BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ PHƯƠNG HẠNH
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG NGÔ
NĂNG SUẤT CAO CHỐNG CHỊU BỆNH GỈ SẮT
(Puccinia sp.) CHO VÙNG TÂY NGUYÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Hà Nội - 2015
Hà Nội - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của
các cơ quan, thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS. Bùi Mạnh Cường, thầy
TS. Trần Quang Tấn đã tận tình giúp đỡ, động viên trong lúc khó khăn, truyền đạt
những kiến thức, những kinh nghiệm quí báu trong quá trình tôi làm đề tài và học tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Lãnh đạo Viện Khoa học Nông
nghiệp Việt Nam, Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ Ban Đào tạo sau đại học đã nhiệt
tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Ngô, Phòng Khoa
học và Hợp tác Quốc tế, tập thể cán bộ Bộ môn Công nghệ Sinh học cùng toàn thể
công nhân viên Viện Nghiên cứu Ngô đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo Trường Đại học Tây Nguyên,
Khoa KHTN&CN, quý thầy cô trong Bộ môn SHTN và tập thể quý thầy cô Trường
Đại học Tây Nguyên đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian
tôi học tập và công tác.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, quý cô đã đọc, nhận xét và đưa ra
những ý kiến đóng góp quí báu cho luận án.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và người thân luôn ở
bên chia sẻ, động viên giúp đỡ tôi.
Hà Nội, ngày 9 tháng 4 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Phương Hạnh
ii
LỜI CAM ĐOAN
1.2.3.2 Các phương pháp chọn tạo dòng thuần 10
1.2.3.3 Khả năng kết hợp 13
1.2.3.4 Phương pháp đánh giá khả năng kết hợp 14
1.2.4 Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô lai 15
1.2.4.1 Chỉ thị hình thái 16
1.2.4.2 Chỉ thị hoá sinh 17
1.2.4.3 Chỉ thị phân tử ADN 18
1.2.5 Bệnh gỉ sắt trên cây ngô 20
1.2.5.1 Tác nhân gây bệnh 21
iv
1.2.5.2 Ảnh hưởng của môi trường đến sự lây nhiễm và phát triển bệnh 24
1.2.5.3 Ảnh hưởng của bệnh gỉ sắt đến cây ngô 26
1.2.5.4 Sự thay đổi của tác nhân gây bệnh 27
1.2.5.5 Tính kháng bệnh gỉ sắt của cây ngô 27
1.2.5.6 Kiểm soát bệnh gỉ sắt ở ngô 33
1.2.5.7 Những nghiên cứu chọn tạo giống ngô năng suất cao chống chịu
bệnh gỉ sắt. 34
1.3 NHNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐN ĐỀ TÀI 37
1.3.1 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô ở Việt Nam 37
1.3.2 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô ở Tây nguyên 39
1.3.3 Dòng thuần và đánh giá dòng 42
1.3.4 Đa dạng di truyền và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô lai 44
1.3.4.1 Chỉ thị hình thái 44
1.3.4.2 Chỉ thị phân tử ADN 44
1.3.5 Những nghiên cứu về bệnh gỉ sắt và chọn tạo giống ngô chống chịu
bệnh gỉ sắt 45
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 46
2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 46
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 48
3.3.2.2 Đánh giá khả năng kết hợp về năng suất bằng phương pháp lai
luân phiên 93
3.4 ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU, ƯU
TH LAI CỦA CÁC TỔ HỢP LAI ĐỈNH, LAI LUÂN PHIÊN VÀ CHỌN
LỌC CÁC TỔ HỢP LAI TRIỂN VỌNG 94
3.4.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai
của các tổ hợp lai đỉnh 94
3.4.2 Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng chống chịu, ưu thế lai
của các tổ hợp lai luân phiên 102
vi
3.5 KT QUẢ KHẢO NGHIỆM MỘT SỐ TỔ HỢP LAI CHỐNG CHỊU
BỆNH GỈ ST TRIỂN VỌNG 110
3.5.1 Kết quả khảo nghiệm cơ sở 110
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm trong hệ thống khảo nghiệm quốc gia 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 vii
DANH MỤC CÁC K HIỆU VÀ CH VIẾT TẮT
Vit tt Vit đầy đ
ADN Acide Désoxyribo Nucléique
AFLP Amplified Fragment Length Polymorphism - Đa hình chiều dài
đoạn nhân bản
AMBIONET Asian Maize Biotechnology Network - Mạng lưới công nghệ
sinh học cây ngô châu
AUDPC Area Under Disease Progress Curve- chỉ số tích lũy bệnh
THL Tổ hợp lai
UPGMA Unweighted Pair Group Method with Arithmetic Averages
ƯTL Ưu thế lai
ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô ở Tây Nguyên giai đoạn 2010 - 2013 39
2.1. Danh sách các dòng ngô nghiên cứu 46
2.2. Danh sách 29 mồi SSR 47
2.3. Mức độ nhiễm bệnh của các dòng nghiên cứu 50
2.4. Mức độ hình thành bào tử 51
2.5. Thành phần của một phản ứng PCR 55
2.6. Chu trình nhiệt của phản ứng PCR 56
3.1. Thành phần bệnh hại và mức độ phổ biến trên ngô ở Tây Nguyên 59
3.2. Điều tra mức độ phổ biến của bệnh gỉ sắt (Puccina sp.) trên ngô tại
Tây Nguyên 60
3.3. Điều tra tác hại của bệnh gỉ sắt (Puccina sp.) đến năng suất ngô ở Tây
Nguyên (tạ/ha) 62
3.4. Phản ứng của các dòng ngô đối với bệnh gỉ sắt khi lây nhiễm nhân tạo 65
3.5. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu ngoài đồng ruộng 69
3.6. Thời gian sinh trưởng của các dòng nghiên cứu 72
3.7. Khả năng chống chịu của các dòng nghiên cứu 74
3.8. Một số đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu tại Đan Phượng 76
3.9. Một số đặc điểm hình thái của các dòng nghiên cứu tại Buôn Ma Thuột 77
3.10. Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng nghiên cứu tại
Đan Phượng 79
Tên hình
Trang
1.1. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi 22
1.2. Mặt sau lá me đất (Oxalis) bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia sorghi
(Ổ bào tử xuân -aecial) . 22
1.3. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Puccinia polysora 23
1.4. Mặt trước lá ngô bị nhiễm bệnh gỉ sắt do Physopella zeae 24
3.1. Hình ảnh thí nghiệm nhiễm bệnh nhân tạo. 64
3.2. Lá của các dòng ngô ở 3 mức độ phản ứng với bệnh gỉ sắt sau 30 ngày
lây nhiễm. 66
3.3. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu sau 50 ngày
lây nhiễm. 67
3.4. Khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu sau 80 ngày
gieo trồng ngoài đồng ruộng 70
3.5. Sự biểu hiện tính chống chịu bệnh gỉ sắt của các dòng nghiên cứu 71
3.6. Ảnh cây và bắp của một số dòng nghiên cứu vụ Thu Đông 2009 83
3.7. Điện di sản phm SSR-PCR với mồi umc1153 và phi109188 88
3.8. Sơ đồ hình cây về mối quan hệ di truyền của 30 dòng trên cơ sở phân
tích 29 locus SSR. 91
3.9. Ảnh bắp của một số tổ hợp lai đỉnh và đối chứng 102
3.10. Tổ hợp lai C10N x C4N giai đoạn chín sinh lý 110
3.11. Ảnh của 2 tổ hợp lai triển vọng VN665 và VN667 117
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngô (Zea may L.) được xem là một trong những cây ngũ cốc quan trọng gắn
liền với đời sống và nền văn minh của nhiều dân tộc trên thế giới. Cây ngô nằm
trong nhóm các cây lương thực chính có tốc độ tăng trưởng cao nhất về năng suất
cũng như sản lượng. Năm 2013, diện tích trồng ngô trên thế giới lên đến 184,2 triệu
nước sau đồng bằng sông Cửu Long (5,61 tấn/ha) [20], [138]. Ngô trồng ở Tây
Nguyên, ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho thức ăn chăn nuôi, một phần còn đáp
ứng được nhu cầu lương thực cho đồng bào dân tộc.
Tuy nhiên, các giống ngô ở Tây Nguyên vẫn chưa phát huy được hết tiềm
năng. Các lý do hạn chế tới năng suất như khả năng đầu tư của bà con nông dân
thấp, cơ giới hóa trong sản xuất cũng như công nghệ chế biến còn lạc hậu và quan
trọng nhất là yếu tố chống chịu của các giống ngô. Ngoài yếu tố hạn, yếu tố hạn chế
lớn nhất là khả năng chống chịu bệnh. Trong những năm gần đây, nổi bật nhất là
bệnh gỉ sắt. Khả năng chống chịu bệnh của các giống ngô ở Tây Nguyên còn rất ít,
đặc biệt là bệnh gỉ sắt.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh gỉ sắt trên thế giới cho thấy, bệnh
gỉ sắt gây thiệt hại đáng kể đến cây ngô và làm giảm từ 10 - 70% năng suất và chất
lượng ngô ở nhiều nước trên thế giới [28], [84], [104], [109], [124]. Ở Tây Nguyên,
từ năm 2007 - 2010, Viện Nghiên cứu Ngô đã thống kê sự thất thoát về sản lượng do
bệnh gỉ sắt gây ra hàng năm là từ 15 - 20% ở vụ Hè Thu, 25 - 40% thậm chí có những
vng đến 60% ở vụ Thu Đông [5]. Chính vì vậy, để khai thác hết những tiềm năng,
lợi thế ở Tây Nguyên, cần phải bổ sung thêm những giống ngô có năng suất cao,
chống chịu bệnh gỉ sắt để nâng cao năng suất và sản lượng ngô ở vùng Tây Nguyên.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống ngô
năng suất cao chống chịu bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) cho vùng Tây Nguyên” được
thực hiện.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xây dựng tập đoàn dòng thuần và chọn tạo được một số tổ hợp lai triển vọng
3
năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt, thích hợp với điều kiện sinh thái, tập quán
canh tác ở Tây Nguyên.
3. NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học
Cung cấp thêm các dẫn liệu, thông tin khoa học và khả năng ứng dụng tập
đoàn vật liệu trong công tác chọn tạo giống ngô lai năng suất cao, chống chịu
nhiên và nhân tạo, với đặc tính đa dạng di truyền rộng và khả năng thích nghi với
nhiều loại hình sinh thái, cho đến nay cây ngô được lan truyền và trồng ở hầu khắp
các châu lục trên thế giới với vai trò là một trong những cây ngũ cốc quan trọng của
loài người. Có thể nói ngô là cây ngũ cốc nuôi sống gần 1/3 dân số toàn cầu.
Một vai trò khó thay thế nhất của cây ngô đối với thế giới hiện nay là sử
dụng ngô làm thức ăn chăn nuôi. Giai đoạn 2000 - 2007 đã sử dụng 400 - 450 triệu
tấn chiếm 65% sản lượng ngô toàn thế giới làm thức ăn chăn nuôi [4]. Tỷ lệ dùng
ngô làm thức ăn chăn nuôi ở các nước thuộc châu Âu lên tới 82%, Italia 97,5%,
Croatia 95,5%; Trung Quốc 75,5%, Thái Lan 78% [137]. Ngoài ra, một số nước còn
sử dụng ngô như là một loại thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho gia súc, đặc biệt là
cho bò sữa trong điều kiện mùa rét khắc nghiệt kéo dài [19].
Những năm gần đây, ngô còn là cây thực phm. Bắp ngô bao tử làm rau cao
cấp. Các loại ngô nếp, ngô đường được làm quà ăn tươi hoặc đóng hộp làm thực
phm xuất khu. Ở một số nước Mỹ La Tinh và châu Phi còn sử dụng dạng huyền
phù của bột ngô làm thức uống hàng ngày trong gia đình [19].
Ngô còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượu, cồn, tinh bột, bánh
kẹo, ethanol để chế biến xăng sinh học. Có khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các
ngành lương thực, thực phm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ được chế biến
từ ngô [19]. Ngô đang là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất ethanol thay thế
nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt dần. Năm 2011, nước Mỹ đã sử dụng 45
% sản lượng ngô để sản xuất ethanol [140].
5
Ngô là một loại hàng hóa xuất khu của ngành nông nghiệp. Trên thế giới
hàng năm, lượng xuất nhập khu ngô khoảng 95 - 100 triệu tấn. Đây là một nguồn
lợi lớn của các nước xuất khu. Các nước xuất khu chính là Mỹ, Argentina, Trung
Quốc trong đó ở Mỹ, ngô là nông sản xuất khu hàng đầu. Năm 2012, lượng ngô
xuất khu của Mỹ là gần 45,8 triệu tấn, Argentina 15,8 triệu tấn, Brazil 9,4 triệu tấn,
Ukraina 7,8 triệu tấn, Pháp 6,2 triệu tấn [138].
Mặc dù sản xuất ngô trong nước liên tục tăng trưởng về năng suất và sản
lượng nhưng hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khu một lượng ngô khá lớn nhằm
các giống ngô hiện đang trồng đáp ứng được yêu cầu phát triển ngô của địa
phương còn rất ít. Một số giống ngô chủ lực được phát triển diện rộng bao gồm:
LVN10, CP888, DK999, G49, C919 Đây là những giống dài ngày và trung ngày,
tồn tại lâu trong sản xuất nên đã biểu hiện giảm năng suất do nhiễm bệnh, nhất là
bệnh gỉ sắt. Kết quả điều tra tác hại bệnh gỉ sắt trên các giống ngô trồng phổ biến ở
Tây Nguyên năm 2009 cho thấy, năng suất giảm khoảng từ 10 -20% vụ Hè Thu, 20
- 40%, vụ Thu Đông. Như vậy, bệnh gỉ sắt làm giảm đáng kể năng suất và sản
lượng ngô của vùng Tây Nguyên.
Bệnh gỉ sắt trên ngô cũng rất phổ biến trên thế giới, gây thiệt hại nghiêm
trọng đến cây ngô và làm giảm đáng kể năng xuất ngô (từ 10 - 70%) [28], [30],
[84], [104], [109], [124]. Để hạn chế bệnh gỉ sắt, giảm thiệt hại về năng suất, sản
lượng ngô, biện pháp chọn tạo giống ngô chống chịu bệnh gỉ sắt mang lại hiệu quả và
có nhiều nghiên cứu chọn tạo giống ngô năng suất cao, chống chịu bệnh gỉ sắt đã được
thực hiện chủ yếu theo phương pháp truyền thống [48], [91], [110], [113], [114],
[134], [135]. Những năm gần đây, bằng phương pháp truyền thống kết hợp với công
nghệ sinh học cũng đã xác định được một số giống năng suất cao, chống chịu bệnh
gỉ sắt [71]. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn hạn chế.
Như vậy, những đóng góp của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nói chung,
trong nước cũng như vng Tây Nguyên nói riêng là rất lớn. Tuy nhiên, yếu tố hạn
và bệnh, nhất là bệnh gỉ sắt là yếu tố chính làm giảm năng suất, sản lượng ngô ở các
tỉnh Tây Nguyên. Do đó, rất cần một bộ giống ngô chín sớm, năng suất cao chống
chịu bệnh gỉ sắt để giảm sự thất thoát về mặt sản lượng cho vùng Tây Nguyên.
7
1.2 NHNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.2.1 Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên th giới
Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích sản
lượng đứng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 2013, diện
tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 184,19 triệu ha, năng suất bình quân 5,52 tấn/ha,
sản lượng 1.016,74 triệu tấn. Với lúa mỳ, diện tích 218,46 triệu ha, năng suất bình
quân 3,26 tấn/ha, sản lượng 713,18 triệu tấn. Còn lúa nước, các số liệu tương ứng
lên trên lúa mỳ và lúa nước.
1.2.2 Ưu th lai và ứng dụng ưu th lai trong chọn tạo giống ngô
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học trong đó con lai của hai bố mẹ khác nhau
về di truyền, có sức sống mạnh hơn, sinh trưởng và phát triển nhanh hơn, cho năng
suất và chất lượng cao hơn so với bố mẹ [13].
Ưu thế lai - hiện tượng di truyền mà các nhà nghiên cứu đã lưu ý từ lâu.
Hiện tượng này đầu tiên được nhà thực vật học người Nga gốc Đức I. Koelreuler
(1733 - 1806) mô tả vào năm 1760, khi ông quan sát thấy hiện tượng tăng sức sống
của con lai giữa Nicotinana tabaccum và Nicotinana robusta so với các dạng bố mẹ
của chúng. Sau này, nhiều nhà khoa học khác cũng đề cập đến hiện tượng này. Tuy
nhiên, những vấn đề đầu tiên về ưu thế lai chỉ được Darwin nêu ra sau những
nghiên cứu của ông. Darwin trong tác phm “Tác động của giao phối và tự phối
trong thế giới thực vật” xuất bản năm 1876 (Darwin, 1939), khi nghiên cứu hàng
loạt những cá thể giao phấn và tự phối ở các loài khác nhau, Charles Darwin nhận
thấy các đặc điểm về chiều cao cây, tốc độ nảy mầm của hạt, số quả, sức chống chịu
với những điều kiện bất lợi và năng suất ở các cây giao phấn hơn hẳn so với cây tự
phối. Ông đã giải thích ưu thế lai là do sự khác biệt di truyền của tế bào sinh dục bố
và mẹ [19].
Darwin là người đầu tiên quan sát thấy hiện tượng ưu thế lai ở ngô vào năm
1871 khi ông thấy những cây giao phấn phát triển cao hơn các cây tự phối 20%. Sau
nhiều thí nghiệm ông tổng kết: Sự tự phối thường làm giảm sức sống (có hại) và
9
quá trình giao phấn thường có lợi. Darwin được coi là người đầu tiên đưa ra lý
thuyết về ưu thế lai.
Năm 1880, nhà nghiên cứu người Mỹ, Beal đã áp dụng thực tế ưu thế lai
trong việc tạo ra những giống ngô lai giữa giống. Ông đã thu được những cặp lai
hơn hẳn các giống bố mẹ về năng suất từ 10 - 15% [19].
Nhà khoa học tiên phong trong lnh vực chọn tạo giống ngô lai qui ước là
George Herrison Shull. Năm 1904, Shull tiến hành tự phối cưỡng bức ở ngô để thu
được các dòng thuần. Sau đó ông lai giữa các dòng thuần để tạo ra các giống lai
như sau: Dòng thuần là dòng có kiểu gen đồng hợp tử, có đặc tính di truyền ổn
định qua nhiều thế hệ [37].
Tạo dòng thuần là khâu rất quan trọng của quá trình tạo giống lai. Tổng kết
quá trình phát triển cây ngô ở Mỹ cho thấy sự tăng năng suất ngô trong giai đoạn
1950 - 1990 là do các yếu tố: Chuyển đổi giống, nhu cầu dinh dưỡng đáp ứng tốt
hơn và kỹ thuật canh tác tiến bộ [106]. Trong đó giống là yếu tố đóng góp cho năng
suất quan trọng nhất. Khi so sánh mô hình giống lai cũ với giống lai thế hệ mới
nhiều nghiên cứu thấy rằng, sự sai khác năng suất cá thể là không có ý ngha, các
giống lai mới chịu được mật độ cao, khả năng chống chịu tốt hơn, năng suất ổn định
và đặc biệt là các dòng bố mẹ phải được cải tiến nâng cao năng suất dòng [54].
1.2.3.2 Các phương pháp chọn tạo dòng thuần
Tự thụ phấn cưỡng bức- tự phối: Shull (1909,1910) đã đưa ra việc tự phối để
tạo dòng thuần. Ngô là cây giao phấn, vì vậy cá thể dị hợp và quần thể là dị gen, do
đó nếu tiến hành chọn lọc cá thể thông qua kiểu hình nguồn vật liệu nào đó, không
thể tìm được kiểu gen mong muốn. Để tạo cho vật liệu phân ly giúp quá trình chọn
lọc dễ dàng và chun xác, cần phải tiến hành đồng huyết hóa mà tự thụ phấn là dạng
đồng huyết hóa mạnh nhất. Tự phối gây ra 3 hiện tượng điển hình là: 1) làm giảm sức
sống và năng suất, 2) gây ra sự phân ly kiểu gen, 3) làm tăng độ thuần, trong đó 2 hiện
tượng sau giúp chọn được kiểu gen và làm thuần nó để thu được dòng thuần. Sự chọn
lọc trong quá trình tự phối là khâu quan trọng để có được những dòng ưu tú. Công việc
chọn lọc thường được tiến hành theo mục tiêu tạo giống nhưng có đặc điểm chung bao
11
gồm: Khả năng sinh trưởng và phát triển; khả năng chống chịu các điều kiện bất thuận
(chịu hạn, chống đổ gẫy…), khả năng chống chịu sâu bệnh hại; Trạng thái cây, tán lá;
Trạng thái bắp và các chỉ tiêu cấu thành năng suất. Trong quá trình tạo dòng, chọn lọc
được tiến hành ít nhất vào 3 thời kỳ: Khi ngô mọc, trước và trong thời kỳ ra hoa, khi
thu hoạch. Chọn lọc được tiến hành theo 2 bước: Chọn lọc giữa các gia đình trong một
nguồn vật liệu và chọn lọc cá thể trong gia đình đã chọn [62].
Thụ phấn chị em - cận phối (fullsib, halfsibs): Năm 1974, Stringfield đã đưa ra
phương pháp này thay cho sự thụ phấn để tạo “dòng rộng” nhằm làm giảm mức độ suy
tạo mô sẹo từ noãn ngô chưa thụ tinh, sau đó tái sinh cây từ mô sẹo đã thu được. Ở
mức độ phân tử cho thấy, cây ngô được tái sinh là do tế bào noãn chưa thụ tinh tự
lưỡng bội hóa tạo thành. Sự thành công của kỹ thuật nuôi cấy noãn chưa thụ tinh
phụ thuộc rất lớn vào khả năng sản sinh đơn tính cái đại bào tử (megaspore -
gynogenesis) của các nguồn vật liệu nuôi cấy. Sự phản ứng tạo mô sẹo và khả năng
tái sinh cây phụ thuộc vào kiểu gen (genotypes), điều kiện sinh trưởng, chất liệu của
vật liệu cho noãn và kỹ thuật nuôi cấy nên hiệu quả của quá trình nuôi cấy còn thấp.
Vì vậy, phương pháp này chưa được ứng dụng rộng rãi [4], [90].
Phương pháp tạo dòng đơn bội kép bằng nuôi cấy bao phấn hoặc hạt phấn
tách rời
Phương pháp nuôi cấy bao phấn ngô được thực hiện từ năm 1975 [79]. Cấu
trúc dạng phôi được hình thành từ nuôi cấy hạt phấn tách rời được nghiên cứu vào
cuối những năm 80 đầu năm những năm 90 của thế kỷ 20. Những nghiên cứu hoàn
thiện kỹ thuật nuôi cấy bao phấn và hạt phấn tách rời có vai trò rất lớn trong việc
tạo ra các dòng ngô thuần để tạo giống ngô lai [90]. Sự thành công của kỹ thuật
nuôi cấy bao phấn và hạt phấn tách rời phụ thuộc rất lớn vào khả năng sản sinh đơn
tính đực (androgenesis) của các nguồn vật liệu nuôi cấy. Trong tự nhiên, tần suất
sinh sản đơn tính ở ngô khoảng 1/1.000.000, trong đó sự sinh sản đơn tính đực
1/80.000 [39]. Ngoài ra, tương tự nuôi cấy noãn ngô, sự thành công của kỹ thuật
nuôi cấy bao phấn và hạt phấn tách rời cũng phụ thuộc vào kiểu gen (genotypes),
điều kiện sinh trưởng, chất liệu của vật liệu và kỹ thuật nuôi cấy. Nhiều công trình