Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội – PGD Hồ Tùng Mậu - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp em đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình từ các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè…Qua đây em xin gửi lời cảm ơn
đến quý thầy cô khoa Tài chính – Ngân hàng cũng như các thầy cô khoa Tài chính Doanh
nghiệp và tất cả các thầy cô của Trường đại học Thương Mại đã truyền đạt cho em những
kiến thức quý báu và cần thiết để hoàn thành đề tài này. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến cô giáo Ths Lê Hà Trang đã tận tình hướng dẫn, sửa chữa những khuyết điểm
cho em trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài. Em xin cảm ơn các cô chú, các
anh chị đang công tác tại Ngân hàng phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi
nhánh Hà Nội- PGD Hồ Tùng Mậu đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, giúp em thu thập số
liệu và khảo sát thực tế, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực tập và
thực hiện đề tài này.
Em cũng xin gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè và những người than đã luôn quan
tâm, động viên và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Do thời gian thực tập không được nhiều, kinh nghiệm thực tế và hiểu biết còn hạn
chế nên khóa luận không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của
thầy cô giáo để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng giữu một vai trò quan trọng quyết định tới
sự thịnh vượng hay suy thoái nền kinh tế.Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển,
ngân hàng không chỉ thực hiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ mà còn thực hiện nhiều dịch
vụ khác như: thanh toán, ký gửi…, hoạt động của ngân hàng không chỉ bó hẹp trong một
quốc gia mà ngày càng được quốc tế hóa. Cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác,
nguồn vốn đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong

định, là cơ sở để ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư, dự trữ… mang lại
lợi nhuận cho ngân hàng. Để có được nguồn vốn này, ngân hàng cần phải tiến hành các
hoạt động huy động vốn, trong đó huy động vốn tiền gửi tiết kiệm chiếm một vai trò đặc
biệt quan trọng trong hoạt động này.Tiềm năng vốn trong dân cư còn rất lớn, song chưa
được khai thác nhiều do người dân còn thiếu lòng tin ở ngân hàng, chưa được am hiểu về
khả năng sinh lời từ những khoản tiền đang nhàn rỗi trong túi của mỗi người. Trong đó
việc tiếp cận để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trên còn hạn chế chưa phát huy hết tiềm năng
vốn đang nằm trong dân cư.
Tuy nhiên việc huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng hiện nay gặp rất nhiều
khó khăn như: chịu nhiều cạnh tranh từ các chủ thể khác trong nền kinh tế cũng tiến hành
hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm: các ngân hàng khác, các công ty bảo hiểm, bưu
điện…
Do vậy, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tiết kiệm
là vấn đề trở nên cần thiết trong định hướng phát triển kinh doanh của PGD Hồ Tùng
Mậu. Phát triển hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm sẽ tạo thế mạnh về tài chính, tăng
uy tín thương hiệu của PGD, đặc biệt huy động vốn từ dân cư là nguồn vốn cơ bản, ổn
định lâu dài, mang lại sự hoạt động kinh doanh ổn định cho chi nhánh, chính vì vậy em
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
chọn đề tài “Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm tại MHB Chi nhánh Hà Nội – PGD
Hồ Tùng Mậu” Nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn với mục đích khai
thác để thu hút tiền còn đang nhàn rỗi trong các khu dân cư, vừa phát triển thị trường vốn
của PGD một cách phong phú vừa đem lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.
2.Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn TGTK của
NHTM.
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng huy động vốn TGTK tại NH phát triển Nhà
Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội – PGD Hồ Tùng Mậu.
- Phân tích các nhân tố môi trường kinh doanh tác động tới huy động vốn TGTK tại
NH phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội – PGD Hồ Tùng Mậu.
- Nhận dạng các thành công, các vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong huy động vốn

phân loại, suy diễn logic…
- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các bảng biểu, biểu đồ, các công cụ, chương trình tính
được sử dụng trong phân tích định lượng, hoặc mô hình phân tích thực trạng và đánh giá
tổng quát về tình hình nghiên cứu.
5.Kết cấu khóa luận
Ngoài lời cảm ơn, lời nói đầu, mục lục, các danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ,
danh mục viết tắt, các tài liệu tham khảo, kết cấu khóa luận gồm ba chương sau:
Chương 1: Tổng quan về NHTM và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
Chương 2: Thực trạng huy động huy động tiền gửi tiết kiệm tại của Ngân hàng phát
triểnNhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi nhánh Hà Nội-PGD Hồ Tùng Mậu
Chương 3: Định hướng và giải phápnhằm đẩy mạnh tăng cường huy động tiền gửi
tiết kiệm tại của Ngân hàng phát triểnNhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi nhánh Hà
Nội-PGD Hồ Tùng Mậu
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT
ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm là một trong những hoạt động của
NHTM.Vậy muốn hiểu rõ được hoạt động huy động TGTK của NHTM là gì?Ý nghĩa của
nó như thế nào?Trước tiên chúng ta cần tìm hiểu khái quát về TGTK của ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm là sản phẩm gửi tiền phục vụ chủ yếu cho khách hàng là dân cư,
cá nhân là người Việt Nam hay người nước ngoài đang định cư tại lãnh thổ Việt Nam hay
người nước ngoài đang định cư tại lãnh thổ Việt Nam.
Mục đích tiền gửi tiết kiệm là để hưởng lãi, thuận tiện sử dụng các dịch vụ của ngân
hàng như thanh toán, chuyển tiền…
Tiền gửi tiết kiệm có tính ổn định cao.
Cũng như nhiều tổ chức kinh doanh khác, nguồn vốn đóng một vai trò quan trọng
trong hoạt động kinh doanh của NH, trong đó nguồn vốn huy động có ý nghĩa quyết định,
là cơ sở để NH tiến hành các hoạt động cho vay, đầu tư, dự trữ mang lại lợi nhuận cho
NH. Để có được nguồn vốn này, NH cần phải tiến hành các hoạt động huy động vốn,

khả năng thanh toán.
Thứ tư, NHTM giữ vai trò đại lý thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của
họ phát hành hoặc mua lại chứng khoán.
Thứ năm, NHTM là chủ thẻ thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ, góp
phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế của Chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng
kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội. Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về ngân
hàng trung ương phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, ngiệp vụ thị
trường mở Chính các ngân hàng thương mại là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của
các công cụ này.
Thứ sáu, NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.
Với xu hướng phát triển của nền kinh tế là mở cửa hội nhập vào công đồng kinh tế khu
vực và toàn thế giới. Thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, quan hệ thanh toán
với các tổ chức tài chính ngân hàng và doanh nghiệp quốc tế, ngân hàng giúp cho việc
thanh toán, trao đổi mua bán được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và có hiệu
quả. Qua đó, NHTM giúp mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cung cấp vốn
cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn với các hoạt động cơ bản như
sau:
- Hoạt động huy động vốn
Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của
ngân hàng.Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động
dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá.Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn
huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất,
cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước. Hoạt động huy động vốn
của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân
hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần
kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các ngân hàng

2.1.1.1 Khái niệm
Với khái niệm thuần túy hoạt động huy động vốn được hiểu là các hoạt động nhằm
tạo ra các nguồn vốn ngoài vốn chủ sở hữu bao gồm: Huy động vốn dưới hình thức tiền
gửi, huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá, vay Ngân hàng Nhà nước, vay các
Tổ chức tín dụng khác.
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
của ngân hàng.Hoạt động này mang lại nguồn vốn để NH có thể thực hiện các hoạt động
khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ NH cho khách hàng.
2.1.1.2 Các hình thức huy động vốn của NHTM
Tùy theo tiêu chí, mục đích huy động vốn mà có nhiều hình thức huy động vốn khác
nhau:
Phân theo loại tiền: huy động vốn nội tệ và ngoại tệ.
Phân theo phạm vi huy động: huy động vốn trong nước và nước ngoài.
Phân theo kỳ hạn huy động: huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Huy động vốn nội tệ và ngoại tệ
- Huy động vốn nội tệ:
+ Tiền gửi bằng nội tệ của các tầng lớp dân cư: Tiền gửichủ yếu là tiền gửi tiết kiệm,
nguồn này có quy mô, cơ cấu lớn trong tổng nguồn huy động bằng nội tệ nhưng tăng
trưởng không ổn định. Nhược điểm huy động tiền gửi tiết kiệm có lãi suất huy động bình
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
quân cao, kỳ hạn tiền gửi danh nghĩa của người dân thường ngắn (kỳ hạn nhỏ hơn 12
tháng).Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng sử dụng vốn, khả năng dịch chuyển kỳ hạn
dư nợ, kết quả kinh doanh và giảm sức cạnh tranh của NHTM.
+ Tiền gửi bằng nội tệ của các TCKT-XH: Nguồn tiền này cũng có quy mô, cơ cấu
lớn trong tổng nguồn huy động.Tiền gửi này thường là tiền gửi giao dịch hoặc có kỳ hạn
ngắn, hưởng lãi suất thấp. Nếu NH huy động được nhiều để cho vay và đầu tư thì không
những kéo dài được chênh lệch lãi suất hai đầu trần và sàn, giảm được chi phí vốn bình
quân, tăng lợi nhuận.
+ Tiền gửi bằng nội tệ của các TCTD khác: Nguồn này có quy mô, cơ cấu nhỏ trong
tổng nguồn tiền gửi bằng nội tệ. Nguồn tiền gửi của các TCTD khác thường có mức độ

yếu là kỳ phiếu tạo vốn ngắn hạn còn trái phiếu tạo vốn dài hạn thì ít được quan tâm.Một
nguồn vốn trong nước nữa mà NHTM có thể huy động đó là vốn đi vay. NHTM có thể đi
vay NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác nhưng ở Việt Nam các TCTD không phát
triển mạnh, do vậy hầu hết chỉ có hoạt động vay giữa các NHTM nhà nước. Ngoài ra còn
có một số nguồn vốn khác có thể huy động được ở trong nước như vay từ công ty mẹ,
vốn ủy thác của các tổ chức trong nước…
Trên đây là những nguồn vốn trong nước mà NHTM có thể huy động được từ bên
ngoài.Khi huy động vốn trong nước, điều mà các NHTM quan tâm đó là lãi suất phải
đảm bảo nhu cầu của thị trường. Nguyên nhân là vì lãi suất vốn trong nước không được
quyết định đơn thuần chỉ bằng bởi lãi suất nước ngoài, tỷ lệ thay đổi kỳ vọng trong tỷ giá
hối đoái và mọi chi phí rủi ro mà còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện thị trường
trong nước, bao gồm cung và cầu trong nước đối với tín dụng, cấu trúc của hệ thống tài
chính trong nước và tình trạng lạm phát mong đợi.
- Huy động vốn nước ngoài: Xét theo lịch sử, phần lớn các khoản vốn nước ngoài chảy
vào các nước đang phát triển là mang tính chất dài hạn hoặc trung hạn. Hầu hết chúng
được sử dụng vào các dự án và do vậy là nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đối với những nước có khó khăn về nguồn vốn trong nước hoặc dự trữ ngoại hối, thì việc
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
tiếp cận được với vốn nước ngoài sẽ có thể giúp giải quyết được nhiều trở ngại của nền
kinh tế.
Hiện nay, đối với các NHTM ở Việt Nam được phép huy động vốn của các tổ chức
nước ngoài qua các hình thức:
+ Vay bằng tiền (vay tài chính)
+ Nhập khẩu hàng hóa dịch vụ trả chậm theo phương thức mở L/C
+ Thuê tài chính nước ngoài
+ Phát hành trái phiếu ra nước ngoài
+ Các loại hình vay nước ngoài khác
Các NHTM cần có những giải pháp sử dụng nguồn vốn tín dụng có hiệu quả và đặc
biệt nên sử dụng vào việc triển khai các chương trình quốc gia, tham gia vào các kế
hoạch cụ thể do thủ tướng chính phủ ra quyết định để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ từ

động trung và dài hạn chỉ chủ yếu là vay trên thị trường vốn.thông thường đây là khoản
huy động không có đảm bảo. Những NH có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ huy động được
nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này; họ thường
phải huy động thông qua các NH đại lý hoặc được NH đầu tư.
Huy động vốn từ các nguồn khác
- Vốn trong thanh toán: Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình
thành nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C…)
- Vốn vay từ công ty mẹ: Tại các nước phát triển, một công ty hoặc một tập đoàn kinh
doanh có thể là chủ của từ 1 đến rất nhiều NHTM. Thay vì NH phát hành trái phiếu hoặc
giấy nợ để vay, có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của NHTW về dự trữ, lãi suất
và kể cả thủ tục, các công ty mẹ của NH có thể thay thế làm việc đó dưới hình thức phát
hành trái phiếu hoặc cổ phiếu công ty hoặc các loại thương phiếu, rồi chuyển vốn đã huy
động được về cho NH hoạt động.
- Vốn khác: Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các NHTM có thể sử dụng
kết dư trên tài khoản thanh toán vãng lai như chênh lệch thu hộ lớn hơn chi hộ các NH
khác trong thanh toán liên NH. Ngoài ra còn có thể có số dư trên các tài khoản ký quỹ
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
hoặc các khoản quản lý giữ hộ nhưng số vốn này không nhiều và NH không chủ động
trong việc tập trung nguồn này.
2.1.1.3 Vai trò của hoạt độnghuy động vốn của NHTM
Hoạt động huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho NH nhưng nó
là hoạt động rất quan trọng.Không có hoạt động huy động vốn coi như không có hoạt
động của NHTM. Khi thành lập, NH phải có một số vốn điều lệ, nhưng số vốn này chỉ đủ
để đầu tư cho các tài sản cố định như: trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị chứ chưa đủ
vốn để NH có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng và cấp các hoạt
động NH khác. Để có vốn thực hiện các hoạt động này, NH phải huy động vốn từ khách
hàng. Hoạt động huy động vốn do vậy cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với NH cũng
như khách hàng và đối với nền kinh tế nói chung.
- Đối với NHTM: Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho NH
thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.Không có hoạt động huy động vốn, NHTM sẽ

trong xã hội mà ngân hàng được phép thu hút và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ
và đúng hạn cả gốc và lãi. Nguồn vốn huy động là nguồn rài nguyên to lớn nhất và bao
gồm tiền gửi không kỳ hạn của đơn vị, cá nhân; TGTK không kỳ hạn; TGTK có kỳ hạn;
tiền phát hành kỳ phiếuvà trái phiếu; các khoản tiền gửi khác.
2.1.2.2 Sự cần thiết của việc huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của NHTM
Đối với ngân hàng, TGTK là nguồn vốn huy động thường xuyên của ngân hàng.
Nguồn này có được là do tích lũy từ thu nhập, tiền lương, tiền thưởng… của dân cư và
các doanh nghiệp. Số tiền gửi có thể ít, có thể nhiều nhưng có số lượng người gửi rất
đông.Vì vậy nguồn vốn TGTK được tạo ra chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
huy động của ngân hàng. Thông thường đây là nguồn vốn ổn định nhất trong các nguồn
vốn mà ngân hàng huy động, nên tạo điều kiện cho ngân hàng dễ dàng trong việc cân đối
vốn cung như trong việc sử dụng vốn. Vốn TGTK trong NHTM lớn thể hiện uy tín và
lòng tin đối với dân chúng của ngân hàng đó trên thị trường.
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
Đối với nền kinh tế, TGTK góp một phần vốn đầu tư vào nền kinh tế, cung cấp
nguồn vốn tại chỗ cho nhân dân.Mặt khác TGTK phản ánh khả năng phát triển của nền
sản xuất, mức sống của người dân càng nhiều và nó tác động trở lại nền kinh tế.
Đối với cá nhân, doanh nghiệp: giúp đỡ người dân và doanh nghiệp tích lũy đồng
vốn của mình để phục vụ những kế hoạch chỉ tiêu trong tương lai. Đồng thời gửi tiền tiết
kiệm là phương thức cất giữ tiền an toàn và có thể sinh lời.
2.1.2.3 Các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM
Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng đã huy động được một lượng lớn nguồn
vốn nhàn rỗi, đóng góp đáng kể cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.Tuy nhiên
trong điều kiện hiện nay, nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng còn chiếm tỷ
trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn trong xã hội. Do vậy, việc mở rộng và phát triển quy mô
nguồn vốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư là một yêu cầu cấp thiết
đối với các ngân hàng thương mại. Để làm được như vậy thì ngân hàng phải có các
hình thức và chương trình khuyến mãi về tiết kiệm để thu hút được khách hànggửi tiền
vào ngân hàng.
Vậy các NHTM đã có những hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm gì để thu hút

- Ngoài các cách phân loại trên, thì hiện nay các ngân hàng còn đưa ra nhiều hình thức
TGTK khác rất đa dạng và phong phú. Ví dụ như các loại TGTK sau:
- TGTK trả lãi trước toàn bộ: Đây là sản phẩm tiết kiệm mà khách hàng gửi theo
những kỳ hạn định trước, lãi được trả một lần ngay khi khách hàng gửi tiền.
- TGTK trả lãi trước định kỳ: Đây là sản phẩm tiền gửi mà khách hàng gửi theo
những kỳ hạn định trước, lãi được trả nhiều lần trước mỗi định kỳ.
- TGTK hưởng lãi bậc thang theo lũy tiến của số dư tiền gửi: Đây là sản phẩm tiết
kiệm có kỳ hạn mà lãi suất khách hàng được hưởng được xác định tương ứng với số dư
thực gửi. Số dư thực gửi càng lớn, lãi suất được hưởng càng cao.
- TGTK hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi: Đây là sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn
mà lãi suất khách hàng được hưởng được xác định tương ứng với thời gian gửi thực tế,
thời gian gửi càng dài, lãi suất càng cao.
- TGTK có kỳ hạn lãi suất tự điều chỉnh tăng theo lãi suất cơ bản của NHNN: Đây là
sản phẩm tiết kiệm trả lãi sau toàn bộ. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được tự động điều chỉnh
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
tăng lên tương ứng khi mức lãi suất cơ bản của đồng Việt Nam do NHNN Việt Nam công
bố tăng lên, nhưng không bị giảm xuống khi mức lãi suất cơ bản giảm.
- TGTK bằng VND bảo đảm giá trị theo giá USD: Khách hàng được bảo đảm toàn bộ
số tiền gốc bằng USD. Số tiền USD được quy đổi theo tỷ giá mua chuyển khoản do
NHNN công bố tại ngày khách hàng nộp tiền. Đến hạn, khách hàng được thanh toán số
tiền gốc bằng số tiền quy đổi USD khi gửi nhân với tỷ giá mua chuyển khoản tại ngày
đến hạn…
Các loại TGTK hay còn gọi là các sản phẩm TGTK trên được NHTM thiết kế để thỏa
mãn tối đa nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Do nhu cầu gửi tiết kiệm của khách hàng là
rất phong phú và đa dạng nên NHTM càng ngày càng phát triển các sản phẩm TGTK của
mình. Việc phát triển các sản phẩm TGTK mới có ý nghĩa quan trọng trong công tác huy
động TGTK của NHTM.
Như vậy, chúng ta đã được biết ngân hàng là một ngành có vai trò hết sức quan
trọng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới của nước ta hiện nay. Bằng các hoạt động
của mình ngân hàng có thể huy động được nhiều vốn ở trong nước và ngoài nước để tăng

chỉnh của luật pháp.Các hoạt động của ngân hàng thương mại chịu sự điều chỉnh của luật
các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhà nước. Mặt khác, ở
Việt nam hiện nay các ngân hàng thương mại được tổ chức theo mô hình tổng công ty, do
vậy các chi nhánh ngân hàng trong hoạt động của mình ngoài việc phải tuân thủ theo
pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước ban hành còn phải tuân thủ theo các quy
định mà ngân hàng mẹ ban hành trong từng thời kỳ về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho
vay Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi
làm ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng của hoạt động huy động vốn.
1.4.1.3 Môi trường cạnh tranh
Khi định ra chiến lược phát triển cho ngân hàng rõ ràng cần phải tính đến điều kiện
về môi trường kinh doanh. Sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trên địa bàn sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng.Để có thể tồn tại và phát triển, ngân hàng
cần phải định ra chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể thắng trong cạnh tranh với
ngân hàng khác.Trong quá trình cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và
đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
trường và làm tốt công tác marketing. Ngân hàng phải bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để có
thể làm tốt công việc của mình. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố
thúc đẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động huy
động vốn.
1.4.1.4 Văn hóa – xã hội, tâm lý khách hàng
Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân hàng và
những đối tượng sử dụng vốn đó. Về môi trường xã hội ở các nước phát triển, khách
hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyển vào tài khoản của họ. Nhưng ở
các nước kém phát triển, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn. Ở khoản mục tiền gửi
tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của người gửi tiền.
Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huy động trong
tương lai.Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền. Tâm
lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút
ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây

nguồn tiền gửi không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cao mà còn phụ thuộc vào các nhân tố
khác như kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện thanh toán, uy tín, địa điểm của ngân hàng
nhưng với lãi suất cao, linh hoạt, hợp lý thì luôn luôn có tác dụng kích thích người gửi
tiền. Nhưng lãi suất có ảnh hưởng lớn nhất đến lượng tiền gửi tiết kiệm vì khách hàng
chọn gửi tiền theo phương thức này thường có mục đích hưởng lãi.
1.4.2.4 Trình độ công nghệ của ngân hàng
Trình độ công nghệ ngân hàng được thể hiện qua các yếu tố sau:
Thứ nhất: Các loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Thứ hai: Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Thứ ba: Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng
về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các ngân hàng.Đây
là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh trạnh phi lãi suất vì khách hàng mà
ngân hàng phục vụ, không quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến chất lượng và loại hình
dịch vụ mà ngân hàng cung ứng.Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân hàng
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh
tranh sẽ cao hơn.
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng là điều kiện để thực hiện tốt các nghiệp vụ
ngân hàng. Cán bộ ngân hàng phải có chuyên môn tốt để có thể quản lý tốt nguồn vốn,
thực hiện tốt công việc sử dụng vốn góp phần nâng cao chất lượng huy động vốn .
1.4.2.5Uy tín của ngân hàng
Trên thực tế, mỗi ngân hàng đã, đang và sẽ tạo được một hình ảnh riêng của mình
trong lòng khách hàng.Một ngân hàng lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế hơn trong hoạt động
huy động vốn. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có khả năng ổn định
khối lượng vốn huy động và tiết kiệm chi phí huy động. Từ đó ngân hàng có thể đề ra
chiến lược dự trữ dễ dàng hơn. Thậm chí trong điều kiện lãi suất gửi tiền tại ngân hàng có
uy tín thấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫn lựa chọn ngân hàng đó để gửi mà
không tìm những nơi trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình sẽ tuyệt
đối an toàn.

2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
- Huy động vốn trong nước cả nội tệ và ngoại tệ của mọi tổ chức dân cư, cá nhân
thuộc thành phần kinh tế theo quy định về các hình thức huy động vốn trong hệ thống
Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long.
- Nghiên cứu, tìm hiểu, giới thiệu khách hàng, phân loại khách hàng.
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
- Hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, phương án.
- Đảm bảo an toàn quỹ tiền mặt, các loại chứng từ có giá, quản lý tốt tài sản trong
thiết bị làm việc.
- Cung cấp ngày càng nhiều dịch vụ và tiện ích để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
khách hàng thuộc Quận Từ Liêm và các địa bàn lân cận.
- Thực hiện các nhiệm vụ do Giám đốc chi nhánh giao
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Sau gần 4 năm hoạt động PGD Hồ Tùng Mậu đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ
với tổng số cán bộ của phòng giao dịch là 11 cán bộ nhân viên, được bố trí theo sơ đồ
sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của PGD Hồ Tùng Mậu - MHB chi nhánh Hà Nội
( Nguồn báo cáo tổng hợp PGD Hồ Tùng Mậu năm 2012-2014)
Giám đốc Phòng giao dịch Hồ Tùng Mậu - MHB chi nhánh Hà Nội: Nguyễn Thị Hương
Giang
Trưởng bộ phận kế toán: Nguyễn Đức Toàn
Trưởng bộ phận kinh doanh: Phạm Thanh Hùng
Từ sơ đồ tổ chức thì chức năng của từng bộ phận như sau:
* Chức năng và nhiệm vụ của bộ phận kinh doanh - tín dụng
+Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù
hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL
HOÀNG THỊ HUẾ LỚP: k47h4
Giám đốc
Bộ
phận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status