LờI NóI ĐầU
Từ nửa sau thế kỷ thứ XVIII, công nghiệp hoá với t cách là một phơng thức
phát triển bắt đầu xuất hiện trên thế giới và ngày càng đợc phổ biến. Nhìn lại 200
năm về trớc, tính từ giữa thập kỷ 90, ta có thể thấy, công nghiệp hoá đợc coi nh
một nấc thang tất yếu mà bất cứ một nớc chậm phát triển nào cũng phải đi qua để
trở nên giàu có và hùng mạnh. Việt Nam một đất nớc nông nghiệp , kém phát
triển cũng không nằm ngoài quy luật đó. Mỗi ngời con đất Việt khi xa quê hơng
vẫn luôn mang trong mình một kỷ niệm thời ấu thơ trong trẻo, bình yên với những
vùng nông thôn trù phú , bao quanh là những cánh đồng lúa xanh mớt, rộng lớn và
thanh bình. Tuy nhiên, ngày nay Việt Nam đã vơn vai trở thành một đất nớc giàu
mạnh hơn. Nông thôn Việt Nam đã đổi mới, đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn theo hớng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn,
phù hợp với nhu cầu thị trờng và điều kiện sinh thái của từng vùng, chyển dịch cơ
cấu ngành nghề, cơ cấu lao động , tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông
thôn . Đa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức
tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và thu nhập trên một đơn vị diện tích,
tăng năng suất lao động , nâng cao chất lợng và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Nh vậy, nông thôn Việt Nam đang hoà mình vào sự nghiệp đổi mới và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nớc. Song,muốn công nghiệp hoá , hiện đại hoá
nông thôn thì một trong những yếu tố mang tính quyết định là nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có phát triển mạnh mẽ về số lợng cũng nh chất lợng thì mới có thể
công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông thôn đợc . Công nghiệp hoá- hiện đại hoá tuy
là phơng thức chung đối với các nớc nhng trên thực tế , thời điểm xuất phát và nhịp
độ tiến hành công nghiệp hoá ở từng nớc lại không giống nhau. Tuy vậy, vợt qua
đợc nấc thang ấy , hầu nh quốc gia nào cũng coi quá trình làm giàu kho tàng trí tuệ
của mình nh là một yếu tố có tính tiên quyết để từ một nớc có nền kinh tế yếu kém
để trở thành một nớc hùng mạnh.
1
những ngời từ giới hạn dới độ tuổi lao động trở lên( ở nớc ta là tròn 15 tuổi).
Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô Nguồn nhân lực,
song đều nhất trí với nhau đó là Nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của xã
hội .
2. Phân loại Nguồn nhân lực
a. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành chia Nguồn nhân lực làm ba loại.
+ Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số: bao gồm những ngời nằm trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động , không kể đến trạng thái có làm việc hay
không làm việc . Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, khái niệm này còn gọi là dân
số hoạt động, có nghĩa là tất cả những ngời có khả năng làm việc trong dân số tính
theo tuổi lao động quy định (Luật Lao động của Việt Nam quy định tuổi lao động
từ 15-55 tuổi đối với nữ, 15-60 tuổi đối với nam). Nguồn nhân lực này chiếm một
tỷ lệ tơng đối lớn trong dân số, thờng từ 50% hoặc hơn nữa , tùy theo đặc điểm về
dân số và nhân lực của từng nớc.
+ Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số hoạt
động kinh tế) là những ngời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có công
ăn việc làm , đang hoạt động trong các ngành kinh tế văn hoá xã hội .
Nh vậy, giữa Nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và Nguồn nhân lực tham
gia hoạt động kinh tế có sự khác nhau.Sự khác nhau này là do một bộ phận những
ngời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhng vì nhiều nguyên nhân khác
nhau cha tham gia vào hoạt động kinh tế (thất nghiệp, có việc làm nhng không
muốn làm việc, còn đang học tập, có thu nhập khác không cần đi làm ).
3
+ Nguồn nhân lực dự trữ là những ngời nằm trong độ tuổi lao động nhng vì
lý do nào đó cha tham gia hoạt động kinh tế. Số ngời này đóng vai trò của một
nguồn dự trữ về nhân lực. Họ gồm có : Những ngời làm công việc nội trợ gia đình,
những ngời đang học các trờng phổ thông và các trờng trung học chuyên nghiệp,
những ngời đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, những ngời trong độ tuổi lao động
ngời thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm (tức là bao gồm những ngời
đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngời thất nghiệp).
Nh vậy, với bất kỳ quốc gia nào thì Nguồn nhân lực cũng luôn là một bộ
phận quan trọng của dân số. Nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
kinh tế xã hội.
Giữa kinh tế và Nguồn nhân lực luôn có mối quan hệ chặt chẽ, chịu sự tác
động lẫn nhau. Thờng ngời ta quan sát thấy: những nớc kinh tế chậm phát triển có
tốc độ tăng Nguồn nhân lực cao hơn cả. Các nhà kinh tế học cho rằng, tốc độ tăng
Nguồn nhân lực hàng năm quá cao tại các nớc chậm phát triển là thách thức lớn
cho họ trong quá trình phát triển, đặc biệt ở giai đoạn đầu.
Số lợng và chất lợng Nguồn nhân lực phản ánh sự phát triển của nền kinh tế
xã hội. Khi một quốc gia có Nguồn nhân lực có chất lợng cao thì quốc gia đó có
một nền kinh tế xã hội phát triển. Ngợc lại, khi chất lợng đội ngũ nhân lực ở mức
thấp thì nền kinh tế xã hội không thể phát triển cao. Qui mô Nguồn nhân lực phản
5
ánh qui mô cơ cấu dân số. Nguồn nhân lực đông dồi dào là biểu hiện của một dân
số với qui mô lớn và cơ cấu trẻ là tiềm năng to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Mặt khác, chính sự phát triển kinh tế xã hội lại tạo tiền đề cho sự hình thành
và phát triển một Nguồn nhân lực có trình độ cao. Thực tế trên thế giới, các nớc
chậm phát triển và đang phát triển thờng có một Nguồn nhân lực với qui mô lớn
nhng chất lợng không cao. Còn các nớc đã phát triển thì có một Nguồn nhân lực
không mấy dồi dào nhng có một trình độ cao.
Những năm 50 và 60, tăng trởng kinh tế chủ yếu là do công nghiệp hoá;
thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là không chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế. Các nghiên cứu trắc lợng gần đây cho thấy chỉ một phần nhỏ của sự
tăng trởng kinh tế có thể đợc giải thích bởi khía cạnh đầu vào và nguồn vốn. Phần
rất quan trọng của sản phẩm thặng d gắn liền với chất lợng của lực lợng lao động
(giáo dục, sức khoẻ và mức sống).
phơng tiện hiện đại, phức tạp nên lao động trí óc đã dần dần thay thế lao động chân
tay. Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật-công nghệ đã làm xuất hiện những ngành
nghề mới có hàm lợng khoa học cao; trong nội dung lao động của mỗi nghề đòi
hỏi ngời lao động phải có tri thức, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp. Và đến một bớc
phát triển cao hơn thì ngời công nhân cần phải đợc trang bị kiến thức và chức năng
mà trớc đây chỉ có chuyên gia mới cần.
Tiến bộ khoa học-công nghệ làm ảnh hởng sâu sắc đến các ngành sản xuất
nông, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp truyền thống đặc biệt là tiến bộ công
nghệ sinh học. Ngời nông dân, ngời thợ thủ công, các nhà chuyên môn và cán bộ
quản lý cũng phải luôn đổi mới, bổ sung kiến thức mới tiến kịp sự thay đổi nhanh
chóng của kỹ thuật canh tác, cây trồng, vật nuôi
Cùng với tiến bộ của công nghệ, tỷ lệ giữa các thành phần cần cho sản xuất
cũng thờng xuyên thay đổi: các nhà phát minh và đổi mới công nghệ, các nhà quản
lý, các nhà kỹ thuật và công nghệ, công nhân lành nghề, công nhân bán lành nghề,
7
lao động giản đơn. Bởi vậy cơ cấu, chất lợng Nguồn nhân lực cũng cần có sự thay
đổi cho phù hợp với sự thay đổi của công nghệ.
Nguồn nhân lực có chất lợng cao sẽ là nguồn để xuất khẩu lao động sang
các khu vực, các quốc gia phát triển hơn. Lao động xuất khẩu đem lại một khối l-
ợng lớn ngoại tệ; đồng thời, thực hiện sự phân công lao động giữa các khu vực, các
quốc gia.
Tóm lại, Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế
xã hội. Nó là một nhân tố đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là chủ
thể vận hành sản xuất và các hoạt động xã hội. Một sự phát triển bền vững của mỗi
quốc gia trong tơng lai đợc quyết định bởi sự phát triển của chính Nguồn nhân lực
cuả quốc gia đó.
3. Vai trò của phát triển Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình
công nghiệp hoá- hiện đại hoá của nớc ta.
hoá, mở rộng diện tích tại chỗ Sử dụng, phát triển Nguồn nhân lực nông thôn sẽ
đảm bảo cho mọi ngời có việc làm, thu nhập, đời sống ổn định, cũng từ đó mà các
phong trào khác có cơ sở để phát triển.
c) Phát triển Nguồn nhân lực nông thôn sẽ thúc đẩy đợc phát triển nông
nghiệp và thực hiện đợc vấn đề cơ bản của nông thôn, nông nghiệp là chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá- hiện đại hoá tạo ra những điều kiện và tiền đề cần thiết để
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và ngợc lại quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vừa là nội dung, vừa là mục tiêu của công
nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nhằm công nghiệp hoá- hiện đại hoá
nông thôn là quá trình nhằm thay đổi hẳn cơ cấu kinh tế nông thôn từ độc canh cây
9
lúa đơn ngành sang đa ngành. Đó là quá trình biến đổi từ kiểu kinh tế nông nghiệp
thủ công nghiệp sang kiểu kinh tế công nghiệp và dịch vụ, làm cho tỷ trọng GDP
trong nông nghiệp ngày càng giảm và tăng nhanh tỷ trọng GDP trong công nghiệp
và dịch vụ trong tổng số GDP của đất nớc.
Việc phân công lại lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó con ngời giữ vai trò quyết định. Phát triển Nguồn
nhân lực nông thôn là cơ sở điều kiện để phân bố lại cơ cấu Nguồn nhân lực, phân
công lại lao động xã hội ở nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn.
d) Phát triển Nguồn nhân lực nông thôn sẽ thúc đẩy quá trình phân công
và hợp tác lao động ngày càng tốt hơn với quy mô lớn hơn.
Sự phân công và hợp tác lao động sẽ mang lại năng suất lao động cao hơn và
là một đặc trng u việt của sản xuất lớn so với sản xuất nhỏ. Thực tế sản xuất nông
nghiệp cho thấy, tổ chức tốt việc phân công và hợp tác lao động sẽ tạo ra một năng
lực sản xuất mới và tạo ra năng suất lao động cao. Nó không những thúc đẩy nhanh
quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá lao động ở trình độ cao mà còn tạo điều
thần cho xã hội.
1. Số lợng Nguồn nhân lực
Quy mô Nguồn nhân lực phản ánh quy mô cơ cấu dân số, phát triển Nguồn
nhân lực cũng có nghĩa là làm tăng số lợng Nguồn nhân lực lên một cách phù hợp.
Nguồn nhân lực đông, dồi dào biểu hiện của một dân số với quy mô lớn và cơ cấu
trẻ. Là tiềm năng to lớn cho sự phát triển kinh tế- xã hội .Về mặt số lợng cần xem
xét các quan hệ của nguồn nhân lực với hệ thống các nhân tố sau:tình hình dân số,
tốc độ tăng tự nhiên của dân số, của lao động số lợng cơ cấu dân số, lao động theo
lứa tuổi, theo giới, theo ngành nghề, theo thành phần kinh tế, theo khu vực (thành
thị- nông thôn) có việc làm và không có việc làm, cuối cùng là nhân tố di dân, đây
11
là nhân tố có ảnh hởng phức tạp hơn cả do tính chất tự phát, năng động, linh hoạt,
không kiểm soát đợc của nó. Khi các ngành công nghiệp dịch vụ, các thành phố ở
nớc ta cha phát triển, một tỷ lệ lớn về dân số lao động còn nằm ở nông thôn thì sự
di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị trong cơ chế kinh tế thị trờng sẽ là tất
yếu trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Giữa kinh tế và Nguồn nhân lực luôn có mối quan hệ chặt chẽ, chịu sự tác
động lẫn nhau. Tuy nhiên, ngời ta quan sát thấy: những nớc kinh tế chậm phát triển
có tốc độ tăng Nguồn nhân lực cao hơn cả. Các nhà kinh tế học cho rằng, tốc độ
tăng Nguồn nhân lực hàng năm quá cao tại các nớc chậm phát triển là thách thức
lớn cho họ trong quá trình phát triển, đặc biệt ở giai đoạn đầu.
2. chất lợng Nguồn nhân lực.
Phân tích về sự phát triển chất lợng Nguồn nhân lực trớc hết phải xem xét trình
độ dân trí, trình độ học vấn của dân số nói chung và của lực lợng lao động, cơ cấu
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ đào tạo của dân c, lao động theo nhóm
tuổi, khu vực, vùng. Khi xem xét nguồn nhân lực nói chung và cho vùng kinh tế
động lực, cần xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của quá trình hội nhập khu vực và thế giới. Đó là thói quen và phong
các chỉ tiêu trên, mặt khác phụ thuộc rất lớn vào chính sách của Nhà nớc. Trong
giai đoạn hiện nay để phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất n-
ớc, cần thiết phải tạo ra những động lực mạnh mẽ nhằm phát huy sức mạnh nội
sinh của dân tộc. Khai thác mọi tiềm năng của đất nớc; Điều đó càng cho thấy ý
nghĩa cấp bách của việc nâng cao trình độ dân trí đối với việc phát triển trí lực của
NNL. Trong giao đoạn tới, NNL phải đáp ứng đợc đòi hỏi ngày càng cao về tay
nghề, trình độ chuyên môn, ssự phát triển của từng ngành, sự đổi mới, thay đổi cơ
cấu của các ngành, nghề.
13
Nâng cao chất lợng nguồn lao động có thể đạt đợc nhờ hệ thống giáo dục
và đào tạo đáp ứng yêu cầi về số lợng, chất lợng và cơ cấu trình độ hợp lý. Những
nớc đang phát triển thờng có số lao động lớn, nhng có thể chất lợng lao động thấ, ở
những nớc này thờng thiếu những lao động lỹ thuật, có kỹ năng đặc biệt đây là
một trong những nguyên nhân làm đình trệ sản xuất và hạn chế khả năng mở rộng
của nền kinh tế.
+ Nguồn nhân lực và chỉ số về tuổi thọ bình quân:
Chỉ tiêu tuổi thọ bình quân chịu ảnh hởng của các chỉ số liên quan đến vấn
đề sức khoẻ, Y tế, dịch vụ, vệ sinh nh: số ngời đợc phục vụ / một thầy thuốc, tình
hình cung cấp nớc sạch; khả năng sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, chữa
bệnh của dân c... ngày nay, các yếu tố y tế, dịch vụ, vệ sinh can thiệp trực tiếp vào
toàn bộ quá trình tái sản xuất dân số. Mối quan hệ giữa dân số, nguồn nhân lực và
các điều kiện y tế, vệ sinh có tính chất tơng hỗ: y tế tác động đến toàn bộ quá trình
tái sản xuất dân số; mặt khác sự bùng nổ dân số cũng đang tạo nên sức ép mạnh
mẽ với ngành y tế.
Tóm lại, Số lợng và chất lợng Nguồn nhân lực phản ánh sự phát triển của
nền kinh tế xã hội. Khi một quốc gia có Nguồn nhân lực có chất lợng cao thì quốc
gia đó có một nền kinh tế xã hội phát triển. Ngợc lại, khi chất lợng đội ngũ nhân
lực ở mức thấp thì nền kinh tế xã hội không thể phát triển cao.
Con ngời hay nói chính xác hơn là Nguồn nhân lực đã tạo ra sự phát triển
nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Con ngời trong quá trình lao
động sản xuất và nghiên cứu đã tìm ra phát minh khoa học. Đồng thời, cũng chính
họ đã áp dụng những thành tựu khoa học đó vào trong sản xuất và làm xuất hiện
một hệ thống sản xuất linh hoạt đủ khả năng làm thay đổi nhanh chóng qui trình
sản xuất, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Nh vậy, con ngời- với trí
tuệ của mình trở thành động lực cho toàn bộ tơng lai của nhân loại, thúc đẩy sự
15
tiến vừa rộng vừa sâu của xã hội trên nền tảng khoa học công nghệ để tạo ra bớc
tăng trởng kinh tế mới.
Cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ làm thay đổi tính chất và nội
dung lao động nghề nghiệp của ngời lao động; đấy là việc sử dụng những công cụ,
phơng tiện hiện đại, phức tạp nên lao động trí óc đã dần dần thay thế lao động chân
tay. Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật-công nghệ đã làm xuất hiện những ngành
nghề mới có hàm lợng khoa học cao; trong nội dung lao động của mỗi nghề đòi
hỏi ngời lao động phải có tri thức, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp. Và đến một bớc
phát triển cao hơn thì ngời công nhân cần phải đợc trang bị kiến thức và chức năng
mà trớc đây chỉ có chuyên gia mới cần.
Tiến bộ khoa học-công nghệ làm ảnh hởng sâu sắc đến các ngành sản xuất
nông, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp truyền thống đặc biệt là tiến bộ công
nghệ sinh học. Ngời nông dân, ngời thợ thủ công, các nhà chuyên môn và cán bộ
quản lý cũng phải luôn đổi mới, bổ sung kiến thức mới tiến kịp sự thay đổi nhanh
chóng của kỹ thuật canh tác, cây trồng, vật nuôi
Cùng với tiến bộ của công nghệ, tỷ lệ giữa các thành phần cần cho sản xuất
cũng thờng xuyên thay đổi: các nhà phát minh và đổi mới công nghệ, các nhà quản
lý, các nhà kỹ thuật và công nghệ, công nhân lành nghề, công nhân bán lành nghề,
lao động giản đơn. Bởi vậy cơ cấu, chất lợng Nguồn nhân lực cũng cần có sự thay
đổi cho phù hợp với sự thay đổi của công nghệ.
cho quy hoạch Nguồn nhân lực, từ đó phát triển Nguồn nhân lực một cách toàn
diện.
3. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phơng, vùng
17
Quá trình phát triển Nguồn nhân lực phải căn cứ vào quy hoạch phát triển
kinh tế xã hội của địa phơng, vùng vì Nguồn nhân lực là một yếu tố sản xuất của
nền kinh tế. Hơn nữa đây cũng là cơ sở để quá trình phát triển Nguồn nhân lực bảo
đảm tính khoa học, tính hệ thống của nó.
4) Quan hệ cung cầu về lao động
Hình thành một thị trờng lao động là quá trình tất yếu đi liền với nền kinh tế
thị trờng. Muốn phát triển Nguồn nhân lực cần thấy đợc xu hớng phát triển của quá
trình này, nghiên cứu nắm bắt những biến động của quan hệ cung cầu về lao động
phục vụ kịp thời nhu cầu phát triển của vùng.
Đặc điểm chung của nớc ta nguồn lao động trong độ tuổi khá dồi dào, song
lao động có thể sử dụng lại rất nghèo nàn, đặc biệt là các thành phố các khu công
nghiệp tập trung, các vùng kinh tế động lực lại đang rất thiếu lao động, bởi ở đó
đòi hỏi lao động có chuyên môn kỹ thuật, lao động đã đợc đào tạo. Đây là một yếu
tố quá trình khi tính toán quan hệ cung cầu về lao động.
18
Phần II:
Đánh giá thực trạng phát triển
nguồn nhân lực ở nông thôn phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nớc ta
I/ Những đặc điểm của nông thôn Việt Nam ảnh hởng đến quá
trình phát triển Nguồn nhân lực
Nông thôn Việt Nam gồm nhiều vùng rộng lớn và trãi rộng khắp ba miền
đa số là nhà cấp 4 đã xuống cấp, bàn ghế h hỏng nhiều nhng không đợc bổ sung
sửa chữa hàng năm, sách vở, đồ dùng học tập, các dụng cụ thí nghiệm cho học
sinh tham khảo thêm gần nh không có. Hiện nay do đời sống của phần đông cán
bộ giáo viên còn khó khăn, chế độ đãi ngộ với tri thức còn kém hấp dẫn, đa số giáo
viên phải lo chạy theo yêu cầu đảm bảo cuộc sống của bản thân họ nên cha chú
tâm nhieèu vào công tác giảng dạy. Tâm lý họ chỉ muốn ở lại giảng dạy trong các
thành phố hoặc đồng bằng, nơi điều kiện sinh hoạt và làm việc tốt hơn nên xảy ra
hiện tợng thà giáo viên ở thành thị và đồng bằng, song ở vùng sâu, vùng xa lại
thiếu giáo viên trầm trọng . Một nguyên nhân nữa là do t tởng của ngời nông dân .
Họ thờng quan niệm rằng, học chẳng để làm gì vì trớc sau họ cũng quay lại với
nghề nông thuần tuý. Vì thế họ chỉ cần học đủ biết đọc, biếy viết, và làm tính đơn
giản là đủ, còn học lên cấp II, cấp III, là điều không cần thiết và hoang phí tiền
bạc. Mặt khác, cơ sở hạ tầng ở nông thôn còn rất yếu kém, hiện nay ở nông thôn ,
đặc biệt một số vùng nh Đồng bằng sông Cửu Long, vùng núi, việc đi lại gặp nhiều
khó khăn đã ảnh hởng đến việc học hành, khả năng giao lu kinh tế, văn hoá giữa
các vùng, đến khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.
Nh vậy, nông thôn Việt Nam đang tồn tại rất nhiều yếu kém, làm cản trở và giật lùi
quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nớc ta. Muón phát triển nông thôn, công
nghiệp hoá- hiện đại hoá nông thôn việc trớc tiên cần phải làm là giải phóng và
phát triển Nguồn nhân lực, đây chính là mấu chốt của vấn đề . Phát triển Nguồn
nhân lực nông thôn tức là sử dụng có hiệu quả nguồn lao động dồi dào ở nông thôn
20
, làm đòn bẩy để phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, thúc đẩy quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá ở nông thôn.
II/ Phân tích Thực trạng Nguồn nhân lực nông thôn nớc ta
khi bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá .
Nông thôn nớc ta chiếm 80% dân số, 72% nguồn lao động xã hội . Tuy
nhiên, tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế-xã hội- văn hoá ( bình quân GDP đầu ngời,
trong mời hai tháng trớc thời điểm điều tra, trong đó nữ 19.505 nghìn ngời, chiếm
49,9%. Khu vực thành thị có 9.182 nghìn ngời chiếm 23,3%, khu vực nông thôn có
30.307 nghìn ngời chiếm 76,7%. Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của dân số từ đủ
15 tuổi trở lên thay đổi theo độ tuổi : Các nhóm tuổi có tỷ lệ tham gia hoạt động
kinh tế cao nhất là 35-39; tiếp đến là nhóm 25-29; 30-34; 40-44 và 45-49. Các
nhóm 20-24 trở xuống và 50-54 trở lên, tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế giảm dần.
Sự thay đổi mạnh mẽ cơ cấu tuổi Nguồn nhân lực khu vực nông thôn theo
chiều hớng tiến bộ này chứng tỏ trong những năm gần đây chúng ta đã thực hiện
tốt chơng trình dân số- kế hoạch hoá gia đình. Với một cơ cấu Nguồn nhân lực trẻ
thì đây là một lợi thế về tiềm năng lao động cho phát triển kinh tế xã hội nông
thôn, đồng thời cũng đặt ra vấn đề cho sự nghiệp đào tạo Nguồn nhân lực. Cơ cấu
giới tính không có sự thay đổi nhiều. Tỷ lệ nữ vẫn cao hơn nam trong tổng số ngời
hoạt động kinh tế, tỷ lệ nữ ở khu vực nông thôn cũng cao hơn so với nữ khu vực
thành thị ( nữ nông thôn là 50,36%, nữ thành thị là 48,8%). Có xu hớng tăng tỷ
trọng lao động nữ ở khu vực nông thôn và giảm dần tỷ trọng nữ tham gia hoạt động
kinh tế ở thành thị. Điều này phản ánh sự phát triển chênh lệch giữa thành thị và
nông thôn. Cả nớc hiện có 22.812,9 nghìn ngời làm việc trong nhóm ngành nông
lâm, ng nghiệp chiếm 60,54% tổng số lao động đang làm việc trong các ngành
kinh tế quốc dân; 5.428 nghìn ngời làm việc trong nhóm nghành công nghiệp và
xây dựng chiếm 14,41%; 9.436,5 nghìn ngời làm việc trong nhóm ngành dịch vụ,
chiếm 25,05%.
22
Biểu 1: Tình hình dân số và lao động nông thôn qua các năm (đơn vị:
triệu ngời)
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Dân số cả n-
ớc
74 75,36 76,71 77,05 76,33 77,5 78,7
hội nông thôn
68 69,9 72,2 75,6 81,2
Nguồn: Theo số liệu thống kê lao động xã hội của Viện Kinh Tế Học Hà
Nội(1995)
Lao động xã hội chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn , tỉ lệ lao động xã
hội ở nông thôn có xu hớng tăng lên từ 68% ( năm 1976), tăng lên 81,2% (năm
1995) rồi bắt đầu giảm xuống còn 77,2% (năm 2001)
Biểu 2.2: Tỷ lệ lao động xã hội ở nông thôn qua các năm 1995-2001
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Lao động xã hội
cả nớc (triệu ngời)
35,71 35,87 36,29 37,41 37,78 38,64 40,8
Khu vực nông
thông (triệu ngời)
29 29,03 28,96 29,76 29,36 29,92 31,5
Tỷ lệ lao động xã
hội ở nông thôn (%)
81,2 80,9 79,8 79,6 77,7 77,4 7,77,2
Nguồn: Dân số- lao động-việc làm: Vấn đề, giải pháp và số liệu thống kê
lao động-xã hội, 1999
Tạp chí: Con số và sự kiện (số 1,2/2002)
Sỡ dĩ có sự thay đổi về tỉ lệ lao động xã hội nh vậy là vì cơ cấu lao động xã hội đã
có sự thay đổi theo định hớng ; lao động trong ngành lao động nông nghiệp giảm
xuống, lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng, ngành dịch vụ tăng lên. Sự
thay đổi này rất tốt, làm chuyển dịch cơ cấu lao động , phát triển nhân lực phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
24
2/ Nguồn nhân lực nông thôn phân bố không đều giữa các ngành và