NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THUÝ DUNG
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2010
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NGUYỄN THUÝ DUNG
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG - CHI NHÁNH HÀ NỘI
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Giáo viên hướng dẫn: TS. LÊ HỒNG PHONG
HÀ NỘI - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của luận văn là trung
thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ
Các bảng,
sơ đồ
Mục
lục
Nội dung Trang
55
Bảng 2.8 2.3.1
Doanh số cho vay theo loại hình doanh nghiệp
2006 - 2009
55
Bảng 2.9 2.3.1 Thu nhập từ hoạt động tín dụng 2005 - 2009 56
Biểu đồ 2.1 2.1.3 Tổng nguồn vốn MHB Hà Nội từ 2005 - 2009 36
Biểu đồ 2.2 2.1.3 Tổng dư nợ tại MHB Hà Nội 2006 - 2009 37
Biểu đồ 2.3 2.2.1
Cơ cấu cho vay theo loại hình kinh tế 2006 -
2009
40
Đồ thị 2.1 2.2.2 Tốc độ phát triển các nhóm nợ 2006 - 2009 48
Đồ thị 2.2 2.2.2 Diễn biến tổng dư nợ 2006 - 2009 49
Đồ thị 2.3 2.2.2 Diễn biến tỷ lệ NQH 2006 - 2009 50
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CỤM TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
Ban giám đốc
BGĐ
Cán bộ hỗ trợ
CBHT
Cán bộ kinh doanh
CBKD
Cán bộ rủi ro
CBRR
Cán bộ tín dụng
CBTD
Doanh nghiệp nhà nước
DNNN
RRTD
Tỏ chức tín dụng
TCTD
Tín dụng
TD
Trung dài hạn
TDH
Tài sản đảm bảo
TSĐB
Tài sản thế chấp
TSTC
Uỷ ban tín dụng
UBTD
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Tăng cường khả năng cạnh tranh để mở rộng quy mô tín dụng của các
ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn đi liền với
khả năng tăng lên của rủi ro tín dụng. Với cơ cấu tín dụng đa dạng như hiện
nay, với tiềm ẩn rủi ro tín dụng thường trực thì rủi ro tín dụng có thể dẫn đến
mất an toàn của cả hệ thống ngân hàng thương mại. Thực tế cho thấy trong nền
kinh tế thị trường, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) lâu năm, có kinh
nghiệm nhưng cũng đã từng bị những hậu quả lớn do rủi ro tín dụng (RRTD)
gây nên, do đó việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đang là mối quan
tâm hàng đầu của các NHTM. Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu
Long chi nhánh Hà nội (MHB Hà Nội) là ngân hàng mới còn non trẻ so với
nhiều NHTM khác, kinh nghiệm thực tế còn ít ỏi, dự nợ không lớn nhưng tốc
độ phát triển nhanh, đồng thời tốc độ nợ quá hạn qua các năm gần đây có chiều
hướng tăng cao, nên việc cần phải học các bài học kinh nghiệm của các ngân
hàng bạn, tránh những hậu quả lớn đã xảy ra tương tự như các ngân hàng bạn
là rất cần thiết. Vì vậy, tìm kiếm các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại
1.1.1.1 Các hoạt động chính của NHTM
* Khái niệm NHTM: Theo luật các TCTD năm 2004 định nghĩa:
”NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước”.
Theo dự thảo luật các TCTD định nghĩa: ”Ngân hàng là loại hình tổ chức
tín dụng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác”.
Theo quan điểm của Giáo sư Peter Rose, một nhà kinh tế Mỹ: “Ngân hàng
thương mại là một tổ chức tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm
và thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Định nghĩa này thể hiện rõ phạm vi,
quy mô cũng như vai trò của NHTM trên thị trường tài chính - tiền tệ, đồng thời
phản ánh được ảnh hưởng của NHTM tới nền kinh tế của một nước.
* Các hoạt động chính của NHTM:
- Huy động vốn: NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
+ Nhận tiền gửi của các tổ chức cá nhân và các TCTD khác dưới các
hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;
3
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
+ Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của
tổ chức tín dụng nước ngoài;
+ Vay vốn ngắn hạn của NHNN theo qui định tại khoản 1 Điều 30 Luật
ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Các hình thức huy động vốn khác theo qui định của NHNN.
- Hoạt động tín dụng: NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân
dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
Cung ứng các phương tiện thanh toán;
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng;
Thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ;
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của NHNN;
Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép;
Thực hịện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng;
Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán
liên ngân hàng trong nước. Việc tham gia các hệ thống thanh toán
quốc tế phải được ngân hàng nhà nước cho phép.
Ngoài những hoạt động chính trên NHTM còn có thể có những hoạt
động khác như: được dùng vốn điều lệ và quĩ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần
của doanh nghiệp và của các TCTD khác trong nước theo qui định của pháp
luật; Được tham gia trên thị trường tiền tệ theo qui định của NHNN; Được
trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân,
5
hạch toán độc lập bằng vốn tự có để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị
trường trong nước và thị trường quốc tế theo qui định của NHNN.
Trong những hoạt động chủ yếu của ngân hàng kể trên thì hoạt động tín
dụng chiếm phần chủ yếu và hoạt động tín dụng được tổ chức dưới nhiều hình
thức tín dụng khác nhau và tuỳ vào đặc điểm của mỗi NHTM mà phát triển
loại hình nào cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
* Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người
cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất. Bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến
hạn thanh toán.
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín
dụng đối với khách hàng (QĐ 1627 của NHNN) “Cho vay là một hình thức
cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn: Vì thời hạn dài và hiệu quả đầu
tư thường là dự tính nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi
ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Mức rủi ro tăng và do đó lãi suất tăng lên cùng
thời hạn vay.
- Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay.
+ Tín dụng đầu tư: Là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp
để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng cấp phát cho các cá nhân để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
7
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng.
+ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành
vốn lưu động của các tổ chức kinh tế. Tín dụng vốn lưu động bao gồm: cho
vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các
khoản nợ dưới hình thức chiết khấu.
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình thành tài
sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí
nghiệp và công trình mới.
- Căn cứ mức độ đảm bảo.
Tín dụng đảm bảo: Là hình thức tín dụng có tài sản đảm bảo hoặc người
bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không cần có tài sản thế
chấp, cầm cố hay bảo lãnh mà hoàn toàn dựa trên uy tín của khách hàng.
- Căn cứ vào mức độ rủi ro.
Cách phân loại này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản trị
ngân hàng đánh giá mức độ rủi ro của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn
thất kịp thời. Theo cách phân loại này, tín dụng được phân thành:
+ TD lành mạnh: Là các khoản TD an toàn, có khả năng thu hồi vốn cao.
+ Tín dụng có vấn đề: Là những khoản tín dụng đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn.
sơ đảm bảo TD...
- Hồ sơ do ngân hàng lập: Các báo cáo thẩm định, các báo cáo khác...
9
Thiết lập
hồ sơ tín
dụng
Phân tích
tín dụng
Quyết định
cấp tín
dụng
Giám sát
thu nợ và
thanh lý
HĐTD
Giải
ngân
- Hồ sơ do ngân hàng và khách hàng cùng lập: Hợp đồng tín dụng, Hợp
đồng bảo đảm tiền vay...
Bước 2 - Phân tích tín dụng.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là thu thập và xử lý thông tin liên
quan đến khách hàng như: Năng lực pháp lý, mục đích vay vốn, uy tín của
khách hàng, năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi của dự án xin
vay, tài sản đảm bảo…
Bước 3- Quyết định cấp tín dụng.
Kết quả của quá trình phân tích tín dụng là đưa ra quyết định cấp tín
dụng. Trên cơ sở hồ của khách hàng và tờ trình của cán bộ tín dụng, cấp trên
xem xét kiểm tra lại xem có cấp tín dụng hay không. Nếu yêu cầu được chấp
thuận thì lãnh đạo ngân hàng được phân quyền cùng khách hàng tiến hành ký
kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay.
dụng đó không được hoàn trả đúng kỳ hạn đã cam kết. Điều này làm cho ngân
hàng phải chịu một khoản tổn thất như thiếu vốn khả dụng, mất khả năng
thanh toán... Những tổn thất này được gọi là RRTD. Như vậy RRTD phát sinh
trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và/hoặc lãi của
khoản vay hoặc là việc thanh toán gốc và/hoặc lãi không đúng kỳ hạn.
Tại quyết định 493/2005/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005 của Ngân hàng
Nhà nước Việt nam đã nêu: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của
tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ
chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
11
1.1.2.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng
Muốn quản trị rủi ro tốt nhằm hạn chế RRTD phải xác định nguyên nhân
gây rủi ro, thông thường nguyên nhân RRTD được phân theo các tiêu chí sau:
* Nguyên nhân từ phía ngân hàng.
- Chính sách, quy trình tín dụng.
+ Chính sách tín dụng.
RRTD phát sinh khi một nội dung trong danh mục tín dụng trở lên tương
đối lớn so với mức vốn, tài sản của ngân hàng, là loại rủi ro tập trung. Rủi ro
tập trung tín dụng không những phụ thuộc vào giá trị tín dụng mà còn phụ
thuộc vào tỷ lệ mất vốn cao khi xảy ra rủi ro.
Rủi ro tập trung tín dụng có thể được phân chia thành 2 loại: rủi ro tập
trung tín dụng thông thường - xảy ra khi tín dụng tập trung quá nhiều vào một
khách hàng, một nhóm khách hàng, một ngành hoặc một lĩnh vực (ví dụ như
bất động sản, xây dựng cơ bản...) và rủi ro tập trung tín dụng - do sự liên hệ
qua lại các yếu tố có liên quan nhiều đến các yếu tố đặc thù, chỉ có thể phát
hiện qua phân tích. Ví dụ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ ở châu Á
năm 1997 do sự liên hệ giữa RRTD, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản đã
tạo các khoản lỗ/mất vốn rộng khắp.
+ Quy trình tín dụng.
đắp của ngân hàng trong trường hợp có rủi ro.
+ Không tính đến chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, chu kỳ sống của
sản phẩm hàng hoá, nhất là đối với những ngân hàng có sự tập trung vào lĩnh
vực bất động sản. Điều này xuất phát từ những yếu kém trong quản lý danh
mục đầư TD.
13
+ Không dự kiến phương án trong trường hợp xấu nhất, làm cho ngân
hàng không có sự chuẩn bị kỹ nên không phản ứng nhanh chóng, kịp thời để
vượt qua những cú sốc bất lợi.
* Nguyên nhân từ phía người vay.
Nguyên nhân từ phía người vay là một trong những nguyên nhân chính
gây ra RRTD cho ngân hàng. Nhìn chung, với các nguyên nhân này ngân
hàng có thể xác định được thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững ”tình hình
sức khoẻ của khách hàng” cả trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục
đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh.Với các
đối tượng khách hàng khác nhau thì nguyên nhân gây rủi ro cho ngân hàng có
thể khác nhau do dặc tính, mục đích của từng khoản vay và nguồn sử dụng để
trả nợ. Có thể xảy ra các nguyên nhân sau:
- Khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng, trong quá trình đi vay và sử dụng
vốn vay, chẳng hạn như cung cấp thông tin không đúng sự thật, sử dụng vốn
vay sai mục đích khác với hồ sơ, rủi ro cao, dễ thua lỗ, không trả được nợ cho
ngân hàng. Mặt khác có trường hợp cho dù công việc kinh doanh có lãi nhưng
họ vẫn chây ỳ không trả nợ ngân hàng, mục đích để chiếm dụng vốn ngân
hàng quay vòng trong hoạt động kinh doanh.
- Năng lực điều hành của chủ doanh nghiệp (khách hàng vay) còn hạn
chế, thiếu thông tin từ thị trường và các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng đến
kế hoạch sản xuất kinh doanh. Công nghệ sản xuất không đủ khả năng tạo ra
sản phẩm có tính cạnh tranh cao, khả năng thích ứng thị trường, sản xuất kinh
doanh còn thiếu linh hoạt, sản phẩm làm ra không đáp ứng được nhu cầu thị
trường dẫn đến tụt hậu trong cạnh tranh làm giảm khả năng trả nợ hay phát
năng trả nợ vốn vay là tương đối chắc chắn theo kế hoạch. Ngược lại khi nền
kinh tế có chiều hướng đi xuống, sức mua giảm sút, người đi vay vốn rất khó
15
trong tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn do vậy khả năng trả nợ ngân hàng
giảm sút dẫn tới RRTD cho ngân hàng. Vấn đề lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá...
cũng là nguyên nhân có tác động mạnh đến hoạt động của ngân hàng và các
doanh nghiệp trong nền kinh tế và cũng vì thế là nguyên nhân dẫn đến RRTD
cho ngân hàng.
- Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: Nguyên nhân từ môi trường tự
nhiện như những thảm hoạ thiên nhiên như động đất, núi lửa, lũ lụt, dịch
bệnh... gây ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu
quả kinh doanh của khách hàng vay vốn ngân hàng làm suy giảm khả năng trả
nợ vay ngân hàng, dẫn tới RRTD.
- Thông tin không cân xứng: Trong quá trình hoạt động, ngân hàng thực
hiện nghiệp vụ nợ và có - chuyển vốn từ người gửi tiền sang người đi vay tiền
– toàn bộ giao dịch này sẽ suôn sẻ nếu các bên tham gia có những thông tin
và hiểu biết đầy đủ về nhau. Song một thực tế còn tồn tại là một bên thường
không biết tất cả những gì cần biết về phía bên kia và ”sự không cân bằng về
thông tin mà mỗi bên có được như vây được gọi là ”thông tin không cân
xứng””. Việc thiếu thông tin trong các giao dịch này sẽ đưa đến ”sự lựa chọn
đối nghịch” và ”rủi ro đạo đức”.
1.1.2.3 Đặc điểm của RRTD
Để giảm thiểu RRTD trong hoạt động kinh doanh việc nắm bắt đặc điểm
RRTD giúp các nhà quản trị ngân hàng có biện pháp quản trị rủi ro nhằm hạn
chế RRTD. Có thể thấy rằng RRTD thường có đặc điểm sau:
* Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp.
Tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng
và phức tạp của nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu
quả do rủi ro tín dụng gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này khi thực
hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện
dụng không cao và có nhiều vụ thất thoát lớn do khách hàng không trả nợ.
Mặt khác, do uy tín giảm làm cho khách hàng ít tin tưởng để giao cho ngân
hàng thực hiện các dịch vụ qua ngân hàng, các ngân hàng khác cũng không
muốn mở mối quan hệ hợp tác.
Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Hai hoạt động cơ bản và truyền thống của ngân hàng là nhận tiền gửi và
cho vay, nếu một khi các khoản tín dụng gặp rủi ro không thu được nợ thì
ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản tiền gửi đến hạn
của người gửi tiền. Không những thế, do mất uy tín, kinh doanh không hiệu
quả, hoạt động tín dụng tiềm ẩn những rủi ro làm cho người gửi tiền rút tiền
trước thời hạn ngày càng tăng lên, kết quả là khả năng thanh toán của ngân
hàng sẽ gặp nhiều khó khăn.
Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu hồi được nợ vay như dự kiến
ban đầu, làm chậm tốc độ quay vòng vốn, gây ra những thiệt hại về mặt tài
chính, thêm vào đó là quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh gặp khó khăn,
bế tắc, thu nhập giảm kết quả là làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
RRTD làm tăng nguy cơ phá sản ngân hàng và dẫn tới các rủi ro khác.
Nếu những doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng đổ vỡ, nhất là những
doanh nghiệp vay số lượng vốn lớn của một ngân hàng và không có khả năng
khắc phục được thì nguy cơ sẽ dẫn đến sự đổ vỡ của chính bản thân ngân
hàng. Uy tín của ngân hàng giảm có thể gây ra phản ứng dây chuyền trong
dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiền gửi và đến khi nguồn
vốn của chính ngân hàng cũng không đủ trả nợ, ngân hàng sẽ rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán thậm chí dễ đi đến phá sản. Do đó RRTD có
thể dẫn tới các rủi ro khác như: rủi ro thanh khoản, rủi ro danh tiếng …
18
* Đối với nền kinh tế
Như đã nói ở trên, vai trò của tín dụng ngân hàng rất quan trọng trong
việc điều hoà các nguồn vốn trong nền kinh tế, khi RRTD xảy ra, các nguồn