1
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận là kết quả của quá trình tích lũy kiến thức, phươn pháp, kỹ năng sau
4 năm học tập và nghiên cứu trên giảng đường và thực tế tại doanh nghiệp. Để có thể
hoàn thành được khóa luận này không chỉ có sự cố gắng nỗ lực của bản thân em mà
còn có sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô và các anh chị nhân viên trong công ty Cổ
Phần Đầu Tư Mở - Du Lịch Việt Nam, Hà Nội
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn nhà trường, quý thầy cô trong khoa Quản
trị doanh nghiệp Khách sạn- Du lịch trường Đại học Thương Mại đã tạo mọi điều kiện
cho em tham gia học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức chuyên môn trong suốt 4 năm
học, cũng như tạo điều kiện cho những sinh viên cuối khóa như em có cơ hội để vận
dụng những kiến thức trên trường lớp vào thực tiễn, qua đó học hỏi thêm kinh nghiệm
từ môi trường thực tập cho bản thân.
Và em xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Dương Thị Hồng
Nhung- người giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận vừa qua.
Cô đã tận tình, chỉ ra từng điểm còn thiếu sót trong khóa luận cũng như hướng dẫn cẩn
thận để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây, em cũng xin cảm ơn chị Phí Thị Hương Quỳnh – phó giám đốc công
ty Cổ Phần Đầu Tư Mở - Du Lịch Việt Nam tại Hà Nội cùng toàn thể các anh, chị
nhân viên trong công ty đã tiếp nhận, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong
quá trình thực tập, cũng như giúp em thu thập tài liệu để có thể hoàn thành khóa luận
một cách tốt nhất.
Trong khuân khổ của một bài khóa luận với những hạn chế về mặt kiến thức,
thời gian tìm hiểu, mặc dù đã có nhiều cố gắng tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi có
những thiếu sót nhất định. Vì vậy em rất mong nhận được sự cảm thông cũng như
những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và bạn đọc để giúp em hoàn thiện hơn nữa đề
tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
2
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2015
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
LNST: Lợi nhuận sau thuế
ĐVT: Đơn vị tính
Trđ: Triệu đồng
6
7
7
8
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Ngày nay, trong thời đại mới, Việt Nam đã và đang hội nhập vào tiến trình thương
mại hóa. Sự kiện gia nhập WTO đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam cơ hội thể hiện vị thế
của mình trên trường quốc tế. Tuy nhiên cũng không ít những khó khăn, thách thức mới
đang chờ chúng ta trên đấu trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, không những trong nước
mà với cả nước ngoài. Vì thế, để cạnh tranh thắng lợi trong quá trình toàn cầu hóa đòi hỏi
các doanh nghiệp phải chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng,
trong đó, đặc biệt là phải sử dụng hiệu quả nguồn lực của mình, đưa năng suất lao động
trở thành vũ khí cạnh tranh hàng đầu. Và du lịch Việt Nam- ngành kinh tế tổng hợp mang
lại nguồn thu đáng kể cho thu nhập quốc gia cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy
nhiên, so với trong khu vực, năng suất lao động ở nước ta hiện nay đang bị đánh giá là
tương đối thấp và không được ổn định. Điều này có nghĩa là năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam đang bị hạn chế rất nhiều. Đối với kinh doanh dịch vụ du lịch nói
riêng, điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, gây tác động không tốt đến chiến
lược đưa du lịch trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của ngành. Làm gì để tăng năng
suất lao động đang là bài toán khó đặt ra với không chỉ các cơ quan chức năng mà còn với
cả các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay.
Nâng cao năng suất lao động cũng là một trong những
vấn đề được quan tâm hàng đầu của công ty Cổ phần Đầu tư
Mở - Du Lịch Việt Nam tại Hà Nội. Trong thời gian thực tập tại
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Năng suất lao động đã và đang là vấn đề được tất cả các ngành, các cấp quan tâm,
và ngành dịch vụ cũng không ngoại lệ. Chủ đề này đã trở thành đề tài nóng trong rất nhiều
cuộc hội thảo, được nghiên cứu sâu trong các đề tài, sách, báo, Do đó, để phục vụ cho
quá trình nghiên cứu, em đã tham khảo một tài liệu liên quan đến đề tài như:
a, Sách và giáo trình.
Nguyễn Thị Nguyên Hồng( 2007), Bài giảng Kinh tế doanh nghiệp dịch vụ du
lịch, Đại học Thương Mại.
9
10
Bài giảng đã đề cập đến nhiều vấn đề kinh tế du lịch, đặc biệt là trong chương
về Hiệu quả kinh tế- xã hội của du lịch đã nói rất rõ về khái niệm, đặc điểm lao động
trong dịch vụ du lịch và các chỉ tiêu biểu hiện cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến
năng suất lao động trong kinh doanh dịch vụ, du lịch.
Nguyễn Doãn Thị Liễu(2011), Quản trị tác nghiệp doanh nghiệp du lịch, NXB
Thống Kê, Hà Nội.
Giáo trình đã hệ thống các kiến thức về công ty lữ hành, khái niệm, đặc điểm
cũng như nội dung của hoạt động kinh doanh lữ hành.
Qua nghiên cứu các sách và giáo trình trên, em đã nắm được hệ thống các khái
luận cơ bản về ngành du lịch, cũng như các vấn đề về năng suất lao động trong kinh
doanh lữ hành và kế thừa để làm cơ sở lý luận cho đề tài của mình.
b, Luận văn, khóa luận.
Nguyễn Ngọc Điệp( 2009), “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao đông tại
công ty Vnseasonstour”, khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Doãn Thị Liễu hướng dẫn, Đại
học Thương Mại.
Đề tài đã phân tích thực trạng nâng cao năng suất lao động tại công ty
Vnseasonstour, rút ra ưu, nhược điểm, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đưa ra những
giải pháp cho công ty và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền.
Lê Thị Kim Nga( 2013), “Nâng cao năng suất lao động của công ty trách
nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ Huy Nguyên”, khóa luận tốt nghiệp, Phạm Công
Đầu tư Mở- Du Lịch Việt Nam, Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng suất lao động tại công ty
cổ phần Đầu tư Mở- Du Lịch Việt Nam, Hà Nội.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
* Về thời gian: Để đảm bảo tính chính xác, đề tài nghiên cứu với các số liệu
11
12
minh họa trong hai năm 2013, 2014 để tìm giải pháp và đề xuất kiến nghị định hướng
đến năm 2015 và các năm tiếp theo.
* Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về giải pháp nâng cao năng suất
lao động tại công ty cổ phần Đầu tư Mở - Du Lịch Việt Nam tại địa chỉ 93 Hồng Hà,
quận Ba Đình, TP Hà Nội.
* Về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về nâng cao năng suất lao động,
phân tích thực trạng năng suất lao động tại công ty cổ phần Đầu tư Mở- Du Lịch Việt
Nam tại Hà Nội để từ đó tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm nâng cao năng suất lao
động tại công ty.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
* Phương pháp thu thập số liệu:
Để nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp. Dữ
liệu thứ cấp là dữ liệu đã qua xử lý, sẵn có mà người tìm kiếm không phải mất nhiều
thời gian đề thu thập. Trong đề tài sử dụng các số liệu thứ cấp sau:
- Dữ liệu nội bộ công ty: Được thu thập từ phòng Nhân sự, phòng Kế toán tài
chính, tại các bộ phận cụ thể. Trong đề tài sử dụng các bản kết quả hoạt động kinh
doanh, bảng lao động và tiền lương, cơ cấu nhân viên của công ty Opentour JSC tại Hà
Nội, lịch làm việc của nhân viên, định mức công việc của từng nhân viên, các bản nội
quy, quy định, các bản thông báo…Ngoài ra còn sử dụng các thông tin, hình ảnh đăng
tải trên website chính thức của công ty: www.opentour.com
- Dữ liệu từ ngoài công ty: Sách báo, tạp chí, các trang báo điện tử, internet,
luận văn tốt nghiệp và đề tài có liên quan. Bao gồm các thông tin về công ty Opentour
JSC tại Hà Nội, các khái luận, quan điểm, nội dung liên quan đến nâng cao năng suất
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY LỮ HÀNH
1.1. Khái luận về năng suất lao động tại công ty lữ hành
:=!/C$D$/C$
1.1.1.1. Doanh nghiệp lữ hành
Bản thân hoạt động du lịch nói chung và lữ hành nói riêng rất phong phú và đa
dạng, biến đổi theo thời gian, ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau thì hoạt động kinh
doanh lữ hành lại có hình thức và nội dung mới bởi sự đa dạng và tổng hợp của nhu
cầu về sản phẩm du lịch. Do đó, mỗi thời kỳ khác nhau đã có những định nghĩa khác
nhau về doanh nghiệp lữ hành. Mặt khác, xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác
nhau lại có những cách tiếp cận khác nhau về doanh nghiệp lữ hành. Tuy nhiên trong
giới hạn đề tài em chỉ xin trình bày khái niệm sau:
Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở ổn định,
được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận
thông qua việc tổ chức xây dựng, bán, thực hiện các chương trình du lịch cho khách
du lịch.
Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian
bán sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh
tổng hợp khác đảm bảo phục vụ các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến
khâu cuối cùng.
1.1.1.2. Kinh doanh lữ hành
a) Khái niệm
Kinh doanh lữ hành: Là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường,
thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các
chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diên tổ
chức các chương trình và hướng dẫn du lịch.
15
16
b) Đặc điểm kinh doanh lữ hành
Kinh doanh lữ hành là một loại kinh doanh dịch vụ. Vì vậy, hoạt động kinh
doanh lữ hành có các đặc trưng cơ bản sau:
nghỉ biển tăng rất cao nhưng vào mùa đông thì ngược lại, vào mùa xuân nhu cầu du
lịch lễ hội cũng tăng mạnh làm cho hoạt động kinh doanh lữ hành có tình thời vụ. Vì
vậy, trong kinh doanh lữ hành đòi hỏi các nhà quản trị phải nắm bắt được tính thời vụ
nhằm có những biện pháp hạn chế tính thời vụ, duy trì nhịp độ phát triển đều đặn và
nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành.
* Kinh doanh lữ hành có tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng:
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm lữ hành diễn ra trong cùng một thời
gian. Trong kinh doanh lữ hành, chúng ta chỉ tiến hành phục vụ khách du lịch khi có
sự có mặt của khách trong quá trình phục vụ. Có thể xem khách hàng là yếu tố
“nguyên liệu đầu vào” trong quá trình kinh doanh lữ hành. Vì thế trong kinh doanh lữ
hành sản phẩm không thể sản xuất trước.
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm lữ hành diễn ra trong cùng một
không gian. Các sản phẩm lữ hành không thể vận chuyển mang đến tận nơi để phục vụ
khách hàng. Khách hàng chỉ có thể thoả mãn nhu cầu khi vận động gặp gỡ. Như vậy,
khách hàng là bộ phận tham gia trực tiếp không thể tách rời từ quá trình sản xuất.
Ngoài ra những đặc điểm trên, hoạt động kinh doanh lữ hành còn phụ thuộc khá
nhiều vào yếu tố tự nhiên, quỹ thời gian nhàn rỗi, trình độ dân trí cũng như phụ thuộc
vào thu nhập của người dân. Từ những đặc điểm cơ bản trên cho thấy việc kinh doanh
lữ hành rất dễ gặp rủi ro, nó đòi hỏi các công ty lữ hành phải có mối quan hệ rộng với
các đối tác, các nhà cung ứng tin cậy có đội ngũ nhân viên lành nghề.
A/C$
1.1.2.1. Khái niệm lao động trong kinh doanh lữ hành
17
18
Lao động trong kinh doanh lữ hành là một bộ phận lao động xã hội cần thiết
được phân công để thực hiện việc sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ du lịch cung
ứng sản phẩm dịch vụ du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
1.1.2.2. Đặc điểm của lao động trong kinh doanh lữ hành
Sản phẩm của hoạt đông kinh doanh lữ hành là các dịch vụ du lịch. Do đó, lao
dộng trong kinh doanh lữ hành cũng mang đầy đủ những đặc điểm của lao động dịch vụ:
để đáp ứng nhu cầu của khách. Đồng thời các nhu cầu này ngày càng cao, do đó đòi hỏi
phải có tính chuyên môn hóa cao trong mỗi ngành nghề này. Như vậy, nhân viên có trình
độ cao, chất lượng phục vụ sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, chuyên môn hóa cao có thể gây lãng phí
nguồn lực lao động khi mà khó có thể điều chuyển nhân viên cho nhau khi cần thiết.
- Lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn: do công việc đòi hỏi sự khéo léo, kinh hoạt,
đồng thời phải nhẫn nại, kiên trì, sức chịu đựng cao; mức thu nhập tương đối thấp, bên
cạnh đó việc tuyển dụng cũng không khắt khe như những ngành khác.
)%&4/
1.1.3.1. Khái niệm về năng suất lao động
Năng suất lao động là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng lao động sống
trong quá trình sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế phản ánh mối tương
quan giữa kết quả đạt được với các chi phí lao động sống bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Năng suất lao động = Kết quả/ Chi phí lao động sống
Năng suất lao động là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và là một yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh, sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, là cơ sở để nâng cao thu nhập, tạo môi trường
và điều kiện làm việc tốt cho người lao động. Đối với quốc gia, năng suất lao động
giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng nền kinh tế thông qua sử dụng một cách hiệu
quả các yếu tố đầu vào để gia tăng kết quả đầu ra. Mục tiêu cuối cùng của năng suất là
nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo một xã hội tốt đẹp hơn.
1.1.3.2. Khái niệm nâng cao năng suất lao động
19
20
a) Khái niệm
Nâng cao năng suất lao động là quá trình tăng năng lực sản xuất của lao động,
tăng hiệu quả sử dụng lao động sống. Thực chất đây là quá trình tiết kiệm lao động
sống trong việc sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ, từ đó giảm chi phí cho lao
động trong sản xuất sản phẩm dịch vụ, đồng nghĩa với việc lợi nhuận từ việc bán sản
phẩm dịch vụ đó tăng lên.
b) Các quan điểm tăng năng suất lao động
thời chất lượng sản phẩm cũng được cải tiến. Như vậy, năng suất lao động tăng sẽ cải
thiện trực tiếp hai yếu tố quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ đó
góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Bên cạnh đó, khi nâng cao năng suất lao động có nghĩa là hao phí để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm giảm, vì thế nó cho phép giảm số người làm việc, tiết kiệm được
quỹ tiền lương, góp phần làm giảm chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó,
tăng năng suất lao động với việc tăng lợi nhuận và tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Ngoài ra, năng suất lao động tăng lên thì sản lượng tăng lên và tổng
giá trị sản lượng tăng lên. Khi giá trị sản lượng tăng tạo điều kiện cho việc tăng lợi
nhuận, giúp các doanh nghiệp có thể tích lũy đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Đối với người lao động: tăng năng suất lao động có nghĩa là lượng giá trị mà
người lao động tạo ra tăng lên, các lợi ích vật chất khác của họ cũng cao hơn. Năng
suất lao động tăng làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng mở rộng về
quy mô và tăng cao về chất lượng, từ đó điều kiện làm việc của người lao động sẽ
được sẽ được nâng cao.
- Đối với khách hàng: năng suất lao động tăng chi phí giảm, chất lượng tăng
đồng nghĩa với việc khách hàng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn. Nhất là trong kinh
doanh lữ hành, năng suất lao động tăng, khách du lịch sẽ được cung ứng dịch vụ kịp
thời với chất lượng tốt nhất, giá cả cạnh tranh nhất.
21
22
3EFG/8H&4/
1.2.2.1. Năng suất lao động chung
Trong kinh doanh dịch vụ, du lịch năng suất lao động có thể được đo lường theo
hai nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị.
- Chỉ tiêu hiện vật: Năng suất lao động chung là số lượng sản phẩm bình quân
của một nhân viên công ty thực hiện trong một thời kỳ nhất định.
= S/ R
Trong đó: : Năng suất lao động chung
S: Số lượng sản phẩm, trong kinh doanh của công ty du lịch, đó có
1.2.2.2. Năng suất lao động trực tiếp
Năng suất lao động trực tiếp là chỉ tiêu phản ánh mức doanh thu bình quân trên
một nhân viên kinh doanh thực hiện trong một kỳ nhất định.
= D/
Trong đó: : Năng suất lao động trực tiếp
D: Doanh thu trong kỳ
: Số lao động trực tiếp( lao động thừa hành)
Lao động thừa hành hay lao động trực tiếp là bộ phận lao động vô cùng quan
trọng của doanh nghiệp dịch vụ, du lịch. Họ là những người tiếp xúc trực tiếp với
khách hàng, cung cấp, phục vụ khách hàng, là những người trực tiếp tạo ra doanh thu
cho doanh nghiệp. Do vậy, năng suất lao động trực tiếp là chỉ tiêu phản ánh chính xác
nhất hiệu quả sử dụng lao động sống của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao, năng
suất lao động trực tiếp càng cao, hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp càng
cao. Từ đó, kết quả kinh doanh ngày càng lớn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
ngày càng phát triển.
23
24
1.3. Các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến năng suất lao động trong công
ty lữ hành
Năng suất lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, tuy nhiên
chúng ta có thể chia chúng thành hai nhóm cơ bản là chủ quan và khách quan như sau:
)%I'.J
Đây là các yếu tố bên trong doanh nghiệp, các nhân tố này có thể được thay đổi,
can thiệp hoặc điều chỉnh tùy theo yêu cầu, điều kiện riêng của mỗi doanh nghiệp. Với
những thay đổi của môi trường kinh doanh bên ngoài hay các nguồn lực bên trong,
doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra những thay đổi với các nhân tố này để có thể
kinh doanh tốt nhất. Các nhân tố chủ quan bao gồm:
- Lao động: lao động trong doanh nghiệp có khả năng tác động lên năng suất
lao động ở các khía cạnh: Số lượng, chất lượng lao động, cơ cấu lao động (giới tính,
độ tuổi, trình độ chuyên môn…) phụ thuộc vào:
năng suất và chất lượng hoàn thành công việc của người tham gia lao động. Thái độ lao
động không tốt không những không giúp tạo ra sự lao động nghiêm túc, năng động, nhiệt
tình trong công việc mà còn làm lan truyền đến các nhân viên khác trong doanh nghiệp sự
lười nhác, ỷ lại. Từ đó làm giảm hiệu quả làm việc, giảm năng suất lao động.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp: hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật trong
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tác động tới năng suất lao động vì nó đóng vai trò là
phương tiện và công cụ của người lao động. Bao gồm mạng lưới các cơ sở kinh doanh,
mức tràn bị công cụ, máy móc, dụng cụ chuyên dùng và hiệu quả sử dụng chúng là nhân
tố có thể lượng hóa được mức độ tác động lên năng suất lao động. Trong kinh doanh lữ
hành, cơ sở vật chất kỹ thuật không chỉ dùng để nhân viên vận hành cho việc phục vụ
khách hàng mà còn để chính khách hàng sử dụng. Cơ sở vật chất kỹ thuật là các yêu tố
hữu hình mà khách hàng có thể nhận biết trong sản phẩm dịch vụ. Do đó, cơ sở vật chất
kỹ thuật sẽ giúp doanh nghiệp tạo nên lòng tin, sự hài lòng với khách hàng và đối tác, có
điều kiện tăng doanh thu, nâng cao được năng suất lao động.
- Đối tượng lao động: là những nguyên vật liệu, những hàng hóa, dịch vụ được
sử dụng để tạo ra sản phẩm phục vụ khách hàng. Trong kinh doanh lữ hành, khách
hàng cũng là một phần của yếu tố đối tượng lao động, được coi là nguyên liệu đầu vào
của tiến trình dịch vụ. Do đặc điểm của sản phẩm dịch vụ là sản xuất và tiêu dùng
đồng thời nên không có khách hàng thì sản phẩm dịch vụ sẽ không được sản xuất.
25