Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội - Pdf 31

1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hội nhập như hiện nay, một giai đoạn nóng của thị
trường tài chính Việt Nam, nhất là đối với các ngân hàng thương mại. Vì vậy,
các hoạt động tại các ngân hàng thương mại khá sôi động và đạt rất nhiều kết
quả tốt. Với phương châm “Chớp thời cơ và loại bỏ khó khăn”, các ngân hàng
thương mại Việt Nam đã đa dạng hoá dịch vụ và nâng cao chất lượng phục vụ
khách hàng, nhất là đối với các ngân hàng quốc doanh. Trong hệ thống ngân
hàng quốc doanh, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long là một
ngân hàng mới thành lập năm 1997. Tuy là một ngân hàng non trẻ, Ngân hàng
phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long đã và đang thực hiện dự án hiện đại
hóa ngân hàng theo hướng tự động hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế, có
nhiều dịch vụ hiện đại phục vụ khách hàng.
Tuy vậy, do là một chi nhánh mới thành lập, hoạt động tín dụng của
MHB Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế và cần được mở rộng. Vì vậy, sau thời
gian thực tập tại đây, em xin đưa ra đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh
Hà Nội”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp gồm:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng của ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng phát triển
nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng
phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long- chi nhánh Hà Nội
1
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
1
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

2
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
ngân hàng và chỉ có lãi thu được từ cho vay mới bù đắp được chi phí tiền gửi,
chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và chi phí khác. Kinh tế càng phát triển,
lượng cho vay của các ngân hàng càng tăng. Thường có sự đồng nhất giữa tín
dụng và cho vay trong các ngân hàng.
Ngân hàng ở Việt Nam ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Rất nhiều các nghiệp vụ
của một ngân hàng hiện đại chưa được phát triển ở Việt Nam. Tín dụng ngân
hàng ở Việt Nam (chủ yếu là cho vay) đã đóng vai trò to lớn vào sự phát triển
của kinh tế Việt Nam.
Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay là một hình thức của
cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay của ngân hàng thương mại nói riêng và tín dụng ngân hàng
thương mại nói chung là một lĩnh vực phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi những
chuyển biến của môi trường kinh tế. Mỗi loại cho vay lại có những đặc thù
riêng, thủ tục pháp lý khác nhau và mức độ đảm bảo an toàn khác nhau.
1.1.2 Sự cần thiết của hoạt động tín dụng NHTM đối với nền kinh tế
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính, hoạt động trên lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ, có chức năng huy động vốn, cho vay và làm các dịch vụ ngân
hàng theo quy định của pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hoá, các quan hệ trao đổi mua bán ngày càng đa dạng phong phú
đã tạo đà cho hoạt động ngân hàng phát triển theo. Trong các mặt hoạt động
của ngân hàng, tớn dụng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, đó là tiền đề, là cơ
sở để phát triển công tác huy động vốn, là cầu nối giữa người gửi tiền và
người vay tiền. Với chức năng là trung tâm tín dụng của nền kinh tế, tín dụng

xuất kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp buộc phải có phương tiện tài chính
dồi dào. Và chỉ mở rộng quan hệ tín dụng với các ngân hàng thì các doanh
nghiệp mới mong đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh
doanh và tạo thêm việc làm cho người lao động.
4
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
4
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
-Thứ ba: tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệp nâng cao chất
lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và tổ chức quản lý có hiệu quả
hơn.
Thật vậy, để tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm,
tạo nhiều lợi nhuận hơn nữa, doanh nghiệp phải có sự đầu tư chiều sâu. Đối
với các doanh nghiệp hiện nay, vấn đề này có ý nghĩa rất to lớn do hầu hết các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với quy trình kỹ thuật lạc hâu, đội ngũ
nhân viên có trình độ và chất lượng làm việc không cao. Các doanh nghiệp
hiện nay rất cần vốn lớn để đầu tư chiều sâu, trang bị máy móc thiết bị, dây
chuyền sản xuất hiện đại cũng như đào tạo nhân lực để thực sự có một sức bật
mới trong giai đoạn mới.
Trong giai đoạn tới, các doanh nghiệp nước ta phải thực sự nhập cuộc
vào AFTA và WTO); quá trình tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và thế
giới này đòi hỏi các doanh nghiệp phải giải quyết nhiều vấn đề nhằm hoàn
thành vai trò chủ đạo của mình với nền kinh tế. Vấn đề sức cạnh tranh hàng
hoá, đảm bảo hàng hoá tốt, rẻ và có được dịch vụ thuận tiện có ý nghĩa quyết
định trong việc giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ và phát triển. Cho nên,
phải chú trọng chất lượng, năng xuất, hiệu quả để phấn đấu nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hoá. Muốn thế, các doanh nghiệp cần vốn để tiếp cận với các
thành tựu khoa học tiên tiến trong sản xuất kinh doanh cũng như trong công
tác quản lý và tổ chức hay tham gia vào những lĩnh vực kinh tế mới như

khả năng tái tạo vốn của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.2 Các hoạt động tín dụng của NHTM
1.2.1 Cho vay
1.2.1.1 Khái niệm
Cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể trong nền
kinh tế với nhau. Trong đó, chủ thể này cho chủ thể khác quyền sử dụng một
lượng giá trị hay hiện vật với điều kiện mà hai bên thoả thuận.
1.2.1.2 Phân loại
* Phân loại theo tài sản đảm bảo:
6
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
6
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: thể hiện cho vay có cầm cố giữ các vật thế
chấp, cầm cố nào đó. Vật bảo đảm có thể bao gồm nhiều loại khác nhau như:
bất động sản, biện nhận ký gửi hàng hoá, máy móc, chứng khoán,… với yêu
cầu là có thể bán được.
- Cho vay không đảm bảo bằng tài sản: được cấp cho khách hàng có uy tín,
thường là khách hàng kinh doanh thường xuyên có lãi, tình hình tài chính
vững mạnh. Khách hàng cũng có thể vay của ngân hàng có sự bảo lãnh của
bên thứ ba, các khoản vay của Chính phủ, công ty tài chính lớn,…
* Phân loại theo phương thức cho vay:
- Cho vay thấu chi: Thấu chi hình thức cho vay ngắn hạn, là nghiệp vụ cho
vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi
thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định trong khoảng thời gian nhất
định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng cho các
khách hàng có nhu cầu vay không thường xuyên, chỉ khi có nhu cầu thời vụ,
hay mở rộng sản xuất tức là vốn vay của ngân hàng chỉ tham gia một số giai

Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên
bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả
thay.
1.2.2.2 Phân loại
* Phân loại theo phương thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng cam kết sẽ trực tiếp
thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh vi phạm hợp
đồng. Sau khi ngân hàng đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngân
hàng có thể trự tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
- Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh sẽ yêu cầu
ngân hàng thứ nhất (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai (gọi
là ngân hàng phát hành) đưa ra cam kết bảo lãnh chuyển cho người thụ
8
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
8
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
hưởng. Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ
hưởng là người nước ngoài, ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia người
thụ hưởng, do vậy quyền lợi người thụ hưởng được đảm bảo chắc chắn hơn.
- Đồng bảo lãnh: Đối với cá thương vụ mà số tiền bảo lãnh xó giá trị rất lớn
vượt quá tỷ lệ cho phép đối với một ngân hàng hoặc vượt quá khả năng tài
chính hiện thời của ngân hàng hay để giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng có thể
thực hiện đồng bảo lãnh. Trường hợp này, một ngân hàng đóng vai trò đầu
mối phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng đồng minh
khác. Nếu phải chi trả cho người thụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàng
bảo lãnh có thể truy đòi bồi hoàn tự các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ họ

nhận bảo lãnh về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp
khách hàng không trả hoặc trả không đúng hạn, đầy đủ.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm: là loại bảo lãnh do ngân hàng phát
hành cho bên thụ hưởng bảo lãnh, đảm bảo khách hàng sẽ thực hiện đúng các
thoả thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký với bên thụ hưởng.
* Phân loại theo điều kiện thanh toán của bảo lãnh:
- Bảo lãnh vô điều kiện: còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu, là loại bảo lãnh mà
điều kiện thanh toán của nó là người thụ hưởng bảo lãnh chỉ cần xuất trình
yêu cầu thanh toán của ngân hàng phát hành. Các văn bản đều do người thụ
hưởng đơn phương lập không cần sự chấp nhận của bên được bảo lãnh hoặc
bên thứ ba nào đó.
- Bảo lãnh có điểu kiện: là loại bảo lãnh mà điều kiện phải có chứng từ xác
nhận của bên thứ ba (thường là một bên độc lập có đủ tư cách chuyên môn để
xác nhận) hoặc phán quyết của toà án chứng minh rằng bên được bảo lãnh đã
vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng.
* Phân loại theo hình thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh bằng thư bảo lãnh: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng nhận phát
hành bảo lãnh thông qua một hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng với khách
hàng khi khách hàng làm đơn đề nghị bảo lãnh.
- Bảo lãnh ký hậu: là hình thức bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với
người tụ hưởng bảo lãnh thông qua việc ký hậu lên giấy tờ có giá như hối
10
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
10
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phiếu, lệnh phiếu, sẽ thanh toán toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên giấy tờ
có giá nếu người được bảo lãnh (người ký phát, người phát hành hoặc người
chuyển nhượng) không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền ghi
trên tò giấy.

trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng không phải một chủ thể mà có thể là
nhiều chủ thể khác nhau.
Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn vời thời hạn tối đa là 90
ngày, điều này tạo điều kiện nhanh chóng cho việc giải phóng vốn cho ngân
hàng, nâng cao tính thanh khoản trong tài sản Có của ngân hàng. Mặt khác,
khi thực hiện chiết khấu, số tiền cấp cho khách hàng được chuyển sang tài
khoản tiền gửi. Số tiền này có thẻ chưa sử dụng toàn bộ, do đó tạo nguồn vốn
cho ngân hàng.
1.2.4 Cho thuê tài chính
Tín dụng thuê mua là một kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm theo
lời hứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng, cho ngời thuê
theo giá thoả thuận từ đầu.
Về nguyên tắc, tín dụng thuê mua gồm 3 bên liên quan:
- Doanh nghiệp (người thuê): chọn lựa tài sản cần thuê ở một nhà cung
cấp
- Nhà cung cấp: nhận được đơn xin đặt hàng và tiền hàng từ công ty tín
dụng thuê mua.
- Người cho thuê (ngân hàng, công ty tín dụng thuê mua): cho xí
nghiệp thuê tài sản mà họ sở hữu.
Do quy chế đặc biệt đối với tín dụng thuê mua, NHTM không thể hoạt
động trực tiếp trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, các NHTM vẫn giữa một vai trò
tích cực khi lập ra và tạo điều kiện cho một lượng lớn các tổ chức tín dụng
thuê mua phát triển, đương nhiên ngân hàng cũng là người chỉ đạo các tổ
chức tín dụng thuê mua và có thể bảo lãnh cho một số nghiệp vụ. Các công ty
cho thuê chuyên doanh thường là các chi nhánh của các ngân hàng lớn.
Thực chất tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được đảm bảo bằng
một quyền sở hữu về tài sản đã tài trợ vốn. Nghiệp vụ ngày là một sáng tạo
12
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
12

13
SV: Nguyễn Thị Oanh Lớp: Ngân hàng 1B
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status