mối quan hệ giữa tăng trường và lạm phát trong nền kinh tế việt nam - Pdf 10


A. PHẦN MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và lạm phát luôn là những chỉ tiêu vô cùng quan trọng trong
các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và dành được sự quan tâm hàng đầu của các nhà quản
lý, nhà hoạch định cũng như công chúng. Không những thế tăng trưởng và lạm
phát còn được xem là những đề tài hấp dẫn và mới mẻ trong nghiên cứu kinh tế
đặc biệt là trong nền kinh tế hiện đại. Dù bạn là ai, một sinh viên, một người
nông dân, một nhân viên văn phòng hay một nhà quản lý cao cấp thi hàng ngày,
hàng giờ tăng trưởng và lạm phát đều đang ảnh hưởng đến đời sống của bạn.
Tăng trưởng có thể giúp bạn trở nên giàu có thì lạm phát chính là “kẻ móc túi”
vô hình luôn thường trực bên bạn.
Ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của tổ chức thương mại thế giới WTO. Là một quốc gia đang phát triển, là
thành viên mới của WTO, chúng ta đã bắt đầu có những bước chuyển mình và
dành được những thành công ban đầu. Sau gần hai năm gia nhập, kinh tế Việt
Nam đã đạt được nhiều kết quả nổi bật. Năm 2007, tăng trưởng GDP tiếp tục
đạt mức cao với 8,5%, trong đó, nông-lâm-thủy sản đạt mức tăng trưởng 3,40%,
công nghiệp - xây dựng đạt 10,37%, dịch vụ đạt 8,29%. Vốn FDI đạt mức kỷ
lục về vốn đăng ký và vốn thực hiện, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
cao và hàng hóa xuất khẩu cũng phong phú hơn. Từ một quốc gia nghèo đói, tư
duy kinh tế lạc hậu chúng ta đã dần bắt kịp nhịp độ phát triển của nền kinh tế
thế giới với một tốc độ tăng trưởng cao và khá đều đặn.
Tuy nhiên bước vào sân chơi thế giới không chỉ mở ra cho chúng ta những cơ
hội mà bên cạnh đó còn vô vàn những thách thức to lớn. Chúng ta phải đối mặt
với sự cạnh tranh khốc liệt, những luật lệ quốc tế và cả sự phụ thuộc vào thị
trường thế giới. Dưới góc độ quản lý chúng ta phải đối mặt với sự tăng trưởng
quá nóng, tình trạng lạm phát tăng cao và những cơn sốt của thị trường chứng
khoán, thị trường vàng, ngoại tệ và sự nguội lạnh của thị trường bất động sản…
1

Trong năm 2008 tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát trong 6 tháng đầu

hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc
về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định
(thường là một năm).
So sánh tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ta
thấy:
GNP = GDP + thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài. Thu nhập ròng từ tài sản
ở nước ngoài = thu nhập chuyển về nước của công dân nước đó làm việc ở
nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người nước ngoài làm việc
tại nước đó. Tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với
năm trước.
GNP và GDP là hai thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh tế của
một nước biểu hiện bằng giá cả. Vì vậy, để tính đến yếu tố lạm phát người ta
phân định GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế. GNP, GDP danh nghĩa
là GNP và GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GNP và GDP thực tế
là GNP và GDP được tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc.
Với tư cách này, GNP, GDP thực tế loại trừ được ảnh hưởng của sự biến động
của giá cả (lạm phát). Do đó, có mức tăng trưởng danh nghĩa và mức tăng
trưởng thực tế.
1.2. Vai trò của tăng trưởng kinh tế
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo
những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong đó,
tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã
hội.
* Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng,
3

chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng
kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế
nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường
vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng.

thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 - 30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ
xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
1.3. Các chỉ số đánh giá tăng trưởng kinh tế
* Tổng giá trị sản xuất ( GO – Gross output ): là tổng giá trị sản phẩm vật
chất và dịch vụ được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một
thời kì nhất định (thường là một năm).
* Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP – Gross domestic product ): là tổng giá
trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên
phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kì nhất định.
* Tổng sản phẩm quốc dân ( GNP – Gross national product ): là tổng thu
nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân một nước tạo nên
trong một khoảng thời gian nhất định.
* Thu nhập quốc dân ( NI – National income ): là phần sản phẩm vật chất
và dịch vụ mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.
* Thu nhập quốc dân sử dụng ( NDI – National disposable income ): là
phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuần
trong một thời gian nhất định.
* Thu nhập bình quân đầu người ( GDP\người; GNP\người ): chỉ tiêu này
phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số, nó là những chỉ
báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung.
5

1.4. Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế.
* Vốn (K): là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến
tăng trưởng kinh tế. Vốn sản vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liên quan
trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ
không phải dưới dạng tiền, nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của
nền kinh tế vào bao gồm: nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang
thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất. Ở các nước
đang phát triển sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng trưởng kinh tế thường

tế hiện đại người ta dã tìm cách thay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của
tài nguyên và đất đai tromg quá trình tăng trưởng kinh tế, hơn nữa sản phẩm
quốc dân và mức tăng của nó không phụ thuộc nhiều vào dung lượng tài nguyên
thiên nhiên và đất đai. Tuy vậy tài nguyên thiên nhiên và đất đai vẫn là nhân tố
không thể thiếu được của nhiều quá trình sản xuất, nhất là các nước đang phát
triển.
* Công nghệ, kĩ thuật (T): được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng
mạnh đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại. Yếu tố công nghệ kĩ thuật cần
được hiểu đầy đủ theo hai dạng: thứ nhất đó là những thành tựu kiến thức, tức
là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm
về cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kĩ thuật; thứ hai là sự áp
dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao
trình độ phát triển chung của sản xuất. Yếu tố công nghệ hiểu theo nghĩa toàn
diện như thế đã được K.Marx xem như là “chiếc đũa thần tăng thêm sự giàu có
của cải xã hội”.
Hiện nay các mô hình tăng trưởng hiện đại thường không nói đến nhân tố
tài nguyên đất đai với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế, họ cho
rằng đất đai là yếu tố cố định còn tài nguyên thì có xu hướng giảm dần trong
7

quá trình khai thác. Mặc khác, những yếu tố tài nguyên và đất đai được sử dụng
có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất (K). Vì vậy, 3 yếu tố trực tiếp tác
động đến tăng trưởng kinh tế được nhấn mạnh là vốn, lao động và năng xuất
yếu tố tổng hợp (TFP – total factor productivity).
2. Lạm phát
2.1. Khái niệm lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung.
Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng
thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên.
Một nền kinh tế vẫn có thể trải quan lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm

lạm phát trên đây còn có lạm phát ba chữ số. Nhiều người coi các loại lạm phát
này là siêu lạm phát vì nó có tỉ lệ lạm phát rất cao và tốc độ tăng nhanh. Với
siêu lạm phát, những tác động tiêu cực của nó đến đời sống và đến nền kinh tế
trở nên nghiêm trọng: kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng, thu nhập thực tế
của người lao động giảm mạnh.
Về mặt định tính người ta chia lạm phát ra thành:
* Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Lạm phát cân bằng: khi nó tăng tương ứng với thu nhập, do vậy lạm phát
không ảnh hưởng đến đời sống của người lao động.
Lạm phát không cân bằng: Tỉ lệ lạm phát tăng không tương ứng với thu
nhập. Trên thực tế, lạm phát không cân bằng thường hay xảy ra nhất.
* Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán trước: lạm phát xảy ra trong một thời gian tương đối
dài với tỉ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn, ổn định. Do vậy, người ta có thể
dự đoán trước được tỉ lệ lạm phát cho những năm tiếp sau.
9

Lạm phát bất thường: lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó chưa
hề xuất hiện. Do vậy, tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọi người đều chưa
thích nghi được. Lạm phát bất thường gây ra những cú sốc cho nền kinh tế và
sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đương đại.
2.3. Nguyên nhân của lạm phát
* Lạm phát do cầu kéo: khi cầu của người tiêu dùng, doanh nghiệp và
chính phủ về hàng hóa và dịch vụ vượt quá năng lực tạo ra của nền kinh tế.
Thực ra đây cũng là một cách định nghĩa về lạm phát dựa vào nguyên nhân gây
ra lạm phát. Tuy nhiên để cho định nghĩa này có sức thuyết phục thì cần phải
giải thích tại sao chi tiêu lại lớn hơn giá trị sản xuất.
Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về
tiêu dùng và đầu tư. Trong nhiều trường hợp, lạm phát thường bắt nguồn từ sự
gia tăng quá mức trong các chương trình chi tiêu của chính phủ. Khi chính phủ

người tiêu dùng và doanh nghiệp dự kiến nó sẽ tiếp diễn. Các kì vọng về lạm
phát kích thích công nhân đòi hỏi tăng luơng cao hơn. Các nhà quản lỳ kinh
doanh khi dự đoán lạm phát tiếp sẽ đáp ứng yêu cầu của công nhân, bằng cách
đẩy việc tăng chi phí người tiêu dung, họ mua vật liệu và thiết bị ngay bây giờ
chứ không chờ đến tương lai và trả lãi xuất cao hơn vì họ dự kiến sẽ tăng giá
bán hàng hoá của họ. Những người cho vay đòi hỏi lãi xuất cao hơn vì họ dự
đoán tiền bị mất giá khi thanh toán khoản cho vay sau khi giá cả đã tăng. Người
tiêu dùng mua hàng hóa lâu bền đề phòng với giá tương lai cao hơn. Vì thế, một
khi đã xảy ra, lạm phát sẽ tiếp diễn vì mọi người dự đoán nó sẽ tiếp tục.
* Lạm phát do chính trị: khi một quốc gia có tình hình chính trị bất ổn,
các đảng phái chính trị mâu thuẫn về lợi ích kinh tế. Mỗi đảng phái đều có
những biện pháp để tăng cường tiềm lực tài chính của mình, điều này có thể dẫn
11

đến việc làm cho giá cả các mặt hàng tăng lên, thị trường bất ổn và lạm phát sẽ
xảy ra.
2.4. Ảnh hưởng của lạm phát
- Tác dụng của lạm phát: Lạm phát không phải lúc nào cũng xấu cả. Một số nhà
kinh tế lập luận rằng lạm phát có thể thúc đẩy phát triển kinh tế theo những
cách sau:
* Việc tài trợ lạm phát cho phép chính phủ quản lý phần tiền lớn hơn
bằng cách thu hút các nguồn lực từ những lĩnh vực kém ưu tiên.
* Chính phủ có thể sử dụng tín dụng dành cho lạm phát để phân phối lại
thu nhập, từ người ăn lương để tiết kiệm ít đến nhà tư bản có tỷ lệ hình thành
vốn sản xuất cao.
* Các nhà kinh doanh thường được lợi từ lạm phát vì giá sản phẩm có xu
hướng tăng nhanh hơn giá nguyên liệu đầu vào.
* Lạm phát làm giảm lãi xuất thực tế và gánh nặng nợ nần thực tế đối với
việc mở rộng kinh doanh.
* Áp lực lạm phát đẩy nền kinh tế theo hướng đủ việc làm và sử dụng

phát. Lạm phát phân phối lại thu nhập, ít nhất trong những thời kì đầu, từ những
công nhân có thu nhập thấp và những người có nguồn thu nhập cố định tới các
tầng lớp thu nhập cao. Việc phân phối lại này có thể không tăng tiết kiệm, vì
người giàu có thể mua hàng xa xỉ bằng phần thu nhập tăng của họ.
* Lạm phát làm tăng gia hàng trong nước tương ứng với hàng nước
ngoài, làm giảm khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng trong nước và làm giảm
xút cán cân ngoại thương. Lạm phát khuyến khích nhận các dòng vốn nước
ngoài vào vì giá trị thực tế của vốn đầu tư và thu nhập chuyển về nước trong
tương lai bị xói mòn. Sự thâm hụt quốc tế lớn, thường do lạm phát nhanh gây
13

ra, có thể làm tăng gánh nặng nợ nần và hạn chế nhập khẩu những mặt hàng cần
thiết.
3. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát
3.1. Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
Trong quan niệm của nhiều người, lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế vì làm giảm năng suất lao động. Lạm phát bóp méo mức độ
khan hiếm tương đối (phản ánh qua giá cả) của các nguồn lực sản xuất và do đó
bóp méo các quyết định đầu tư và sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm này.
Lạm phát còn làm giảm mức khấu trừ thực tế cho phép trong thuế doanh nghiệp
đối với khấu hao tài sản cố định và làm tăng giá thuê tư bản, do đó làm giảm
tích lũy vốn, dẫn đến giảm năng suất. Hàm lượng thông tin liên quan đến biến
động giá cả giảm đi kể cả trong thời kỳ lạm phát ổn định. Như vậy, các nhà đầu
tư thường có xu hướng mắc lỗi trong quyết định của mình và chọn những “gói”
yếu tố sản xuất không phải là tối ưu, làm giảm hiệu quả kinh tế và, do đó, giảm
năng suất.
Tuy nhiên, không ít người lại lập luận rằng lạm phát ở một mức nhẹ lại có tác
dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, nhà kinh tế học nổi tiếng
Tobin cho rằng lạm phát làm cho nhà đầu tư tái phân bổ danh mục đầu tư của
mình từ tiền sang chứng khoán, làm giảm lãi suất thực tế và do đó làm tăng đầu

và quan trọng nhất là phải chấp nhận tăng trưởng kinh tế bị chậm lại so với mục
tiêu đã đề ra. Tăng trưởng kinh tế chậm lại để tập trung ưu tiên kiềm chế lạm
phát. Một mặt, mục tiêu tăng trưởng kinh tế là vì con người, mà con người lại
vừa là mục tiêu vừa là động lực của tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, kiềm chế
15

lạm phát là để ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường sản suất kinh doanh tốt
hơn, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn.
Kiềm chế lạm phát thì phải thắt chặt tiền tệ. Nhưng đối với những lĩnh vực sản
xuất hàng hoá cho thị trường trong nước để tăng cung hàng hoá cũng như sản
xuất hàng xuất khẩu thì không những không được thắt chặt, mà còn phải được
bảo đảm đủ vốn, thậm chí còn được ưu tiên, vừa để bảo đảm cho sự bền vững
của tín dụng, vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Khi kiềm chế lạm phát được ưu tiên thì phải cắt giảm đầu tư công (từ ngân sách
nhà nước), kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước. Muốn
vậy, một mặt cần chuyển dịch cơ cấu đầu tư, mặt khác cần nâng cao hiệu quả
đầu tư.
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư trong điều kiện hiện nay là chuyển dịch trên các
mặt: tăng nguồn vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước, nguồn vốn đầu tư
nước ngoài để bù cho phần cắt giảm nguồn vốn đầu tư của khu vực nhà nước;
tập trung đầu tư cho những ngành, lĩnh vực tạo ra sản phẩm đang có giá nóng
hoặc trong nước có lợi thế sản xuất, nhưng đã phải nhập khẩu; đầu tư cho thiết
bị kỹ thuật công nghệ tiêu hao ít nguyên nhiên vật liệu.
Nâng cao hiệu quả đầu tư bằng việc tập trung cho những công trình hoàn thành
sớm đưa vào hoạt động, giảm thiểu chi phí và thời gian giải phóng mặt bằng,
giảm thiểu lãng phí, thất thoát
3.3. Mối quan hệ phi tuyến tính giữa tăng trưởng và lạm phát
Tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số
dư là một tứ giác đẹp, tứ giác lý tưởng của mọi quốc gia. Giữa các "đỉnh" của tứ

17

nhưng kém bền vững. Hay còn nói đó là giải pháp tăng trưởng “ bong bóng”.
Xu hướng các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó
là dựa trên cơ sở giá cả ổn định ở mức thấp. Căn cứ biện luận cho giải pháp này
là: Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì tình dự báo được nâng
cao. Điều đó giúp các nhà đầu tư có thể xây dựng được các phương án đầu tư
hiệu quả. Đối với người tiêu dùng thì chi tiêu yên tâm, họ không phải lo cân
nhắc các mặt hàng khác để thay thế do giá tăng. Tất cả điều đó đã góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thưc chất. Hiện nay các nước phát triển chọn mức
lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho tăng trưởng. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng,
lạm phát ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần
cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực,
vốn và công nghệ kỹ thuật
II. Tình hình tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam thời kì hậu WTO
1. Tổng quan nền kinh tế Việt Nam thời kì hậu WTO
Sau gần hai năm gia nhập, WTO đã thực sự đưa nước ta bước vào một kỉ
nguyên của những cơ hội và rủi ro đồng thời tạo động lực cho Việt Nam đẩy
nhanh quá trình cải cách thể chế theo hướng minh bạch, phù hợp với các quy
tắc kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn cho các nhà đầu tư
nước ngoài, nâng cao được năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế và doanh
nghiệp trong nước. Vậy sau hai năm gia nhập chúng ta đã đạt được những thành
tựu gì?
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
WTO và thực hiện cam kết PNTR (Thương mại bình thường vĩnh viễn) với Hoa
Kỳ, do đó thị trường xuất khẩu mở rộng, các rào cản thương mại giữa Việt Nam
với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn chế. Nhờ đó kinh tế cả
nước trong năm 2007 tiếp tục phát triển toàn diện và hầu hết các chỉ tiêu kinh tế
18


hóa chất, phân bón, thức ăn chăn nuôi tăng cao. Thị trường xuất khẩu một số
mặt hàng biến động phức tạp như dệt may, da giày, thủy sản, thủ công mỹ nghệ,
xe đạp và phụ tùng, động cơ điện Điều đó đã làm cho giá cả tiêu dùng trong
nước tăng cao liên tục chưa có điểm dừng. Chỉ số giá tiêu dùng ước tăng 12,4%
so với tháng 12-2006. Đây là tốc độ tăng giá cao nhất trong những năm gần
đây, vượt qua tốc độ tăng GDP và không đạt mục tiêu đề ra. Đầu tư xây dựng
cơ bản không đạt kế hoạch giải ngân vốn ngân sách nhà nước. Chung cả năm,
ước tính không đạt kế hoạch đề ra về nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng
nguồn ngân sách nhà nước thông qua các chương trình, dự án quốc gia. Tiến độ
giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả năm rất chậm. Đến cuối năm 2007, cả
nước mới thực hiện 84,1 nghìn tỉ đồng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt
84,6% kế hoạch năm, lý do là công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, thủ tục
hành chính và nhất là giá cả vật tư như tăng cao khiến nhiều nhà thầu phải
ngưng thực hiện dự án hoặc tiến độ giải ngân chậm. Tốc độ giải ngân vốn ODA
tuy có nhanh hơn, nhưng vẫn chậm so với yêu cầu. Trong 2 năm 2006 - 2007 cả
nước mới giải ngân đươc 3,9 tỉ USD, tương đương 32% tổng vốn ODA dự kiến
giải ngân thời kỳ 2006 - 2010.
Bước vào năm 2008 Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ hơn từ những bất
ổn của kinh tế thế giới, đặc biệt khủng hoảng tài chính kéo theo sự suy giảm của
nhiều nền kinh tế. Thiên tai, dịch bệnh trong nước liên tiếp xảy ra gây thiệt hại
nhiều cho sản xuất và đời sống dân cư. Tuy nhiên, Chính phủ đã tiếp tục chỉ
đạo quyết liệt các cấp, các ngành thực hiện 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội nên kinh tế-xã hội nước
ta 10 tháng năm 2008 vẫn phát triển ổn định, kết quả hoạt động sản xuất cụ thể
của từng ngành và lĩnh vực như sau:
20

Giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2008 ước tính tăng 15,8%
so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng 5,5%
(Trung ương quản lý tăng 7,7%; địa phương quản lý giảm 1,7%); khu vực kinh

trưởng cao, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng, các thể chế, chính sách đã được
minh bạch hóa để phù hợp với các điều luật quốc tế nhưng bên cạnh đó lại nổi
lên hai vấn đề lớn là tình trạng nhập siêu và lạm phát ngày càng gia tăng. Đề có
thể tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng cao, kìm chế lạm phát, đưa đất nước
thoát khỏi ảnh hưởng của cơn suy thoái tài chính đang ngày càng lan rộng trên
thế giới đòi hỏi nhà nước phải tiếp tục có những biện pháp điều tiết mạnh mẽ
hơn, chủ động hơn, hợp lý hơn thì mới có thể bắt kịp nhịp độ phát triển cũng
như tính biến động vô cùng phức tạp của nền kinh tế hiện đại ngày nay.
2. Thực chất của tình hình tăng trưởng ở Việt Nam
Mức độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào các yếu
tố đầu vào và đầu ra. Nghiên cứu về sự đóng góp của các yếu tố đối với tăng
trưởng kinh tế có ý nghĩa về nhiều mặt, không những xác định vị trí của từng
yếu tố để có kế hoạch khai thác, mà còn có ý nghĩa xác định được yếu tố tiềm
ẩn gia tăng lạm phát.
* Tăng trưởng do các yếu tố đầu vào: Tăng trưởng kinh tế xét ở đầu vào,
có ba yếu tố đóng góp. Đó là sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư, đóng
góp của số lượng lao động và đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng
hợp (TFP). Theo tính toán ban đầu, yếu tố số lượng vốn đầu tư đã đóng góp
khoảng 57%, yếu tố số lượng lao động đóng góp khoảng 20%, yếu tố TFP đóng
góp 23%. Từ sự đóng góp như trên, có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý.
22

Một là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng góp của yếu
tố số lượng vốn đầu tư. Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ năm 2004 đến nay đều
đã vượt qua mốc 40% (năm 2004 đạt 40,7%, năm 2005 đạt 40,9%, năm 2006
đạt 41%, ước năm 2007 đạt 40,4%), kế hoạch năm 2008 còn cao hơn, lên đến
42%.
Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỷ lệ trên dưới 44% của Trung
Quốc - một tỷ lệ làm cho tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt cao nhất thế
giới, đã nhiều năm liền tăng hai chữ số, hiện đang giữ kỷ lục thế giới về số năm

Quốc (trong thời kỳ 1961- 1980), 3,7 lần của Indonesia (trong thời kỳ 1981-
1995), 4 lần của Trung Quốc (trong thời kỳ 2001-2006), 4,1 lần của Thái Lan
(trong thời kỳ 1981-1995); cũng cao hơn so với 4,6 lần của Malaysia (trong thời
kỳ 1981-1995).
Điều đó chứng tỏ, hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp
Hiệu quả đầu tư còn được tính theo cách lấy GDP chia cho vốn đầu tư hàng
năm (đều tính theo giá thực tế). Theo cách này, thì GDP/vốn đầu tư (có nghĩa là
1 đồng vốn đầu tư tạo ra được bao nhiêu đồng GDP) của Việt Nam đã bị sút
giảm qua các thời kỳ: nếu thời kỳ 1991-1995 đạt 3,55 đồng/đồng, thì năm 1996-
2000 còn 3,0 đồng/đồng, 2001-2005 còn 2,56 đồng/đồng, 2006-2007 còn 2,46
đồng/đồng.
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế thấp (năm 2007) mới đạt 25.886.000
đồng/người, của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản còn đạt thấp hơn chỉ
có 9.607.000 đồng/người, ngay cả nhóm ngành công nghiệp-xây dựng cao nhất
cũng mới đạt 55.072.000 đồng/người và của nhóm ngành dịch vụ cũng chỉ đạt
38.159.000 đồng/người. (quy ra USD các số liệu tương ứng: khoảng 1.600
USD, 600 USD, 3.438 USD, và 2.385 USD).
24

Các con số trên còn thấp xa so với năng suất lao động chung của thế giới (trên
14.600 USD), còn thấp hơn cả mức bình quân đầu người của thế giới (khoảng
6.500 USD/người). Với năng suất thấp như trên thì giá trị thặng dư còn đang rất
nhỏ nhoi.
Một nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, mà hiệu quả đầu tư thấp,
nhất là hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước còn thấp hơn; năng suất
lao động thấp, nên nhu cầu đối với tiền tệ, yêu cầu cung tiền luôn luôn cao,
tạo sức ép làm tăng lạm phát. Sức ép này cộng hưởng với lạm phát trên thế giới
trong khi đồng Việt Nam được neo giá chặt với USD mà USD lại mất giá lớn so
với các đồng tiền mà Việt Nam có quan hệ buôn bán lớn nhất lại càng tạo ra sưc
ép lạm phát tại Việt Nam lớn hơn các nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status