426 Giải pháp tài chính để phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006 – 2010 - Pdf 27

1 LỜI MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội con người là chủ thể của
mọi hoạt động. Nguồn lực con người đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế. Ngày nay đứng trước xu thế hội nhập, toàn cầu hóa,
nền kinh tế thị trường phát triển chuyển nhanh thành nền kinh tế tri thức, việc
quan tâm chăm lo phát triển nguồn nhân lực, biết khai thác và sử dụng hợp lý,
hiệu quả nguồn lực này thì công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế tất sẽ
thành công.
Ngày nay chúng ta đang ở trong thời đại của công nghệ thông tin và nền
kinh tế thị trường đang chuyển thành nền kinh tế tri thức, do đó nguồn nhân lực
chất lượng cao càng có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết bởi chính lực lượng
này sẽ vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ tri thức mới của toàn nhân loại.
Để xây dựng cơ sở vững chắc, làm tiền đề cho nền kinh tế phát triển bền
vững và ổn định xã hội, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế, xây
dựng một xã hội dân giầu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, chúng ta
không chỉ học tập kinh nghiệm và tiếp thu sử dụng những thành tựu khoa học kỹ
thuật của các nước kinh tế phát triển trên thế giới mà chúng ta cần phải tập trung
khai thác và phát huy lợi thế sẵn có của mình trong đó nguồn nhân lực là trung
tâm. Vậy chúng ta cần làm gì để có được nguồn nhân lực chất lượng cao để có thể
thực hiện thắng lợi những mục tiêu mà Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XI đã đặt ra?
Thực trạng nguồn nhân lực hiện tại của tỉnh Bình Thuận ra sao trong nguồn nhân
lực của cả nước? Chúng ta cần tìm những giải pháp nào thích hợp với tình hình
phát triển kinh tế của tỉnh trong từng giai đoạn? Để huy động và tập trung nguồn
vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao,
đáp ứng nhu cầu đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh trong xu thế nền kinh
tế kinh tế thị trường chuyển sang nền kinh tế trí thức trong những năm tới.

tạo - Người sử dụng lao động. Kết quả điều tra nhằm xác định hiện trạng nguồn
nhân lực của tỉnh Bình Thuận – Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác đào
tạo nguồn nhân lực của tỉnh Bình Thuận – Tình hình sử dụng lao động trong các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội. Mặt khác nhằm đánh giá về điều kiện,
chất lượng đào tạo, nhu cầu số lượng, trình độ, cơ cấu của nguồn nhân lực, xu
hướng lao động - việc làm phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Những kết quả này là cơ sở quan trọng cho việc dự báo về nhu cầu nguồn nhân
lực và đề ra những giải pháp tài chính đầu tư phát triển nguồn nhân lực của tỉnh
giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010.
- Phân tích các số liệu và báo cáo thống kê phân loại và xử lý kết quả.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
Tất cả mọi hoạt động có ích trong xã hội đều vì con người và do con người
thực hiện. Con người là chủ thể, là động lực phát triển của xã hội. Con người là
nguồn gốc là động lực của mọi quá trình phát triển xã hội.
Việc nghiên cứu đề tài “ Giải pháp tài chính để phát triển nguồn nhân lực
của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2006 – 2010”. Nó có ý nghĩa khoa học là góp
phần nâng cao nhận thức của mọi người về vai trò vị trí và tầm quan trọng của
3 nguồn nhân lực trong quá trình thực hiện sự nghiệp phát triển nền kinh tế - xã
hội, trong đó con người là trung tâm.
Về ý nghĩa thực tiễn cho thấy đầu tư phát triển con người đó là đầu tư có
hiệu quả nhất không có đầu tư nào mang lại lợi ích lớn như đầu tư cho con
người. Đầu tư cho con người trong thời điểm hiện nay nó không chỉ mang tính
thời sự là đầu tư cho thế hệ đương thời mà nó còn là việc đầu tư lâu dài cho cả
thế hệ tương lai. Nên để nguồn vốn đầu tư mang lại hiệu quả cao cần phải xác
định đầu tư vào lĩnh vực nào trong các hoạt động của xã hội. Mọi hoạt động đầu
tư phát triển suy cho cùng đều là đầu tư phát triển con người, trong đó quan trọng

Hệ thống và khái quát lạimột số vấn đề lý luận liên quan đến nguồn nhân
lực, phát triển nguồn nhân lực, vai trò và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân
lực, tham khảo một số kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số nước có
nền kinh tế phát triển.
Chương 2: Thực trạng đào tạo, sử dụng và đầu tư phát triển nguồn nhân
lực ở tỉnh Bình Thuận.
Mô tả thực trạng nguồn nhân lực nước ta hiện nay. Đề tài làm rõ thực
trạng nguồn nhân lực của tỉnh Bình Thuận trên cơ sở đó tập trung phân tích ưu
điểm, hạn chế của việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực ở Bình Thuận, từ đó rút
ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân làm cơ sở để đề ra giải pháp.
Chương 3: Giải pháp tài chính để phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bình
Thuận giai đoạn 2006 – 2010.
Đề tài dựa trên số liệu điều tra dân số 1/4/1999 để dự báo nhu cầu lao
động cần đào tạo trong giai đoạn 2006 – 2010. Đề xuất một số giải pháp tài
chính nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho nhiệm vụ
phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn 2006 – 2010.
VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh : Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh
tế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu hướng phát triển chung của nhiều nước
trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi tới mục tiêu “Dân
giầu nước mạnh. Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Công nghiệp hóa- Hiện
đại hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và
nó phải trở thành động lực thực sự của sự phát triển. Phát triển nguồn nhân lực là
một nhiệm vụ tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế -
xã hội trong thời đại hiện nay. Ngày nay các Quốc gia trên thế giới đều quan tâm
nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, mỗi quốc gia trên thế giới lại
có quy định khác nhau về nguồn nhân lực.
Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về nguồn nhân lực giữa các quốc gia
trên thế giới, nhưng nhìn chung, nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ là số
lượng và chất lượng của bộ phận dân cư tham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội.
1.1.2 Vai trò của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế
thế giới đang có xu hướng chuyển từ nền kinh tế thị trường sang nền kinh tế tri
thức thì nguồn lực con người trở thành động lực chủ yếu cho sự phát triển.
6 - Nguồn nhân lực là động lực phát triển của xã hội : Trong sự phát triển
của nền kinh tế - xã hội, nhân tố con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển. Hai đặc điểm này có mối quan hệ hữu cơ với nhau tác động qua lại
với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Lịch sử phát triển của xã hội loài
người đã trải qua hàng ngàn năm và trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác
nhau, từ hình thái kinh tế - xã hội có trình độ phát triển thấp tới hình thái kinh tế
- xã hội có trình độ phát triển cao ( từ hình thái kinh tế cộng sản nguyên thủy –
đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng, những nhu cầu đó của
con người tăng dần theo năm tháng cả về số lượng cũng như chất lượng. Để có
thể đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của con người thì năng xuất lao động
– xã hội phải tăng tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội. Quá trình ấy là quá trình
tích lũy kinh nghiệm sản xuất của con người trong việc cải tiến công cụ lao động
tạo ra năng xuất lao động – xã hội ngày càng cao, tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng
nhu cầu của con người. Việc cải tiến công cụ lao động của con người thể hiện từ
việc con người ban đầu chỉ chế tạo và sử dụng những công cụ thô sơ như các
công cụ bằng đá phục vụ cho việc săn bắt và trồng trọt, chăn nuôi, qua thời gian
phát triển con người đã chế tạo được các công cụ bằng kim loại như cầy , cuốc,
giáo mác v.v… từ chế tạo được những công cụ thủ công tiến tới chế tạo được
máy móc thiết bị bán tự động, đến tự động phục vụ con người trong quá trình sản
xuất tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống của mình. Mọi nền sản xuất xã hội,
xét đến cùng đều nhằm phục vụ con người. Sản xuất càng phát triển, càng có
nhiều sản phẩm để đáp ứng đầy đủ hơn cho con người. Chính sự đòi hỏi cần phải
đáp ứng cho các nhu cầu của con người trong điều kiện nguồn lực kinh tế xã hội
có hạn đã thúc đẩy con người phải không ngừng nâng cao khả năng lao động sáng
tạo của mình để phục vụ cho chính mình. Qua việc nghiên cứu quá trình phát triển
về các công cụ sản xuất của xã hội loài người, cải tiến chế tạo công cụ lao động
mang lại năng xuất lao động cao hơn trước đánh dấu sự phát triển trí tuệ của con
người, đó là quá trình phát triển của nguồn nhân lực xã hội. Khi trí tuệ của con
người phát triển thì các công cụ lao động cũng phát triển và làm cho năng xuất lao
động xã hội tăng nhanh, của cải vật chất của xã hội ngày càng nhiều về số lượng
cũng như chủng loại, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho nhu cầu ngày càng tăng của
con người. Sự gia tăng sản phẩm của xã hội đánh dấu các nấc thang phát triển của
xã hội từ bậc thấp đến bậc cao, từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh
tế - xã hội khác cao hơn. Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của xã hội loài
người gắn liền với sự phát triển của công cụ sản xuất và sự gia tăng của năng xuất

Sự gia tăng năng xuất lao động tác động đến tổng thu nhập quốc dân tăng và tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế tăng. Từ đó ta thấy nguồn nhân lực là một nhân tố đóng vai
trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế.
- Nguồn nhân lực thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế;
Khái niệm công nghiệp hóa có thể được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau
tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia. Ở thời kỳ bao cấp, công nghiệp hóa được xem là quá trình trang bị kỹ
thuật hiện đại cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thay thế lao động thủ công bằng
lao động cơ giới và biến một nước kém phát triển thành một nước có cơ cấu kinh
tế công, nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến. Hiện nay, theo tổ chức
phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc: Công nghiệp hóa là quá trình kinh tế
trong đó có một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được huy động để
xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại chế tạo ra tư liệu
sản xuất, hàng tiêu dùng,có khả năng bảo đảm nhịp độ tăng trưởng cao và sự tiến
bộ về kinh tế - xã hội.
9 Theo tinh thần Hội nghị Trung ương VII, khóa VII của Đảng ta, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng lao động cùng với công nghệ, phương tiện
tiên tiến để nâng cao năng xuất lao động xã hội. Vậy có thể hiểu một cách cô
đọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình biến một nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu, kỹ thuật thủ công, lao động giản đơn là chính thành nền kinh tế
có công nghiệp hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, lao động có trình độ chuyên môn cao.
Lý luận và thực tiễn cho thấy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quy luật phổ
biến mà mọi quốc gia đều phải trải qua dù ở các quốc gia phát triển sớm hay các
quốc gia đi sau. Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy, chưa có quốc gia nào phát
triển nhanh, bền vững mà lại không trải qua quá trình tiến hành công nghiệp hóa,

nhiên. Khi trí tuệ của con người phát triển ở trình độ cao việc sử dụng các nguồn lực
tự nhiên cho sản phẩm tiết kiệm hơn, hiệu quả hơn đã khắc phục được phần nào
nhược điểm của nguồn lực tự nhiên ngày càng giảm do vậy đã duy trì được tốc độ
phát triển của nền kinh tế - xã hội. Trước đây ở các nước Tư bản có nền kinh tế phát
triển để xoa dịu cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và người lao động với các nhà
Tư bản các học giả tư sản cho rằng sản phẩm thặng dư là do khoa học kỹ thuật – công
nghệ cao mà có chứ nhà Tư bản không bóc lột công nhân và người lao động, Họ
đánh giá cao vai trò của khoa học kỹ thuật – công nghệ và cho nó thuộc các nguồn
lực tự nhiên. Ngày nay khi nền kinh tế thế giới phát triển chuyển dần sang nền kinh tế
tri thức thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đánh giá cao vai trò của nguồn lực
con người. Theo một số báo cáo nghiên cứu của các nhà kinh tế học thì trong sản
phẩm, nguồn lực con người chiếm 1/3 giá trị của sản phẩm. Để có thể tiếp nhận và
chuyển giao khoa học kỹ thuật từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ
khác và từ nền kinh tế phát triển sang nền kinh tế chậm phát triển cần phải có con
người có kỹ thuật lành nghề, có trình độ khoa học để thực hiện quá trình chuyển giao
ấy. Điều đó có nghĩa là kết quả chuyển giao công nghệ phụ thuộc trực tiếp vào chất
lượng của nguồn nhân lực Hay nguồn nhân lực là nhân tố cơ bản của qúa trình
chuyển giao, nó quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Mặt khác khi nguồn nhân lực của đất nước có trình độ khoa học kỹ
thuật cao nó tạo nên khả năng thu hút vốn đầu tư của các quốc gia phát triển khác
khắc phục tình trạng thiếu vốn đầu tư trong nước và thiếu kinh nghiệm quản lý và sử
dụng vốn hiệu quả. Nguồn lực con người trở thành nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng
nhất để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế - xã hội.
1.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
1.2.1 Ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực
Như trên đã phân tích nguồn nhân lực có một vị trí và vai trò rất to lớn
trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nguồn nhân lực
là nguồn tài sản vô giá của mỗi quốc gia, phát triển nguồn nhân lực là sự gia tăng
tài sản của quốc gia, (gia tăng nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng).
Phát triển nguồn nhân lực về số lượng có thể được hiểu là sự gia tăng về

chung là gia tăng về chất lượng cuộc sống của người lao động. Chất lượng nguồn
nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa
các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lượng
nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà
còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất
lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ
là nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội
nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một số hệ thống các chỉ
tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của dân cư.
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không
phải đơn thuần là không có bệnh tật. Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên
12 giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần. có nhiều chỉ tiêu biểu
hiện trạng thái về sức khỏe, như cân nặng; chiều cao; vòng ngực; mắt; tai mũi
họng; răng hàm mặt; nội khoa; ngoại khoa; thần kinh tâm thần; da liễu v.v… Bên
cạnh đánh giá về sức khỏe của người lao động người ta còn chú ý tới một số chỉ
tiêu khác như : Tỷ lệ sinh thô, chết thô, tỷ lệ tăng tự nhiên; tỷ lệ tử vong ở trẻ em
dưới 1 tuổi, và dưới 5 tuổi; Tỷ lệ sinh cân thấp; Tỷ lệ dừng mức sinh; Tỷ lệ
GDP/đầu người; Cơ cấu giới tính, tuổi tác v.v…
- Chỉ tiêu phản ánh trình độ văn hóa của người lao động.
Trình độ văn hóa của người lao động là sự hiểu biết của người lao động đối
với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Trong chừng mực nhất định
trình độ văn hóa của dân số biểu hiện mặt bằng dân trí của quốc gia đó. Trình độ
văn hóa được biểu hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ như : Số lượng người biết chữ
và chưa biết chữ; Số người có trình độ tiểu học; Số người có trình độ trung học cơ
sở; Số người có trình độ trung học phổ thông; Số người có trình độ Đại học và trên
đại học, v.v… Trình độ văn hóa của dân số hay của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu

Như vậy phát triển nguồn nhân lực có một ý nghĩa rất to lớn trong sự phát
triển của xã hội đó là :
- Phát triển nguồn nhân lực là tiền đề, động lực cho quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của một quốc gia.
- Phát triển nguồn nhân lực là tiền đề của tăng trưởng nền kinh tế - xã hội,
tiền đề và động lực của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế.
- Phát triển nguồn nhân lực là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với Việt Nam :
- Phát triển nguồn nhân lực là tiền đề để xoá đói giảm nghèo, nâng cao
mức sống của toàn xã hội, Thực hiện thành công cuộc cách mạng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa nền kinh tế đất nước, đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo
nàn lạc hậu . Xây dựng đất nước Dân giầu - nước mạnh - Xã hội Công bằng –
Dân chủ - Văn minh. Đưa nước ta đến năm 2020 trở thành một nước công
nghiệp phát triển.
1.2.2 Một số yếu tố tác động đến nguồn nhân lực.
- Điều kiện tự nhiên – xã hội tác động đến nguồn nhân lực.
Nghiên cứu điều kiện tự nhiên của một quốc gia cho chúng ta thấy những
yếu tố thuận lợi, khó khăn của quốc gia đó về phát triển kinh tế - xã hội.
Xét về khí hậu : Khí hậu của một quốc gia, hay vùng lãnh thổ, thuận lợi
hay khắc nghiệt, thích nghi cho phát triển sản xuất những cây, con gì? Các mặt
tiêu cực của điều kiện tự nhiên tác động kìm hãm nền kinh tế phát triển trên lĩnh
vực nào v.v… Từ sự ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và khí hậu tác động đến
sự phát triển của nền kinh tế quốc gia, vùng lãnh thổ, đồng thời nó cũng tác động
mạnh đến nguồn nhân lực theo hướng tích cực thì nguồn nhân lực được phát
triển, còn theo hướng tiêu cực thì nguồn nhân lực phát triển chậm hay không
được phát triển. Ảnh hưởng đó thể hiện rõ nét nhất ở việc di dân tự do (dân di cư
từ vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt đến vùng có điều kiện thuận
lợi hơn) làm cho nguồn nhân lực ở vùng có khí hậu thuận lợi tăng nhanh về số
14


- Thành phố Hải Phòng : 13.274 người không có việc làm.
- Tỉnh Hà Nam : 12.360 người không có việc làm.
- Tỉnh Hải Dương : 11.964 người không có việc làm.
- Tỉnh Bắc Ninh : 2.222 người không có việc làm.
- Tỉnh Tiền Giang : 1.459 người không có việc làm.
- Tỉnh Quảng Ninh : 997 người không có việc làm.
15 Về sử dụng thời gian lao động : Theo số liệu báo cáo của Tổng cục thống
kê tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng của dân số hoạt động kinh tế thường
xuyên khu vực nông thôn đặc trưng của các vùng miền trong cả nước trên niên
giám thống kê năm 2004 (Bảng I.1). Số liệu đó cho thấy ở khu vực nông thôn
luôn tiềm ẩn lao động dôi dư sẵn sàng bổ sung vào lực lượng lao động của toàn
xã hội, làm cho nguồn nhân lực luôn có xu hướng tăng về số lượng.
Bảng I.1 : TỶ LỆ THỜI GIAN LAO ĐỘNG ĐƯỢC SỬ DỤNG

CỦA DÂN SỐ
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ THƯỜNG XUYÊN

KHU VỰC NÔNG THÔN NĂM 2004 Tỷ lệ %
Từ đủ 15 tuổi trở lên Trong độ tuổi lao động Tổng số
Trong đó:
Nữ

động có khả năng lao động – có trình độ văn hóa chuyên môn nghiệp vụ. Như
trên đã phân tích chất lượng của nguồn nhân lực và các tác động đến chất lượng
nguồn nhân lực. Xét về số lượng nguồn nhân lực thì số lượng nguồn nhân lực
phụ thuộc chủ yếu vào tổng dân số của quốc gia hay địa phương đó, tỷ lệ tăng
dân số hợp lý là tỷ lệ mà ở đó số lượng tăng dân số và tốc độ phát triển của nền
kinh tế phải phù hợp. Do vậy dân số ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng nguồn
nhân lực, điều chỉnh tỷ lệ tăng dân số sao cho phù hợp với tốc độ phát triển của
nền kinh tế nhằm đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu vật chất và tinh thần cho số
dân cư hiện có (nâng cao chất lượng nguồn nhân lực), đảm bảo cung cấp đủ số
lượng lao động cho hiện tại và trong tương lai. Theo đánh giá thực trạng huy
động nguồn nhân lực của nước ta hiện nay thì : Tổng nguồn lực lao động nước
ta có quy mô khoảng 40 triệu người, hàng năm tăng bình quân là 3% (cao hơn
tốc độ tăng dân số).
Cơ cấu dân số xét trên nhiều tiêu chí khác nhau như giới tính (tỷ lệ
Nam/Nữ, Thành thị/Nông thôn, Đồng bằng/Miền núi) v.v… Hiện nay tổng
nguồn lực lao động của Việt Nam phân bố không đồng đều.

Về cơ cấu giới tính : Phụ thuộc nhiều vào tập tục xã hội của mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa. Tư tưởng trọng Nam khinh nữ sẽ dẫn đến Nam
nhiều hơn Nữ (Trung Quốc), trước mắt thì lực lượng lao động cung cấp cho xã
hội đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, nhưng về lâu dài nó không đáp ứng
đủ số lượng lao động cung cấp cho xã hội, tâm lý người lao động bị tác động lớn
do không cân bằng giới tính dẫn tới số lượng và chất lượng lao động bị giảm sút.
Xét về cơ cấu dân số thành thị/Nông thôn : Phụ thuộc vào tốc độ phát triển
các đô thị tốc độ phát triển càng cao lực hút lao động từ nông thôn về thành thị
càng lớn, dẫn tới số lượng lao động thành thị cao hơn nông thôn. Ngoài ra cơ cấu
này còn phụ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nhưng nhìn
chung khi cơ cấu Thành thị/Nông thôn >1 thì nuớc đó đang chuyển mình về
nhóm các quốc gia công nghiệp có tốc độ phát triển kinh tế cao, tác động đến
chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao do sớm tiếp cận và hưởng thụ thành

lao động của xã hội nên lúc này nó lại tác động tích cực đến nguồn nhân lực, thu hút
lao động phát triển các ngành nghề, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao
động làm cho nguồn nhân lực có việc làm tăng nhanh về số lượng. Do vậy xét ở
từng thời điểm khác nhau của quá trình phát triển thì tốc độ phát triển kinh tế tác
động đến nguồn nhân lực ở các thời điểm khác nhau thì khác nhau. Ở trên ta mới
nghiên cứu sự tác động của tốc độ phát triển kinh tế đến số lượng nguồn nhân lực.
Khi xem xét sự tác động của tốc độ phát triển kinh tế đến chất lượng nguồn nhân
lực ta thấy: Tốc độ phát triển của nền kinh tế càng cao chứng tỏ khả năng áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới của các ngành kinh tế càng nhiều, để
đáp ứng với trình độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật đó đòi hỏi người lao
động phải có một trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật tương xứng vận hành do
vậy làm cho chất lượng nguồn nhân lực tăng. Mặt khác khi tốc độ phát triển của nền
kinh tế càng cao, năng xuất lao động xã hội tăng nhanh, sản phẩm lao động thặng
dư trong xã hội ngày càng nhiều, thu nhập bình quân GDP/đầu người tăng. Điều đó
cho ta thấy nền kinh tế - xã hội có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của
người lao động về vật chất và tinh thần tốt hơn, bền vững hơn, trong đó có nhu cầu
18 về học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của người lao động tăng
cao đây là điều kiện để chất lượng nguồn nhân lực tăng.

- Tác động của giao lưu kinh tế toàn cầu.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu về kinh tế và đường lối phát triển nền kinh
tế theo cơ chế thị trường ắt dẫn tới cạnh tranh. Cạnh tranh là quy luật kinh tế gắn
liền với nền kinh tế thị trường. Trong đó có cạnh tranh giữa các ngành nghề,
cạnh tranh giữa các lĩnh vực khác nhau, cạnh tranh giữa quốc gia này với các
quốc gia khác ngày càng trở nên gay gắt, để giành chiến thắng trong các cuộc
cạnh tranh bắt buộc các ngành, các quốc gia phải nâng cao chất lượng và hạ giá
thành sản phẩm. Để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản

hơn. Do đó giao lưu kinh tế toàn cầu đã tạo nên thị trường lao động góp phần
thúc đẩy quá trình tăng nhanh về chất lượng nguồn nhân lực.
- Tác động của giáo dục đào tạo.
Thực tế đã chứng minh rằng không có một nước công nghiệp phát triển
nào để trở thành một nước công nghiệp phát triển mà không quan tâm đến công
tác giáo dục và đào tạo. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự đòi hỏi của
các ngành kinh tế đặt ra cho ngành giáo dục đào tạo một nhiệm vụ rất nặng nề đó
là đào tạo con người mới có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật chuyên môn
nghiệp vụ cao để quản lý và vận hành nền kinh tế phát triển.
Ngược lại khi kinh tế càng phát triển thì nguồn tài chính giành để đầu tư
cho phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo ngày càng nhiều, khả năng đầu tư cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại trang bị cho ngành giáo dục ngày càng tăng, từ nền
tảng đó dẫn tới chất lượng giáo dục đào tạo càng được nâng cao. Khi đó con
người được tiếp cận với nhiều nền văn minh tiên tiến của thế giới trên nhiều lĩnh
vực khác nhau, con người càng ngày càng được trang bị trình độ văn hóa khoa
học chuyên môn kỹ thuật cao. Quá trình đó tác động đến việc tăng nhanh chất
lượng nguồn nhân lực của xã hội. Giáo dục đào tạo là cơ sở đào tạo ra con người.
Ở Việt Nam, con người mới, con người Xã hội chủ nghĩa được hình thành và
phát triển thông qua giáo dục đào tạo, sự tác động mạnh mẽ của giáo dục đào tạo
đến nguồn nhân lực không thể tính bằng ngày một ngày hai mà phải có thời gian
và sự đầu tư tài chính thích hợp cho từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế và
tương ứng với nguồn lực tài chính của đất nước trong từng thời kỳ. Để phát huy
hiệu quả của nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo dục – đào tạo chúng ta phải biết
kết hợp hài hòa các nguồn lực tài chính để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo
làm thay đổi nhanh số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực phục vụ cho quá
trình phát triển của nền kinh tế nước nhà.
1.2.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Như chúng ta đã biết, nền kinh tế của thế giới nhất là các nước Tư bản đã
chuyển mình tăng trưởng từ những năm của thế kỷ thứ 18 trong cuộc cách mạng
kỹ thuật lần thứ nhất, nhưng trong những năm 1950 và 1960 tăng trưởng kinh tế

vấn cao) còn phải kể đến các chính sách kinh tế phù hợp, cộng với trình độ quản
lý hiện đại của họ đã đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao, trở thành những
con Rồng của châu Á. Từ kết quả trên, trong sự nghiệp giáo dục đào tạo phải
được các ngành các cấp và toàn xã hội quan tâm đầu tư đúng mực, không chỉ về
vật chất cho các cơ sở đào tạo, mà còn phải giáo dục, tuyên truyền, vận động các
tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội quan tâm đầu tư cho việc học tập nâng
cao trình độ của chính mình. Đầu tư cho giáo dục đào tạo không chỉ là nhiệm vụ
mà còn là trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội. Làm cho
nhận thức của mọi người phấn đấu vươn lên, muốn có vị trí cao, muốn được xã
hội đánh giá đúng giá trị của mình, muốn đóng góp nhiều cho đất nước phải
không ngừng học tập nâng cao trình độ của bản thân, học tập phải là mục tiêu
phấn đấu suốt đời của mình, vấn đề đầu tư cho giáo dục đào tạo phải trở thành ý
thức xã hội. Giáo dục đào tạo phải được đề cao hơn nữa trong xã hội (đặc biệt là
21 giáo dục bậc đại học) nó như là một điều kiện cần đối với sự phát triển của nền
kinh tế. Kết quả của giáo dục đào tạo cùng với sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo
dục phổ thông, đại học, dậy nghề và các chính sách đãi ngộ nhân tài, coi trọng
nhân tài của quốc gia là động lực thúc đẩy các ngành kinh tế, khoa học kỹ thuật
của các quốc gia đó phát triển. Kết quả của sự phối hợp trên không chỉ thu hút
được những nhà khoa học sáng giá nhất của đất nước mình mà còn tạo dòng
chẩy chất xám từ nước ngoài về phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất
nước, đây là phương thức đầu tư nhanh nhất và hiệu quả nhất. Khi khoa học kỹ
thuật giữa các quốc gia cân bằng, những ước mơ và ý đồ đổi mới kỹ thuật và
công nghệ của các nước kinh tế chậm phát triển sẽ được thực hiện ngay trên
chính đất nước của mình, kết quả sản xuất tạo ra những sản phẩm không khác so
với các nước kinh tế phát triển, trên thực tế phát triển kinh tế của các nước kinh
tế chậm phát triển trên thế giới trong thời gian qua ( trong đó có Việt Nam) các
sản phẩm do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất trên các quốc gia này khi

thông (phổ cập phổ thông trong xã hội) mà đầu tư cho bậc đại học, tiến tới phổ
cập trong toàn xã hội. Ngày nay song song với việc thành lập các trường đại học
công lập và các trường đại học ngoài công lập trong nước còn có sự tham gia của
các trường đại học nước ngoài đã tạo nên sự cạnh tranh giữa các trường trong
nước với nhau và giữa các trường trong nước với các trường nước ngoài. Kết quả
cuộc cạnh tranh đó thúc đẩy các trường phải tự mình đầu tư nâng cao uy tín của
trường bằng chất lượng đào tạo, làm cho chất lượng đào tạo của các trường được
nâng lên nấc thang mới. Các trường đào tạo trong nước có thể sánh vai được với
các trường đào tạo nuớc ngoài uy tín và chất lượng đào tạo trong nước được các
nước khác công nhận, do đó trình độ dân trí trong xã hội được nâng cao dẫn tới
trình độ và chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao.
Như vậy, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại không chỉ nhằm biến
đổi cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế từ lao động chủ yếu là thủ công sang
lao động máy móc bán tự động và tự động, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hóa, mà cuộc cách mạng đó còn mang nội dung mới trên cơ sở mối quan hệ
giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ,v.v... Ngày
nay khoảng cách từ thời gian nghiên cứu phát minh đến ứng dụng những phát
minh ấy hầu như không có khoảng cách, những cải tiến, phát minh ở thời kỳ này
vừa có kết quả thì ngay lập tức nó được ứng dụng vào sản xuất – kinh doanh, từ
đó hình thành nên một hệ thống sản xuất - kinh doanh linh hoạt đủ khả năng để
thay đổi nhanh chóng quy trình sản xuất. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và
công nghệ đã tạo ra hàm lượng thông tin và tri thức chiếm tỷ trọng cao trong
tổng chi phí sản xuất. Thông tin và tri thức là yếu tố mới xuất hiện và ngay lập
tức nó trở thành yếu tố cốt lõi của cả hệ thống sản xuất hiện đại. Theo số liệu
thống kê kinh tế thế giới năm 1990 phản ánh phần đóng góp của thông tin, tri
thức trong thu nhập quốc dân của một số nước công nghiệp phát triển cụ thể như:
của Mỹ là 47,4%, của Anh là 45,8%, của Pháp là 45,1%, của Đức là 40,4%. Trí
tuệ ngày nay trở thành động lực cho toàn bộ tương lai của nhân loại, thúc đẩy sự
tiến bộ vừa sâu vừa rộng của xã hội trên nền tảng khoa học và công nghệ cao để
tạo ra bước tăng trưởng kinh tế mới, hiếm thấy so với trước đây.

các nguồn lực tài chính thu hút các nguồn lực tài chính cùng tập trung đầu tư cho
giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực tài chính đó là : Ngân
sách nhà nước; Ngân sách địa phương; Nguồn tài trợ nước ngoài; Tổ chức kinh
tế - xã hội, Doanh nghiệp trong nước; Doanh nghiệp nước ngoài; các Doanh
nhân; Các ngân hàng chính sách; Ngân hàng thương mại; Người lao động v.v...
Sử dụng các nguồn lực tài chính ấy một cách tiết kiệm có hiệu quả trong đầu tư
giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
1.3 Đầu tư tài chính phát triển nguồn nhân lực của một số nước kinh
tế phát triển trên thế giới và khu vực.
24 Các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh trên thế giới như Mỹ, Nhật
bản, Anh, Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Italia và một số nước mới nổi lên như Trung
Quốc, Hàn Quốc, Singgapo, Hồng Kông, Thái Lan v.v… Ở các quốc gia này có
trình độ văn hóa cao, tỷ lệ người có trình độ đại học cao. Theo kết quả đánh giá
của Liên hợp quốc hệ thống giáo dục của các nước này vào loại tốt nhất thế giới.
Chính phủ các nước này nhận thức được vai trò của con người trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội, Con người là tài sản vô giá của quốc gia, là động lực
thúc đẩy xã hội phát triển nên sớm đầu tư cho giáo dục và đào tạo, đầu tư hợp lý,
giáo dục đào tạo phải đi trước một bước để tạo tiền đề, động lực cho phát triển
kinh tế. Nếu tính theo tỷ lệ GDP đầu tư cho giáo dục đào tạo của các quốc gia
công nghiệp phát triển thì tỷ lệ này chiếm từ 4% GDP trở lên cụ thể ở (bảng I.2) :
Bảng I.2 :Tỷ lệ đầu tư tài chính cho phát triển giáo dục đào tạo của các quốc
gia công nghiệp phát triển.
Số thứ
tự
Tên nước Tỷ lệ ngân sách đầu tư cho giáo dục so với
GDP (%)
1 Mỹ 6,7
Từ nhận việc thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo trong chiến
lược đầu tư phát triển con người, các quốc gia công nghiệp phát triển giành
nguồn tài chính đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo con người của
quốc gia mình tương đối cao. Nhận thức được vai trò của con người trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước các Quốc gia công nghiệp phát
triển ngay từ đầu đã chú trọng đến công tác giáo dục đào tạo, tập trung nguồn lực
tài chính để đầu tư cho giáo dục đào tạo. Như ở Mỹ nhận thức được tính cấp thiết
phải nâng cao trình độ cho con người khi chế độ phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn
tại thì luật giáo dục bắt buộc được ban hành vào năm 1852 được áp dụng ở tất cả
các Bang của Mỹ, mục tiêu của phổ cập giáo dục là toàn bộ dân chúng phải được
giáo dục để tạo ra một xã hội tự do, trong đó mọi cá nhân đều có cơ hội để thể
hiện những năng lực của mình. Chính quyền ở các bang chú trọng đầu tư cho
việc giáo dục đào tạo có nhiều chính sách tài chính phù hợp như tất cả các
trường học dành cho trẻ em đều do ngân sách các bang tài trợ, Chính phủ còn
cho phép bán đất công để gây quỹ xây dựng trường học. Kể từ khi nhà nước tài
trợ cho hệ thống giáo dục tiểu học thì số học sinh và số trường học gia tăng
nhanh. Hệ thống giáo dục đào tạo bậc phổ thông được nhà nước tài trợ và mở
rộng liên tục trong thế kỷ XX, đến những năm của thập kỷ 1960 có 83% học sinh
trong độ tuổi đi học. Việc ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đào tạo là
điều kiện cơ bản để bảo đảm sự bình đẳng của mọi người trong xã hội Mỹ. Mặc
dù ngân sách nhà nước đầu tư cho bậc giáo dục phổ thông ở Mỹ làm cho bậc học
này phát triển thể hiện qua các chỉ tiêu giáo dục nhưng nó không đóng vai trò
trung tâm trong hệ thống giáo dục. Mà trung tâm của hệ thống giáo dục đào tạo ở
Mỹ đặt vào bậc đại học, có thể nói đây là nét đặc thù riêng của nền giáo dục đào
tạo ở Mỹ. Quy mô giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp tăng nhanh đã
đưa Mỹ đến thời kỳ giáo dục đại học hàng loạt. Đến cuối thập kỷ 1960, Mỹ đã có
hơn 2.000 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, với số sinh viên
khoảng 7 triệu người. Theo thời gian con số các trường đại học, cao đẳng, trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status