Mối quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ. Chứng minh dạy học phát triển trí thông minh (IQ) của học sinh qua môn Hóa học - Pdf 27

TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chúng ta đang sống ở thế kỉ XXI, thế kỷ của tri thức khoa học và công nghệ
cao. Điều đó đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và toàn
diện. Nghị quyết BCH Trung Ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo
dục đào tạo là đào tạo ra những con người có đủ phẩm chất, năng lực để xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại, có năng lực phát
huy giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, có tư duy sáng tạo, kỹ
năng thực hành giỏi”.
Phát triển năng lực nhận thức, tư duy độc lập, sáng tạo và rèn trí thông minh
cho học sinh là một trong những nhiệm vụ quan trong của nhà trường phổ thông. Cố
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhấn mạnh: “Chương trình và sách giáo
khoa phải đảm bảo dạy cho học sinh những nguyên lí cơ bản toàn diện về các mặt
đức dục, trí dục, mĩ dục. Đồng thời tạo cho các em điều kiện phát triển trí thông
minh, khả năng độc lập suy nghĩ và sáng tạo. Cái quan trọng của trí dục là rèn luyện
trí thông minh và sức suy nghĩ …Phương pháp giảng dạy bao giờ cũng đi đôi với
nội dung giảng dạy, anh dạy như thế nào giúp cho người học trò, người sinh viên óc
khả năng độc lập suy nghĩ, giúp cho cái thông minh của họ làm việc, phát triển chứ
không phải giúp cho họ có trí nhớ. Phải có trí nhớ nhưng chủ yếu là giúp cho họ
phát triển trí thông minh sáng tạo”. Do đó nhà trường phổ thông phải đào tạo ra
những con người có phẩm chất trí tuệ, chủ yếu là những phẩm chất của sức suy
nghĩ, của tư duy: óc suy nghĩ độc lập sáng tạo, trí thông minh.
Thực tiễn dạy học cho thấy phương pháp dạy học hiện nay tuy đã nhiều đổi mới
nhưng cũng chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra, ở trường phổ thông các thầy cô quan
tâm đến nội dung và phương pháp học tập đáp ứng tốt cho các kì thi nhưng chưa chú
trọng thích đáng vào rèn luyện phát triển trí tuệ, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thực
vào thực tiễn, đặc biệt là phát triển tư duy Hóa học. Tư duy Hóa học là loại hình rất
cần thiết trong dạy học và làm việc sau này của học sinh.
Trong dạy học hoá học, có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng
lượng nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau.

Nghiên cứu lý luận
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 4
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông
Lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc
khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15 – 25 tuổi, được chia
làm hai thời kỳ:
+ Thời kỳ từ 15 – 18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kỳ từ 18 – 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên.
Lứa tuổi học sinh THPT thuộc giai đoạn đầu
Yếu tố ảnh hướng tới sự phát triển của học sinh THPT
Đặc điểm về sự phát triển thể chất: Tuổi học sinh THPT là thời kỳ đạt được
sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển
bình thường, hài hòa, cân đối. Sự phát triển của thể chất lứa tuổi này sẽ có ảnh
hưởng nhất định đến tâm lý và nhân cách cũng như ảnh hưởng tới những lựa chọn
trong cuộc sống.
Điều kiện sống và hoạt động
+ Vị trí trong gia đình:Trong gia đình, lứa tuổi trung học phổ thông đã có
nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn. Cha mẹ bắt đầu trao đổi với con cái
ở lứa tuổi này về một số vấn đề quan trọng trong gia đình. Học sinh lứa tuổi này bắt
đầu quan tâm đến nề nếp, lối sống, sinh hoạt và điều kiện kinh tế của gia đình. Đây
là lứa tuổi vừa học tập vừa lao động.
+ Vị trí trong nhà trường: Ở nhà trường, học tập vẫn là chủ đạo nhưng tính
chất và mức độ thì cao hơn lứa tuổi thiếu niên. Lứa tuổi này đòi hỏi tính tự giác và
độc lập hơn. Trong giai đoạn này, nhà trường có vị trí quan trọng, đây là nơi không
chỉ trang bị tri thức mà còn tác động hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho
mỗi học sinh.
+ Vị trí ngoài xã hội: hoạt động lúc này đã vượt ra khỏi phạm vi của nhà

Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục
Trong cuộc sống xã hội loài người, mọi cá nhân lớn lên được về mặt tâm lý,
trí tuệ hay cảm xúc … là nhờ vào quá trình thẩm thấu dần những kinh
nghiệm của xã hội loài người. Như vậy quá trình trưởng thành về mặt xã hội
của con người được thực hiện là nhờ cơ chế di truyền xã hội, tức là thế hệ
trước truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của xã hội loài người, nhờ
đó trẻ lớn lên thành người. Cơ chế di truyền xã hội này được thực hiện hiệu
quả nhất qua con đường dạy học. Dạy học là quá trình biến năng lực của loài
người thành năng lực của cá thể. Để làm được điều này thì cá nhân phải hoạt
động nhưng họ không tự làm được mà cần có sự giúp đỡ của người lớn, của
thế hệ đi trước, của những nhà giáo dục.
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 6
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
Nói đến hoạt động dạy học là nói đến hoạt động đặc trưng của nhà trường.
Việc dạy có thể diễn ra mọi lúc mọi nơi bởi bất cứ ai, nhưng hoạt động dạy
học là hoạt động đặc thù của nhà trường bởi hoạt động này được tiến hành có
kế hoạch, có mục đích tôn chỉ rõ ràng, với nội dung mang tính khoa học và
tính hệ thống và đặc biệt được dẫn dắt bởi đội ngũ được đào tạo sư phạm
chuyên nghiệp.
Dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục, là một trong những con
đường quan trọng nhất để thực hiện mục đích giáo dục. Về bản chất, không
có dạy học nào mà lại không hàm chứa giáo dục trong nó và không có giáo
dục nào lại không có sự dạy. Đó cũng là lý do vì sao dạy học là con đường
giáo dục cơ bản và đặc trưng của nhà trường. Hơn nữa nội dung các môn học
chứa đựng thành tựu khoa học, những kinh nghiệm của xã hội loài người
cũng như những giá trị của chúng nên khi tiếp nhận những nội dung này,
người học được hướng dẫn luôn cả sự chiếm lĩnh con đường đạt kiến thức và
hình thành thái độ với những gì loài người tạo ra. Dạy có thể diễn ra thường
ngày, được tiến hành bởi bất cứ ai. Nhưng dạy học là dạy trong nhà trường
và được tiến hành bởi các nhà sư phạm, những người được đào tạo nghề dạy

nghiệm lịch sử xã hội ở người học. Người dạy sử dụng tri thức như là phương tiện,
vật liệu để tổ chức và điều khiển người học lĩnh hội tri thức. Người dạy tạo ra được
sự tích cực trong hoạt động học của người học, làm cho người học vừa ý thức được
đối tượng cần lĩnh hội vừa biết cách chiếm lĩnh nó. Tính tích cực này quyết định
chất lượng học tập của người học. Như vậy, quá trình dạy học có tính thuận nghịch,
có mục đích, được thay đổi một cách kế tiếp nhau giữa thầy và trò. Trong đó thầy tổ
chức điều khiển, trò lĩnh hội kinh nghiệm xã hội. Để tiến hành hoạt động dạy có
hiệu quả cao đòi hỏi người dạy phải có những phẩm chất năng lực cần thiết.
1.2.3. Tổ chức hoạt động dạy học
Bản chất của hoạt động dạy chính là quá trình tổ chức và điều khiển quá
trình học của người học. Khái niệm tổ chức trong hoạt động dạy của người dạy
chính là quá trình dẫn dắt người học thực hiện các hành dộng học bằng hệ thống các
thao tác xác định. Cụ thể:
Xác định mục đích cần đạt của mỗi bài học và những yêu cầu cần thực hiện
để có thể đạt được mục đích đề ra
+ Cung cấp phương tiện, điều kiện để người học thực hiện hoạt động học.
+ Thiết kế quy trình thực hiện nhiệm vụ của hoạt động.
+ Chỉ dẫn người học làm theo quy trình.
+ Đánh giá và hướng dẫn người học tự đánh giá kết quả đạt được.
Đó là công việc chính trong quá trình thực hiện hoạt động dạy của người
thầy. Tuy nhiên, sự hấp dẫn hay hiệu quả của giờ học phụ thuộc rất nhiều vào
những phương pháp thầy sử dụng trên lớp.
Xét về bản chất của phương pháp dạy học, theo L.X Vygotsky, có chia kiểu
dạy học mà tương ứng với nó là hai kiểu phương pháp dạy học khác nhau:
+ Dạy học dựa vào mức độ hiện có của người học: Đây là vùng phát triển
hiện có, ở đây người học đã có vốn tri thức, kỹ năng, phương pháp nhất định. Dạy
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 8
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
học kiểu này không mang lại cái mới cho người học, không tạo ra sự phát triển mà
chỉ củng cố những gì người học đã có.

tại trường trung học và thi hỏng vào trường kĩ thuật tổng hợp và lần thứ 2 mới đỗ
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 9
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
vào trường này. Với sự quyết tâm học tập và lòng yêu toán vô bờ bến, ông đã trở
thành một tài năng lớn, thậm trí là một thiên tài của thế kỉ 20.
Thiên tài (genius): Con người đạt được những thành tựu vô song trong lịch
sử, mang đến những giá trị mới hoàn toàn trên bình diện toàn nhân loại, mở ra một
thời kì mới, một bậc mới của sự phát triển trong một hoặc nhiều lĩnh vực hoạt động
nào đó, như một mốc son đánh dấu một bậc phát triển cao hơn của xã hội loài người
1.3.1.2. Khái niệm về trí tuệ
Các nhà khoa học coi: Trí tuệ là năng lực học tập nhưng không đồng nhất với
nhau (Freeman F.S,1963; Aiken L.R, 1987): Học tập là điều kiện cần thiết để phát
triển trí tuệ. Trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng (Terman L,1937): sử dụng có hiệu
quả các khái niệm và vật tượng trưng (kí hiệu). Trí tuệ là năng lực thích ứng là sự
tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường xung quanh nhưng cần xem sự tác
động qua lại đó là một sự thích ứng tích cực, có hiệu quả chứ không phải là sự thích
nghi đơn giản.Còn các nhà TLH Liên xô thì xem xét trí tuệ với các thuộc tính của
nhân cách, trí tuệ được hình thành và thể hiện trong hoạt động, trí tuệ bị quy ước
bởi các điều kiện xã hội và trí tuệ có khả năng thích ứng
Đối với các nhà tâm lý học hành vi, khái niệm trí tuệ không chứa đựng cùng
một nội hàm. Cho đến nay vẫn chưa được định nghĩa trí tuệ mà chỉ có được thống
nhất chung là trí tuệ, là khả năng tư duy trừu tượng hoặc khả năng giải quyết vấn đề
một cách hiệu quả.
Vậy có thể nhìn nhận Trí tuệ là một cấu trúc động tương đối độc lập của
những năng lực nhận thức và xúc cảm của cá nhân, hình thành và thể hiện trong
hoạt động, do những điều kiện văn hóa – lịch sử quy định, đảm bảo sự tác động qua
lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cải tạo hiện thực đáp ứng các mục tiêu cuộc
sống của cá nhân và xã hội.
1.3.2. Các chỉ số của sự phát triển trí tuệ
Có nhiều quan điểm khác nhau về chỉ số của sự phát triển trí tuệ, song tựu

- Phát triển trí tuệ là điều kiện cho dạy học vì nếu học sinh phát triển trí tuệ sẽ
tiếp thu tri thức nhanh chóng và dễ dàng. Trình độ trí tuệ đạt được là điều kiện để
dạy học ở trình độ trí tuệ cao hơn.
- Dạy học phải kích thích hoạt động học mà hoạt động học phụ thuộc vào năng
lực của học sinh.
Để phát triển trí tuệ cho người học, việc dạy cần đảm bảo những nguyên tắc sau:
- Dạy học phải có tính định hướng, phù hợp với trình độ phát triển hiện tại của
người học, làm cho người học hôm nay còn cần đến thày, ngày mai họ có thể đứng
trên đôi chân của mình (Vưgotxki).
- Tôn trọng vốn sống của người học khi dạy học: hãy khai thác tối đa vốn kinh
nghiệm để trang bị kiến thức mới, hãy tạo ra kết cấu mới từ những kiến thức và
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 11
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
kinh nghiệm đã có. Cách này làm cho kiến thức của người học luôn được củng cố
và có được nền tảng vững chắc.
- Trang bị tri thức lý luận khái quát bằng cách khái quát hóa các kinh nghiệm
của người học, điều này giúp người học hiểu một cách sâu sắc bản chất sự vật hiện
tượng, từ đó họ có thể linh hoạt và mềm dẻo trong giải quyết vấn đề của thực tiễn.
- Làm cho người học có ý thức về toàn bộ quá trình học tập, tự giác học tập
bởi nếu người học không tự giác học thì việc dạy vẫn nằm bên ngoài cái đầu của
người học. Việc chỉ ra cho người học thấy tầm quan trọng, sự cần thiết của nội dung
bài học đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của người học.
Hoạt động dạy học và hoạt động học tập gắn bó chặt chẽ với nhau và thành
công của các hoạt động này phụ thuộc vào nhau, nhưng trong mối quan hệ này,
người học là người quyết định thành bại của họ, người dạy chỉ là môi trường, là
người chỉ đạo, hướng dẫn người học mà thôi.
1.4.2. Dạy học và phát triển trí thông minh (IQ)
Trí thông minh là một cấu trúc phức hợp hòa nhập nhiều loại năng lực, có
tính độc lập tương đối, ổn định nhưng không tĩnh tại mà phát triển nhờ sự trải
nghiệm của cá nhân qua sự tương tác giữa các tố chất sinh học và môi trường văn

nhất ở trẻ con. Loại trí tuệ này chủ yếu nằm ở bán cầu não phải, nhưng khu trú kém
chính xác hơn ngôn ngữ và có thể mất đi do những tổn thương ở não.
- Trí tuệ không gian (Spatial Intelligence): Bao gồm các khả năng tiếp nhận
thế giới thị giác không gian một cách chính xác và khả năng thực hiện những biến
đổi với sự tri giác ban đầu của mình. Nó cho phép tưởng tượng hình dạng của các
sự vật với góc nhìn khác với người khác. Loại trí tuệ này cần thiết cho việc định
hướng và trí nhớ thị giác của chúng ta, đặc biệt là sự định hướng trừu tượng trong
không gian. Người có loại trí tuệ này có thể diễn tả tư tưởng và dự định của mình
dưới dạng kí họa. Điển hình cho loại trí tuệ này là các nhà hàng hải, các kỳ thủ, họa
sĩ và nhà điêu khắc. Loại trí tuệ này chủ yếu nằm ở phía sau bán cầu não phải. Sự
tổn thương của vùng não này có thể làm người bệnh không nhận ra được người thân
và nơi chốn rất quen thuộc trước đây.
- Trí tuệ vận động cơ thể (body – Kinesthetic Intelligence): Gồm các thành tố
cơ bản là các năng lực kiểm soát vận động của cơ thể mình và cần nắm chắc các đối
tượng một cách khéo léo. Ở đây, cơ thể tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các
vấn đề, thường nhanh hơn cả trí óc, nhất là trong các tình huống nguy hiểm và trong
khi chơi thể thao. Điển hình cho loại trí tuệ này là các nghệ sĩ múa, các nhà thể dục
dụng cụ, các nghệ sĩ kịch câm. Loại trí tuệ này nằm ở trung khu vận động của bán
cầu não trái (đối với phần cơ thể bên phải) và bán cầu não phải (đối với phần cơ thể
bên trái). Các tổn thương não bộ thường chỉ ảnh hưởng đến sự chỉ huy một phần cơ
thể.
- Trí tuệ về bản thân (Intrapersonal Intelligence): Bao gồm những năng lực
đánh giá các cảm xúc của bản thân mình, năng lực phân biệt giữa các cảm xúc ấy
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 13
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
và đưa chúng vào hướng dẫn hành vi. Sự hiểu biết về những điểm mạnh và điểm
yếu của bản thân, về những thèm muốn và trí thông minh của mình. Người có trí tuệ
loại này là những người hiểu biết về bản thân mình một cách cặn kẽ và chính xác.
Tuy nhiên, loại trí tuệ này có ở mọi người với các cường độ và mức độ khác nhau.
Trùy trán là trung tâm của loại trí tuệ này, tổn thương ở phần dưới thùy trán dẫn đến

HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 14
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
năng lực hay trí tuệ. Cũng có những quan điểm khác cho rằng 8 loại trí tuệ của
Gardner chỉ là sự mô tả các năng lực và dẫn đến 8 điểm số trắc nghiệm IQ chứ
không phải là một điểm số (Lester A Lefton, 2000).
1.5. Trí thông minh
1.5.1. Khái niệm trí thông minh
Theo tác giả Hoàng Phê, “Thông minh là có trí lực tốt, hiểu nhanh, tiếp thu
nhanh, là nhanh trí và khôn khéo, tài tình trong các ứng đáp, đối phó [8]
Các nhà tâm lý học cũng có những quan điểm khác nhau và giải thích khác
nhau về trí thông minh nhưng đều có chung một nhận định: “Trí thông minh không
phải là một năng lực đơn độc, nó là sức mạnh tổng hợp của nhiều loại năng lực”.
Theo điều tra tâm lý và quan điểm của các nhà tâm lý học Trung Quốc, trí thông
minh bao gồm khả năng quan sát, khả năng của trí nhớ, sức suy nghĩ, óc tưởng
tưởng, kỹ năng thực hạnh và sáng tạo. Trí thông minh là sự phối hợp tốt các năng
lực đó để làm thành một kết cấu hữu hiệu [9]
Theo tác giả Lý Minh Tiên thì định nghĩa về trí thông minh được nhiều nhà
nghiên cứu đề nghị coi trí thông miwnh như một nhóm khả năng được biểu hiện và
đánh giá qua điểm số mà những trắc nghiệm trí tuệ đo được. Định nghĩa là thuận lợi
cho việc nghiên cứu có liên quan đến một thuật ngữ rất trừu tượng là “trí thông
minh”, mở ra hướng đo đạc, lượng hóa các khả năng trí tuệ [10]
Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, “Thông minh là nhanh nhạy nhận ra
mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng và biết vận dụng mối quan hệ đó theo
hướng có lợi nhất để đạt được mục tiêu [7]
1.5.2. Đo trí thông minh của học sinh
Phương pháp đo trí thông minh hay còn gọi là xác định chỉ số thông minh
IQ. Phương pháp này được đề xuất vào năm 1905 bởi nhà tâm lý học người Pháp là
Alfred Binet. Hiện nay người ta dùng các phương pháp xác định để định lượng các
chức năng trí tuệ. Tất cả các phương pháp đó đều dùng trắc nghiệm bao gồm các lần
thử qua khẩu vấn và các lần thử theo hiệu năng để đánh giá mức độ thông minh

minh, có tư duy sắc bén. Hóa học không đơn thuần nghiên cứu lý thuyết mà luôn
gán liền thực tiễn, được chứng minh bằng thực nghiệm. Do vậy, môn hóa học góp
phần bồi dưỡng cho người học năng lực tư duy độc lập, sáng tạo ngay trong thực tế.
Nếu người học được tiếp nhận một phương pháp dạy học hiện đại, coi trọng sự phát
triển của người học thì thông qua môn hóa học, học sinh được bồi dưỡng, phát triển
năng lực tư duy, rèn luyện trí thông minh, dần dần năng lực nhận thức được nâng
cao, sự phối hợp các năng lực của bản thân cũng ngày càng linh hoạt, có nghĩa là
phát triển được trí thông minh. Để làm được điều này, bản thân người giáo viên
phải soạn được một hệ thống bài tập chứa đựng yếu tố tư duy chứ không phải tái
hiện kiến thức thuần túy. Mỗi bài tập đưa ra đòi hỏi học sinh phải vận dung các thao
tác tư duy để giải quyết, đặc biệt tình huống “có vấn đề” có ý nghĩa quan trọng.
Bên cạnh hệ thống bài tập có chất lượng cao không thể thiếu phương pháp giải hiệu
quả. Muốn học sinh có tư duy phát triển thì ngay từ đầu phải xâu dựng, cung cấp
cho các em công cụ giải toán hóa học cơ bản mà từ đó các em có thể vận dụng trong
từng trường hợp cụ thể.
1.6. Bài tập hóa học
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 16
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
1.6.1. Khái niệm bài tập hóa học.
Bài tập hóa học là phương tiện để dạy học sinh tập vận dụng kiến thức. Một
trong những tiêu chí đánh giá sự lĩnh hội tri thức hóa học là kỹ năng áp dụng tri
thức để giải quyết bài tập hóa học chứ không chứ không phải là kỹ năng kể lại tài
liệu đã học. Bài tập hóa học là một trong những phương tiện có hiệu quả để giảng
dạy môn hóa học, tăng cường và định hướng hoạt động tư duy của học sinh [11]
1.6.2. ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học.
Thực tiễn DH HH ở trường THPT cho thấy, BTHH có những ý nghĩa và tác
dụng to lớn:
+ Làm chính xác hoá những khái niệm HH; củng cố, đào sâu và mở rộng
kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn; chỉ khi vận dụng kiến thức vào
giải BT, HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.

Để có được những kết quả trên, người giáo viên cần ý thức được mục đích
của hoạt động giải BTHH, không phải chỉ là tìm ra đáp số đúng mà còn là phương
tiện khá hiệu quả để rèn luyện tư duy hoá học cho học sinh. BTHH phong phú và đa
dạng, để giải được BTHH cần phải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các
thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, Qua
đó học sinh thường xuyên được rèn luyện ý thức tự giác trong học tập, nâng cao khả
năng hiểu biết của bản thân.
Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện và phát
triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động, nâng khả năng hiểu
biết thế giới của học sinh lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành
nhân cách toàn diện của học sinh.
- Bài tập định tính là dạng bài tập không khai thác sâu kỹ năng tính toán,
nhưng lại có thể khai thác mạnh đặc trưng của môn hóa học. Bài tập định tính giúp
học sinh phát triển năng lực quan sát (quan sát thí nghiệm, sơ đồ, hình vẽ, mô hình,
cấu tạo của chất), rèn luyện được thao tác tư duy để chuẩn bị cho việc giải quyết các
bài tập định lượng, gắn lý thuyết với thực tế (giải thích hiện tượng tự nhiên, tác hại
của hóa chất với môi trường). Bài tập định tính còn giúp học sinh ôn tập, củng cố
kiến thức, làm chính xác các khái niệm, quy luật và có cái nhìn tổng quát hơn về
toàn bộ kiến thức hóa học phổ thông.
- Bài tập định lượng giúp học sinh củng cố kiến thức về tính chất hóa học
của các chất một cách sâu sắc. Bài tập định lượng rèn luyện cho học sinh các thao
tác tính toán hóa học cơ bản, gắn liền với thực tế của phòng thí nghiệm (pha hóa
chất), sản xuất (sản xuất acid, bazo, phân bón). Tính toán hóa học giúp rèn luyện kỹ
năng sử dụng mối quan hệ về lượng giữa các chất trong một quá trình hóa học (bảo
toàn khối lượng, bảo toàn điện tích, bảo toàn electron, …)
Cùng một bài tập, ngay cả bài tập lý thuyết đơn giản thì với mỗi học sinh
khác nhau cách giải cũng khác nhau. Chính sự khác nhau đó giúp giáo viên đán h
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 18
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
giá một cách tổng quát năng lực tư duy của mỗi học sinh. Học sinh có cách giải

luận, bao gồm các nội dung chính sau:
1. Vấn đề đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi trung học phổ thông
2. Bản chất hoạt dộng dạy học
3. Sự phát triển trí tuệ
4. Trí thông minh: Định nghĩa, đo trí thông minh, cách rèn trí thông minh
5. Mối quan hệ giữa bài tập hóa học và việc phát triển tư duy, rèn trí thông
minh cho học sinh
6. Thực trạng sử dụng bài tập hóa học để rèn tư duy và trí thông minh cho
học sinh hiện nay. Từ đó rút ra các kết luận quan trọng.
Tất cả các vấn đề trên là nền tảng cơ sở cho phép chúng tôi nêu lên sự cần
thiết phải thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm phục vụ tốt hơn cho thực tế giảng dạy
và nâng việc phát triển tư duy lên một bước cao hơn.
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 20
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
CHƯƠNG II:
HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY, RÈN TRÍ
THÔNG MINH CHO HỌC SINH THPT
2.1. Nguyên tắc lựa chọn, xây dựng bài tập phát triển tư duy, rèn trí thông
minh
2.1.1. Chính xác, khoa học
Với mục đích của việc xây dựng bài tập là giúp học sinh hiểu đúng,
hiểu đầy đủ các kiến thức hóa học phổ thông, cho nên tính chĩnh xác,
khoa họ của bài tập là yếu tố quan trọng hàng đầu.
2.1.2. Phong phú, đa dạng, xuyên suốt chương trình
Bài tập phải được tuyển chọn cẩn thận từ nhiều tài liệu, kết hợp
với một số phần tự xây dựng trải rộng khắp chương trình hóa học THPT,
lien quan đến nhiều vấn đề của hóa học nhưng không nằm ngoài chương
trình, không mang tính đánh đố. Bài tập có thể ở hình thức tự luận hoặc
trắc nghiệm, sao cho phát huy hết năng lực của học sinh.
2.1.3. Khai thác được đặc trung, bản chất hóa học

nguyên tố nhất định.
2.2.1.3. Phương pháp bảo toàn electron
mol e nhËn
=
mol e cho
m m
∑ ∑
Phương pháp này tỏ ra hiệu quả, nhanh chóng khi giải quyết các bài tập về phản
ứng oxi hóa khử như: kim loại tác dụng với acid, kim loại tác dụng với dung dịch muối,
kim loại tác dụng với oxi, điều chế kim loại bằng phương pháp nhiệt luyện, …
2.2.2. Phương pháp tăng giảm khối lượng
Phương pháp này chỉ quan tâm đến một chất trước phản ứng và
một chất sau phản ứng để thấy rõ sự biến thiên khối lượng mol của haic
hất này
2.2.3. Phương pháp tính theo phương trình ion
Phương pháp này dựa vào đặc điểm: “Phương trình ion (rút gọn)
mô tả bản chất phản ứng hóa học trong dung dịch”. Phương pháp này
thường áp dụng cho các phản ứng như: hỗn hợp acid tác dụng với hỗn
hợp bazo; hỗn hợp acid tác dụng với hỗn hợp muối; Cu tác dụng với hỗn
hợp gồm acid và muối nitrat; …
2.2.3. Phương pháp trung bình
Là phương pháp áp dụng cho các bài toán hữu cơ và bài toán vô cơ
có các chất thuộc cùng nhóm, cùng hóa trị.
2.2.4. Phương pháp quy đổi
Được xây dựng trên sự tương đông về sản phẩm phản ứng, phân tử
HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 22
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
khối, …. Để đưa hỗn hợp phức tạp gồm nhiều chất thành một hay hai
chất và từ đó việc giải quyết bài toán trở nên nhẹ nhàng. Nó được áp
dụng hiệu quả nhiều cho các bài tập về sắt, hợp chất của sắt.

HỌC VIÊN: NGÔ XUÂN QUỲNH – LỚP K10 Trang 23
TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC
buộc học sinh chấp nhận mà phải dùng các phương tiện dạy học để học sinh
tự rút ra kết luận.
c. Thay đổi các viết, thứ tự các nguyên tử trong phân tử dể tạo ra sự khác biệt,
nhất là trong hóa học hữu cơ. Giáo viên không nên để học sinh hiểu một cách
máy móc về cấu tạo phân tử các chất và thứ tự liên kết giữa các nguyên tử
trong phân tử. Ví dụ: viết RCOOR” hay R”OCO sẽ khác với R’COOR
d. Cho học sinh quan sát, so sánh cấu tạo, phân tử khối của các chất với nhau
để sử dụng kết quả nào đó vào việc giải bài tập định lượng. Rèn luyện cho
học sinh thói quan quan sát nhanh dữ kiện, các chất được đề cập trong bài
tập
e. Thay đổi cách thức kiểm tra – đánh giá. Đưa thêm các bài tập đòi hỏi sự
quan sát của học sinh: như quan sát đồ thị để rút ra điều kiện nhiệt độ, áp
suất, nồng độ, quan sát sơ đồ để cho biết về việc áp dụng nguyên tắc chu
trình khép kin; quan sát hình vẽ để kiểm tra kiến thức thực nghiệm.
2.3.1.3. Bài tập rèn năng lực quan sát
* Quan sát thí nghiệm
Quan sát thí nghiệm có thể là để rút ra tính chất vật lý của một chất cụ thể,
sinh động, cũng có thể là để rút ra tính chất hóa học hay một quy luật hoa shocj nào
đó. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh quan sát tỉ mỉ, chi tiết, đầy đủ, học sinh suy
nghĩ, nhận xét, đánh giá, kết luận vấn đề.
Bài tập 1: Quan sát một mẩu iot. Mô tả tính chất vật lý của nó. Cho iot vào ốc thuỷ
tinh, đậy kín, đun nóng nhẹ đáy cốc, cho biết hiện tượng. Giải thích guyên nhân gây
ra hiện tượng đó.
Hình 2.1. Thí nghiệm chứng minh tính thăng hoa của tinh thể iot
Học sinh sẽ quan sát và mô tả trạng thái, màu sắc: chất rắn màu tím đen. Học
sinh làm thí nghiệm, thấy iot rắn biến thành hơi iot màu tím mà hông qua trạng thái
lỏng. Học sinh rút ra kết luận: iot có tính thăng hoa do ot có cấu tạo mạng tinh thể
phân tử, loại mạng tinh thể kém chặt chẽ.

NO

trong môi trường acid sẽ có tính oxi hóa
như HNO
3
2
3 2
3 8 2 3 2 4Cu H NO Cu NO H O
+ − +
+ + → + +
Cu tan và tạo thành Cu
2+
có màu xanh, NO là khí không màu thoát ra và có khả
năng hóa nâu trong không khí do phản ứng: 2NO + O
2

→
2NO
2
Giáo viên cho học sinh làm thí nghiệm tương tự, thay dung dịch H
2
SO
4
loãng bằng
H
2
O, dung dịch NaOH rồi khái quát thành sơ đồ:
Bài tập 3 Cho biết những chất khí nào có thể thu được như sơ đồ hình vẽ ?
Cho biết tên phương pháp thu khí.
Hình 2.3. Thí nghiệm thu khí bằng phương pháp dời chỗ nước

A. hỗn hợp CaO.Al
2
O
3
, CaO.SiO
2
B. hỗn hợp CaO.MgO, CaCO
3
C. hỗn hợp CaO.SiO
2
, MgO.SiO
2
D. hỗn hợp CaO.SiO
2
, CaCO
3
Bài tập 2: Lần lượt tiến hành thí nghiệm
với phenol theo thứ tự các hình (A), (B),
(C) như hình bên. Kết thúc thí nghiệm C,
hiện tượng xảy ra là :
A. có hiện tượng tách lớp dung dịch
B. xuất hiện kết tủa trắng
C. có khí không màu thoát ra
D. dung dịch đổi màu thành vàng nâu
Bài tập 3: Cho sơ đồ sản xuất đồng thời hai chất X và Y trong công nghiệp
3 6
6 6 9 12
C H
C H C H X Y
+

của a là:
A. 25,00 gam B. 22,80 gam C. 16,05 gam D. 11,00 gam
Nhận xét: Sản phẩm muối thu được sau phản ứng là: HCOONa và HCOOK
0,15 mol
OH
n

=
=> a =
HCOO K Na
m m m+ +
= 11 gam
2.3.2. Rèn các thao tác tư duy
2.3.2.1. Biện pháp rèn các thao tác tư duy
Trong quá trình dạy học, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng học sinh sẽ
khó khăn trong việc nắm vững tri thức nếu không có kỹ năng áp dụng các thao tác
tư duy. Vì vậy, cho dù dạy học theo phương pháp nào, giáo viên cũng đều phải rèn
cho học sinh các thao tác tư duy để vừa hiểu, vừa làm và giữ kiến thức một cách
bền vững.
Trong việc giải toán, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh:
- Đọc đề, quan sát, biến đổi dữ liệu về số mol (nếu có thể)
- Tóm tắt ngắn gọn đề bài thành sơ đồ để làm nổi bật giả thiết, kết luận
- Làm rõ mối quan hệ giữa các chất trong bài toán. Xem xét nét đặc biệt của
dữ kiện, của hóa chất hoặc của phản ứng (nếu có)
- Phân tích các phương án trả lời để loại bớt phương án nhiễu.
2.3.2.2. Bài tập rèn các thao tác tư duy
Bài tập 1: Tính chất không là chung của dung dịch HCl và dung dịch H
2
SO
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status