Câu 3 – Các phương châm xử lý trong hoạt động đối ngoại và những
thành tựu cơ bản của đối ngoại thời kỳ đổi mới
Mở đầu
Công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh
đạo 25 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đây là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, trải nghiệm và liên tục đổi mới
tư duy của Đảng ta trên mọi lĩnh vực, trong đó đổi mới tư duy đối ngoại để
hoạch định và triển khai thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế có vị trị quan trong nổi bật. Nhờ vậy
quan hệ quốc tế của nước ta được mở rộng, vị thế của đất nước ta trên thế
giới không ngừng củng cố và nâng cao, tạo điều kiện kết hợp một cách hiệu
quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phục vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc trong đổi mới đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu, nguyên tắc và nhiệm vụ đối ngoại
Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ rộng mở, đa dạng hoá, đa phương
hoá của Đảng được hoạch định là sự kết tinh của một quá trình trăn trở, đổi
mới tư duy về đối ngoại trên cơ sở kế thừa truyền thống ngoại giao của dân
tộc, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đường lối đối ngoại bao hàm nhiều nội dung phong phú, thể hiện một hệ
thống các chủ trưong, quan diểm của đảng để chỉ đạo toàn bộ hoạt động
trên lĩnh vực quốc tế của nước ta thời kỳ đổi mới.
Theo đó, quan điểm đa phương hoá được nhận thức là mở rộng quan
hệ với nhiều nươc, nhiều đối tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn
tại hoà bình, không phụ thuộc không phụ thuộc vào sự khác biệt chính trị
xã hội.
Trong hoạch định đường lối đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta rất chú
trọng việc xác định và làm rõ tư tưởng chỉ đạo đối với hoạt động đối ngoại.
Có tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, hoạt động đối ngoại sẽ được định hướng để
có thể đạt được lợi ích đối ngoại và mục tiêu của đường lối, chính sách đối
ngoại. Do đó, tư tưởng chỉ đạo đối ngoại trước hết phải xuất phát từ lợi ích
quốc gia, dân tộc trong quan hệ quốc tế và mục tiêu đối ngoại của đất nước.
XI từng bước trở thành hiện thực.
Với nguyên tắc cơ bản bao trùm là “giữ vững hoà bình, độc lập,
thống nhất và chủ nghĩa xã hội”, hoạt động đối ngoại của nước ta cần phải
tuân thủ 04 nguyên tắc cơ bản sau: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau; Không đe doạ hoặc
dùng vũ lực; Giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng thương lượng hoà bình;
Tôn trong lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Phù hợp với mục tiêu của đường lối đối ngoại đổi mới, Đảng ta xác
định nhất quán nhiệm vụ đối ngoại cơ bản trong suốt thời kỳ đổi mới là
”giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”. Công tác đối ngoại trước hết là vì lợi ích
dân tộc, giữ vững môi trường hoà bình để phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Song, đặt cao lợi ích dân tộc không phải là từ bỏ chủ nghĩa quốc tế
chân chính, mà còn góp phần tích cực làm nghĩa vụ quốc tế trong điều kiệ,
khả năng cho phép vì mục tiêu thời đại.
Từ nhiệm vụ đối ngoại nêu trên, Hội nghị Trung ương 3 (khoá VII)
Đảng ta đã nêu ra và thực hiện bốn phương châm xử lý các vấn đề quốc tế.
Đây là những cẩm nang để triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại rộng
mở:
Một là, đảm bảo lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn
chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Phương châm này thực chất là nhằm xử lý mối quan hệ giữa lợi ích
dân tộc và đoàn kết quốc tế trong điều kiện mới, coi cách mạng Việt nam là
một bộ phận của cách mạng thế giới, đồng thời kết hợp hài hoà sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại. Lợi ích dân tộc chân chính là không mẫu
thuẫn mà còn phù hợp với lợi ích dân tộc và tiến bộ xã hội của nhân dân
các nước trên thế giới. Làm tốt nhiệm vụ dân tộc sẽ góp phần quan trọng
cho nhiệm vụ quốc tế, là sự đóng góp tốt nhất vào cuộc đấu tranh chung
trong quan hệ quốc tế, có thêm khả năng ứng phó các tình huống bất trắc,
đồng thời phù hợp với xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá trên thế giới.
Tham gia hợp tác khu vực và mở rộng quan hệ quốc tế không mâu thuẩn
mà còn hỗ trợ nhau. Mở rộng quan hệ với các quốc gia trên thế giới là nhân
tố quan trọng có ảnh hưởng và tác động đáng kể đến an ninh và phát triển
khu vực và của nước ta.
Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5-1988 là mốc
khởi đầu của quá trình đổi mới tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoại
của Đảng ta. Đảng đã có những điều chỉnh quan trọng trong hoạt động đối
ngoại với chủ trương đa dạng hoá quan hệ quốc tế. Sau năm 1991, chính
sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá được thực hiện.
Hội nghị Trung ương 6 Khoá VI (tháng 3-1989) đề ra các quyết sách
đối phó với những tác động phức tạp từ diễn biến của tình hình thế giới đối
với nước ta và công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Trong đó, quan hệ đối ngoại
đã chuyển mạnh từ quan hệ chính trị sang quan hệ kinh tế là chủ yếu.
Định hướng về đối ngoại của nước ta được xác định trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung,
phát triển năm 2011) là “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan
hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì
lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu
mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng
quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội trên thế giới.”
Một là, Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với tất cả các
nước láng giềng và khu vực nhằm tạo môi trường hoà bình, ổn địnhcung
quanh nước ta. Đây là hướng ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta vì lợi ích bảo đảm điều kiện thuận lợi cơ bản và
lâu dài cho sự phát triển và an ninh của đất nước. Trên hướng này
Hai là, Tiếp tục củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống,
Đảng ta hiện nay là kế thừa, phát huy truyền thống quý báu của dân tộc ta
từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Là sự phát triển và hoàn thiện
nền ngoại giao Việt nam dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin,
tư tưởng Hồ chí Minh, dựa trên tổng kết đấu tranh cách mạng.
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ mở rộng quan hệ quốc
tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Tiếp tục thực hiện tốt
công cuộc đổi mới, đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước,
đưa cách mạng Việt nam tiếp tục phát triển trên con đường xã hội chủ
nghĩa và góp phàn tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân toàn thế giới.
Nhìn một cách tổng quát những thành tựu trong hoạt động đối ngoại
Việt nam thời kỳ đổi mới đã góp phần phá được thế bao vây, cấm vận, mở
rộng được quan hệ song phương và đa phương với các nước và các tổ chức
quốc tế, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút một khối lượng khá lớn
vốn đầu tư bên ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên
tiến; góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, tạo bước
phát triển mới cho nền kinh tế đất nước. Thế và lực của Việt nam được
nâng cao trên trường quốc tế.
Đó là tạo ra thế và lực tạo đà cho cho đất nước ta thoát ra khỏi cuôc
khủng hoảng kinh tế, xã hội, phá bỏ thế bao vây cấm vận của Mỹ, mở cửa
hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ thời cơ để phát triển. Từ năm 1986 đảng
chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại mở rộng hội nhập. đã giải quyết
vấn đề Campuchia thể hiện sâu sắc tính chất chính nghĩa của Việt nam.
Bình thường hóa quan hệ với Mỹ (1995) và thúc đẩy quan hệ hợp tác.
Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), ký kết các hiệp
định đường biên giới trên bộ, trên biển, hiệp định khai thác tài nguyên trên
vùng biển đông với Trung Quốc. Giải quyết tốt các vấn đề còn tồn đọng về
biên giới với Lào và Campuchia.
Được kết nạp là thành viên chính thức hiệp hội các nước Asean
(1995) và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tổ chức này.
nước ta trong bối cảnh toàn cầu hoá sối động hiện nay.
Đây là cơ sở để đất nước ta vững bước trên đường hội nhập và phát
triển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, hướng tới mục tiêu “ dân
giàu. nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.