê
mua thì Ngân hang không cam kết bảo dưỡng tài sản, không chịu trách nhiệm
đối với những thiệt hại với tài sản.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thương.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động tài trợ
ngoại thương có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thương mại quốc tế, làm
giảm rủi ro cho những nhà xuất – nhập khẩu vì những khó khăn như:địa lý,
tôn giáo, chính trị …các hoạt động ngoại thương gồm:
+ Tài trợ xuất khẩu gồm có các hình thức:
- Tài trợ trong trường nhờ thu kèm chứng từ: là nhà xuất khẩu chuyển
các chứng từ cho Ngân hàng nhờ thu, ngân hàng sẽ chuyển các chứng từ này
tới Ngân hàng cần giao dịch, khi được chấp nhận thanh toán thì nhà xuất khẩu
mới giao hàng.
- Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu: là chiết khấu các hối phiếu kỳ hạn
không thể huỷ ngang khi nó chưa đến hạn và hối phiếu này được bên xuất
nhập khẩu không huỷ ngang.
-Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ: là hình thức tín dụng Ngân hàng
dựa trên khuôn khổ chiết khấu bộ chứng từ khi chưa đến hạn thanh toán, tỷ lệ
thanh toán dựa phương thức chiết khấu. Thứ nhất là chiết khấu truy đòi nghĩa
là Ngân hàng có quyền đòi lại nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà nhà xuất khẩu
không thanh toán do đó lãi suất thấp. Thứ hai là chiết khấu miễn truy đòi
nghĩa là Ngân hàng chịu hoàn toàn rủi ro nếu phía đối tác không thanh toán
khi đao hạn do đó lãi suất cao.
- Tam ứng cho nhà xuất khẩu: Ngân hàng có thể tài trợ bằng cách tạm
được bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá.
- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ được Ngân
hàng phía người nhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi người xuất
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
khẩu có nhu cầu về tiền, Ngân hàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết
khấu cho bên bán và giữa lại hối phiếu, hối phiếu có thể được bán hay chiết
khấu tại Ngân hàng nhập khẩu khi đến hạn.
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức
này nhà nhập khẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối
phiếu tự nhận nợ, hối phiếu này do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát
hành và chuyển đến cho nhà nhập khẩu, và nhà nhập khẩu dùng hối phiếu này
để chiết khấu nhận tiền tại Ngân hàng phục vụ mình.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
1.2. KHU VỰC KINH TẾ TƢ NHÂN:
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật thì khu vực
kinh tế tư nhân có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội
cho những quốc gia này, chẳng hạn như Mỹ là một nước mà nỗi tiếng có
nhiều công ty đa quốc gia nổi tiếng toàn cầu, nhưng đó chỉ là bề nỗi của nền
kinh tế mỹ, còn khu vực kinh tế tư nhân mới là đóng góp lớn cho nền kinh tế
Mỹ, quay trở về Việt Nam thì khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành và phát
triển khá sớm nhưng do nhiều hoàn cảnh của đất nước mà khu vực kinh tế này
có những lúc đã bị lãng quên trong một thời gian dài, nhưng do cũng như
những nứơc khác trên thế giới, khu vực này ngày càng khẳng định được vai
trò của mình trong nên kinh tế nước nhà, và trong những năm gần đây đã
được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo nhiều điều kiện cho khu vực kinh tế
này phát triển.
1.2.1. Chủ trƣơng của Đảng về kinh tế tƣ nhân.
Khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện từ trước cách mạng tháng 8,
vực kinh tế tư nhân có những lúc được thừa nhận rồi không rồi lại được thưa
nhận, nhưng với định hướng của đảng được khẳng đinh trong đại hội IX của
Đảng thì trong những năm ngần đây khu vực kinh tế này đã có những bước
phát triển về mọi mặt, khu vực kinh tế này đã, đang và sẽ có những đóng góp
không nhỏ vào các mặt kinh tế xã hội của Việt Nam. Và ngày càng khẳng
định được chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế của Việt Nam, và điều này
được thể hiện qua những mặt sau:
1.2.2.1. Phát triển về số lượng.
Với sự khuyến khích mạnh mẽ và tạo nhiều điều kiện thuân lợi của Nhà
nước thì khu vực kinh tế tư nhân đã có nhưng đáng kể về số lượng.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
Về hộ kinh doanh cá thể: số hoạt động từ 1498611 hộ năm 1992 và tăng
lên 2016259 hộ vào năm 1996, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7, 68%/
năm, mỗi năm tăng 129412 hộ, từ năm 1996 đến 2000 số lượng hộ kinh
doanh các thể hoạt động tăng châm, từ 1996 là 2016259 lên 213731 hộ năm
2000, tăng bình quân 1,47% /năm, mỗi năm tăng30364 hộ và đến cuối năm
2003 cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh, 130000 trang trại và 10 triệu
hộ nông dân sản xuất hàng hoá, sở dĩ có sự giảm về số lượng hộ cá thể là vì
nhiều hộ đã chuyển lên thành lập công ty sau khi đã tích luỹ được trong một
thời gian dài và những năm gần đây lại gặp nhiều điều kiện thuận lợi trong
thành lập doanh nghiệp.
Về doanh nghiệp: số lượng các doanh nghiệp tăng được thể hiện qua các
năm như sau: năm 1991 cả nước có khoảng 414 doanh nghiệp, đến năm 1992
là 5189 doanh nghiệp và đến 1995 là 15276 doanh nghiệp, năm 1999 là
28700 doanh nghiệp, từ khi luật doanh nghiệp đi vào hoạt động 1/1/2000 thì
đã tao ra một bước đột phá trong tăng số lượng các doanh nghiệp, tính từ năm
2000 đến tháng 5- 2004 cả nước có khoảng 93208 doang nghiệp đang ký
thành lập mới,gấp hơn hai lần số doanh nghiếp được thành lập trong thời gian
trước đó từ 1991- 1999 chỉ có 45000 doanh nghiệp được thành lập, tính đến
năm 2000 số lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân là
4.643.844 người tăng so với năm 1996 được 778.681 người, từ năm 1996 đến
năm 2000 tố độ tăng trung bình là 24,5%/năm trong khi đó ở hộ kinh doanh
cá thể chỉ tăng bình quân là 2,01%/năm, số lao động làm việc trong các doanh
nghiệp tăng 487459 tăng 137,57%, trong khi đó các hộ kinh doanh cá thể tăng
thêm được 291.222 người tăng 8,29%. Trong khu vực kinh tế tư nhân thì lao
động trong công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất 2.121.228 người chiếm
45,6%, lao động trong ngành thương mại và dịch vụ là 1753824 người, chiếm
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
tỷ trọng 37,37%, lao động trong các ngành khác là 786.792 người chiếm
16,94%. Trong những năm gần đây tốc độ tăng vế số lượng doanh nghiệp
tăng nhanh do đó số lượng trong các doanh nghiệp đã tăng, còn tốc độ tăng
lao động trong các hộ kinh doanh cá thể thấp hơn của các doanh nghiệp đó là
do số lượng các hộ kinh doanh cá thể tăng chậm so với các doanh nghiệp.
Về lĩnh vực và địa bàn: khu vực kinh tế tư nhân phần đông là các doanh
nghiệp, đã và đang hoạt động trong hầu hết các ngành nghề mà pháp luật
không cấm, không chỉ hoạt động trong nông nghiệp mà còn trong cả các
ngành công nghiệp, dịch vụ cao cấp như công nghiệp sản xuất tư liệu sản
xuất, chế biến, công nghệ thông tin, ngân hàng tài chính, bảo hiểm , tư vấn.
Sở dĩ khu vực này có khả năng hoạt động rộng vì một mặt là có số lương
đông và tiềm lực về tài chính ngày càng được cải thiện do đã tích luỹ quay
nhiều năm, một mặt là khu vực này có mặt ở hầu hết trên lãnh thổ cả nước do
đó có thể phát hiện rất nhanh các nhu cầu ở các địa bàn trên cả nước.
1.2.3. Đóng góp của khu vực kinh tế tƣ nhân.
1.2.3.1. tạo công ăn việc làm.
Sự đóng góp lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân cho xã hội đó là giải
quyết việc làm cho người lao động, khu vực kinh tế này hàng năm thu hút lao
động mới và từ các doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể chuyển sang,
năm 2000 số lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân là
kinh tế tư nhân phát triển thì quan hệ lao động được xác lập là giữa người lao
động và người sử dụng lao động, xét về quanh hệ lao động thì trong khu vực
kinh tế tư nhân mang tính chất thực tế hơn, vì các quan hệ lao động đều phải
tuân thủ theo luật lao động mà luật lao động lại do Nhà nước quy định.
1.2.3.2. Đóng góp vào GDP và thúc đẩy phát triển kinh tế.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân từ khi
thực hiện luật doanh nghiệp, kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ cả về số
lượng, vốn đầu tư, quy mô hoạt động, các ngành nghề, góp phần vào việc
phục hồi và phát triển đất nước, tốc độ tăng trưởng công nghiệp qua các năm
từ 2000 – 2004 là 20%, như năm 2001 là 20,3%, năm 2002 là 19%, doanh
nghiệp tư nhân đang chiếm một phần lớn trong các ngành công nghiệp, trong
nông nghiệp đã có những đóng góp nhất định trong trồng trọt và chăn nuôi,
đặc biệt là chế biến thuỷ sản, cơ cấu nông nghiệp đang chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hoá góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tỷ trọng đóng góp trong GDP năm 2001
là 47,85%, năm 2002 là 42% và năm 2004 là 38,5% tỷ trọng có xu hướng
giảm do năng suất lao động trong khu vực này giảm trong khi các khu vực
khác tăng lên.
1.2.3.3. Về xuất khẩu.
Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào xuất khẩu
của việt nam, số lượng đang ký tham gia xuất khẩu tăng mạnh năm 1995 có
156 doanh nghiệp đến 2002 la 13774 doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia
xuất khẩu nhiều mặt hàng như may mặc, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu …
tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của khu vực tư nhân phân bố không đồng đều,
chỉ tập trung ở những thành phố lớn, thành phố trực thuộc Trung ương, điều
này đựơc cụ thể là thành phố hà nội xuất khẩu chiếm 25% tổng kim ngạch
xuất khẩu của hà nội và chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thành
phố HồChí Minh là 12%, một số tỉnh có tỷ trọng khá cao như Hà Giang là
25,3% năm 2002 và tỷ trọng này là 27% năm2003 và năm 2004 là 32%, như
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
vậy tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đã ngày càng tăng và đã vượt
qua tỷ trọng của nhà nước.
Theo dự đoán của bộ trưởng bộ kế hoạch và đầu tư thì đến giai đoạn
2006 – 2010 tổng nhu cầu đầu tư là 130-140 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế
tư nhân gồm cả doanh nghiệp có vốn nước ngoài là khoảng 53%, hơn nữa
hiệu quả sử dụng vốn của khư vực kinh tế tư nhân cao hơn của khu vực Nhà
nước, trong khi một đồng vốn của khu vực tư nhân tạo ra được 1,66 đồng
doanh thu, thì một đồng vốn của các doanh nghiệp nhà nước chỉ tao ra được
0,71 đồng doanh thu. Mặt khác vốn của khu vực kinh tế tư nhân còn là vốn
đầu tư chủ yếu của địa phương chẳng hạn ở thành phố Hồ Chí Minh năm
2002 chiếm 38% tổng số vốn toàn xã hội trong khi đó vốn đầu tư của doanh
nghiệp nhà nước chỉ chiếm 36,5%.
1.2.3.6. Tạo môi trường kinh doanh.
Sự phát triển ngày càng lớn và mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân,
tham gia vào hầu như tất cả các ngành nghề và moi lực vực, thì khu vực này
đã và đang đóng góp rất lớn trong việc tao ra môi trường kinh kinh doanh,
thúc đẩy phát triển cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh
quá trình hội nhập.
Sự tham gia ngày càng nhiều vào tất cả các ngang nghề đã tao ra sự
cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của một số
doanh nghiệp Nhà nước, làm cho các doanh nghiệp phải cải thiện môi trường
làm việc, công nghệ… để nâng cao năng suất lao động, cải tiến sản phẩm …,
sự phát triển của kinh tế tư nhân thì các thị trường bắt đầu hình thành và phát
triển mạnh, như là thị trường hoá dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động,
thị trường bất động sả, thị trường hàng khoa học và công nghệ, thúc đẩy quá
trình hội nhập kinh tế của nước ta.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
đình, vốn bản thân và sử dụng tín dụng thương mại đối với đối tác kinh
doanh, thậm chí là nguồn vốn có mức lãi suất rất cao, đối với nguồn vốn huy
động do sử dụng thì thường các họ phải chi phí “ngầm” cao hơn chi phí thực
tế khi họ thoả thuận, làm tăng chi phí sản xuất.
1.2.4.2. Về chất lượng lao động.
Khu vực kinh tế tư nhân với chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa,
số lao động làm việc trong các doanh nghiệp này là rất nhỏ, bình quân mỗi
một doanh nghiệp 1 doanh nghiệp có khoảng 19 lao động, một trong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ không phát triển
nhanh là do trình độ lao động của các doanh nghiệp này là thấp, các doanh
nghiệp này thiếu nhân lực giỏi, thường thì lao động không được đào tạo bài
bản, có chăng chỉ là các khoa ngắn hạn, do đó họ kho tiếp thu được những
tiến bộ khoa học, cũng như kỹ năng của họ không cao do đó năng xuất lao
động không cao, còn đối với những nhân lực giỏi thì học lại không mặn mà
với những doanh nghiệp này do doanh nghiệp không đáp ứng được những
tham vọng của họ, có những doanh nghiệp mà lao động không qua đào tạo
chiếm tới 100%.
Đối với các hộ kinh doanh cá thể và tiểu chủ thì họ sử dụng lao động
trong gia đình và chỉ thuê rất ít công nhân, phần lớn là không qua đào tạo .
1.2.4.3. Trình độ khoa học công nghệ.
Trong thời đại hiện nay khoa học công nghệ vô cùng quan trọng đối vối
mọi mặt đời sống xã hội, các nước phát triển trên thế giới đã áp dụng thành
công những công nghệ hiện đại vào các hoạt động của mình và đã đạt được
những thành quả rất lớn, xét về mặt băng chung thì trình độ công nghệ của
nước ta so với trên thế giới thì trình độ công nghệ của nước ta có trình độ
trung bình thấp, và khu vực kinh tế tư nhân cũng không là ngoại lệ. Hầu hết
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đang sử dụng các
trang thiết bị có trình độ công nghệ trung bình và lạc hậu so với thế giới,
2.1.1. Quá trình hình thành.
Ngân hàng ngoại thương việt nam được thành lập ngày 1/4/1963 được
thành lập theo quyết định 115/CP ngày 30/10/1962 trên cơ sở tách từ cục
ngoại hối ngân hàng TW nay là ngân hàng nhà nước, hoạt động dưới dự bảo
lãnh của ngân hàng nhà nước là ngân hàng duy nhất được phục vụ kinh tế đối
ngoại và hoạt động xuất nhập khẩu của cả nước. Theo thời gian cùng với sự
phát triển về mọi mặt của đất nước nói chung và của kinh tế nói riêng, ngân
hàng ngoại thương việt nam đã có những chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển của đất nước hiện tại và trong tương lai, và một trong những chiến
lược ấy là mở rộng địa bàn hoạt động của ngân hàng trên khắp cả nước để đáp
ứng các dịch vụ ngân hàng cho nhân dân. Với phương châm đó ngân hàng
ngoại thương chi nhánh cấp I hà nội được thành lập năm 1985 hoạt động trên
một địa bàn là trung tâm tài chính của cả nước, và để đáp nhu cầu sử dụng các
dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng, do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của cả
nước nói chung và của thủ đô nói riêng, cùng với xu hướng ngày càng nhiều
các tổ chức tín dụng quốc tế đã, đang và sẽ vào việt nam, nhất là trong bối
cảnh chúng ta đang chuẩn bị vào WTO, thì việc mở rộng và phát triển mạng
lưới là bước đi quan trọng cho sự phát triển của ngân hàng, chính vì lẽ đó mà
ngân hàng ngoại thương chi nhánh Ba Đình được thành lập ngày 15/9/2004
theo quyết định số 480/QĐ NHNT – TCCB – DT ngày 23/8/2004 là chi
nhánh cấp II hạch toán phụ thuộc vào chi nhánh cấp I Hà Nội.