A:LỜI MỞ ĐẦU.
Xuất phát từ thực tế của đất nước và sau đổi mới cũng như nắm bắt được xu hướng
đầu tư, phát triển của các nước trên thế giới, từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức đầy đủ hơn vai trò của con người
trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Con người luôn được coi vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng đã ghi rõ: " Con người là trung
tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của chiến lược phát triển". Đồng
thời trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2012 , được thông qua tại Đại
hội Đảng lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: " Phát triển và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá
chất lượng, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công
nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh
quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.". Nguồn lực
con người được coi là nguồn lực quan trọng nhất, qúy báu nhất có vai trò quyết
định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn
hạn hẹp. Nó là một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Bởi vậy, nhóm chúng tôi tập trung nghiên
cứu đề tài: “Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước”
B.NỘI DUNG.
I. Khái niệm công nghiệp hóa - hiện đại hóa và cơ sở lý luan việc phát huy
nguồn nhân lực.
1. Khái niệm công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Theo nghĩa hẹp, CNH được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế trong đó
nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo. Theo
nghĩa rộng , CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp ( hay tiền công
nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công
nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp.
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, HĐH là quá trình chuyển biến từ tính chất
truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến, hiện đại. Về ý nghĩa kinh tế , HĐH được
quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm
Dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực
và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong
đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong
lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu
cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
*Phân loại nguồn nhân lực
Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động ( công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ) đang rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay, nhưng khi chuyển
sang nền kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận công việc nghề nghiệp
của người lao động sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được chia ra lao động
thông tin và lao động phi thông tin. Lao động thông tin được chia làm 2 loại : Lao
động trí thức và lao động dữ liệu ( thư kí, kĩ thuật viên… làm việc chủ yếu với
thông tin đã được mã hóa). Lao động quản lý nằm giữa 2 loại này. Lao động phi
thông tin được chia làm lao động sản xuất hàng hóa và lao động cung cấp dịch vụ.
Lao động phi thông tin dễ được mã hóa và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ. Như
vậy, có thể phân loại lực lượng lao động ra làm 5 loại: lao động trí thức, lao động
quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng
hóa.
*Vai trò nguồn nhân lực
Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vấn
đề quan trọng bậc nhất trong "kết cấu hạ tầng xã hội, kinh tế" tức là một trong
những tiền đề cơ bản để phát triển xã hội, đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nguồn nhân lực đóng vai trò tối quan trọng đối với sự nghiệp CNH vì:
Trước hết các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó
chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, chịu sự tác động của con người. Nếu con người
biết sử dụng, khai thác chúng thì những nguồn lực này mới phát huy được tác
dụng, phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người, tham gia tích cực vào quá trình
CNH. Vì thế trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu
tố quan trọng nhất. Hơn nữa, các nguồn lực khác là có hạn, có thể bị cạn kiệt khi
tinh thần. Muốn đạt được điều ấy, cần phải có những điều kiện tiền đề, thuận lợi,
nhất là trong thời kỳ mà Đảng ta đã xác định “Năm 2020, về căn bản nước ra trở
thành một nước công nghiệp”. Để đạt được mục tiêu ấy, và ngay tại thời đại CNH-
HĐH hiện nay của đất nước ta, đòi hỏi phải có sự cân đối về số lượng, cơ cấu giữa
các ngành cụ thể và trình độ, có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa
học và công nghệ tiên tiến thế giới và khả năng sáng tạo công nghệ mới. Đảng và
Nhà nước ta đã xác định rõ, sự nghiệp CNH-HĐH là của toàn dân, của mọi thành
phần kinh tế, trong đó, lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lý
cũng như đội ngũ công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Chỉ với những điều trên, việc phát huy nguồn nhân lực là hết sức quan
trọng. Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc tới những yếu tố tiên quyết, tác động đến sự
phát triển của nguồn nhân lực.
c. Các nhân tố tác động đến sự phát triển của nguồn nhân lực.
* Đường lối CNH- HĐH của Đảng.
Điều này đã được thể hiện qua nhiều văn bản, luận cương chính trị của Đảng- Bộ
Chính trị, cụ thể:Tùy vào chủ chương chính sách của Đảng vào từng giai đoạn thời
kỳ lịch sử thì có những hướng đi phát triển nguồn nhân lực riêng.
- Nghị quyết IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nêu rõ: Cùng với khoa
học, công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy.
Như vậy, giáo dục là một dạng đầu tư cho sự phát triển vì nó là động lực thúc đẩy
kinh tế phát triển.Sự nghiệp giáo dục đao tạo có tính xã hội hóa cao. Nền giáo dục
và đào tạo tốt sẽ cho chúng ta nguồn nhân lực với đủ sức mạnh, đáp ứng yêu cầu
trước mắt và lâu dài. Do vậy sự nghiệp giáo dục phải là sự nghiệp của toàn Đảng,
toàn dân, đồng thời phải tranh thủ sự hợp tác, ủng hộ của các nước trên thế giới
thông qua việc hợp tác giáo dục.
- Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã quán triệt một trong những quan điểm về công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Động viên toàn dân cần kiệm xây dựng
đất nước, không ngừng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tăng trưởng kinh tế gắn
với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và
chiến lược phát triển nhân lực với các chiến lược phát triển kinh tế. Mối quan hệ
này thể hiện ở chỗ, các chiến lược phát triển kinh tế phải chỉ rất rõ về nhu cầu
nguồn nhân lực (số lượng, kỹ năng cụ thể), và đối với các cơ quan lập chiến lược
phát triển nhân lực phải coi đây là những thông tin đầu vào cơ bản để xây dựng các
chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Và qua đây cũng đã nhắc tới tầm quan trọng
của việc xây dựng chiến lược phát triển một cách dài hạn đối với nước ta.
*Quy hoạch phát triển kinh tế.
Việc chuyển đổi cơ cấu, mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng
nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Xây dựng một môi
trường kinh tế bền vững, mang lợi lợi ích to lớn không chỉ cho mỗi thành phần
kinh tế mà là toàn xã hội. Một nền kinh tế có sự ổn định, người lao động sẽ không
bị nỗi lo thật nghiệp, được đáp ứng nhu cầu học tập và sáng tạo một cách có định
hướng với bàn tay của Nhà nước, nguồn nhân lực sẽ phát huy tối đa hiệu quả lao
động. Sự quy hoạch phát triển sẽ được Chính phủ ban hành thông qua các luật kinh
tế, các chính sách phát triển Công-Nông-Thương-Dịch vụ, cân đối giữa đầu tư cho
các ngành, giảm thiểu sự xô bồ, chạy theo phong trào, đổ xô vào những lợi ích
trước mắt mà quên mất lợi ích lâu dài, hao tổn tiền bạc của xã hội.
3. Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin: Dù
ở thời đại nào, hay hình thái kinh tế - xã hội nào thì con người cũng luôn giữ vai
trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, Đảng
Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời tới nay luôn chăm lo phát triển nguồn nhân lực,
nhất là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trước khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996), tại Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội được thông qua, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “phát huy nhân tố
con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công
làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc
chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Nghị quyết Trung ương 2
khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thể hiện rõ
quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực. Nghị quyết nêu: “Lấy việc phát
huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”(8).
Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng những thế hệ con người thiết tha
gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết xác định: Giáo
dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; Giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng,
của Nhà nước và của toàn dân; Phát triển giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa họ - công nghệ và củng cố quốc phòng,
an ninh; Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo; Giữ vai trò nòng
cốt của nhà trường công lập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đào tạo,
trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý. Phát triển nguồn lực con người một cách
toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ…; Phát triển nguồn nhân lực
phải là sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội bằng nhiều
biện pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là then chốt; Mọi kế hoạch xây dựng, phát
triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối quan hệ không thể tách rời với kế
hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm, niềm vui và
hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng Việt Nam, cho xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực nhiều về số lượng, mạnh về chất lượng.
Những quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã nhanh chóng
được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch hằng
năm và kế hoạch 5 năm nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ nhận thức “đáp ứng yêu cầu về con người và
nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp
điều kiện hiện nay. Để thực hiện chiến lược này, Đại hội XI cũng nêu rõ những
giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đó là: “xây dựng và
hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”; “đổi mới căn bản và toàn diện
nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ
giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; “Xây dựng và thực hiện chiến
lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”.
Có thể thấy rõ những định hướng chiến lược của Đảng về phát triển nguồn nhân
lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Trước hết, gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội.
Chúng ta nhận thức rõ rằng, để có được những con người phát triển toàn diện, đủ
khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước thì việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội để ngày càng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động phải được coi là nhiệm
vụ cấp bách và mang tính quyết định. Vì thế, để có nguồn nhân lực có chất lượng
Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm đồng bộ tới những vấn đề sau:
- Chăm lo đời sống vật chất đi đôi với đời sống tinh thần của người lao động. “Đối
với con người hưởng thụ không thể tách rời với cống hiến, phần cống hiến phải
nhiều hơn phần hưởng thụ, bên cạnh nhu cầu vật chất còn có nhu cầu tinh thần”
Nâng cao đời sống vật chất cho người lao động trước hết thông qua đường lối,
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Điều này được thể
hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (Cương lĩnh 1991): “Chính sách xây dựng đúng đắn vì hạnh phúc con người là
động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội”
- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hôi. Tình
trạng phân hóa giàu nghèo nhanh chóng cùng với việc phát triển kinh tế thị trường
những năm đổi mới đã tạo ra những hệ lụy về mặt xã hội sâu sắc. Giải quyết tình
trạng này phải giữ vững nguyên tắc vừa bảo đảm kích thích sản xuất phát triển vừa
văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và
hiện đại. Đó là quan điểm tạo môi trường lành mạnh cho các giá trị sống của
nguồn nhân lực phát triển. Để có được môi trường đó, trước hết phải coi trọng giáo
dục đạo lý làm người, ý thức, trách nhiệm công dân, tinh thần yêu nước, yêu chủ
nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí
vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước.
Thứ ba, nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công
nghệ. Đảng ta đã chỉ rõ: “Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức,
trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt nam ở nước ngoài” Giải quyết tốt
vấn đề này là tạo được yếu tố nội sinh của nguồn nhân lực, cơ sở bền vững cho
phát triển và hội nhập.
Thứ tư, để có nguồn nhân lực tốt trước hết phải có chiến lược phát triển con
người .Trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Sự nghiệp đổi mới càng đi vào chiều sâu, thành tựu thu được ngày càng to lớn
và được khẳng định. Quan điểm về xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân
lực của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế
được Đảng thể hiện sâu sắc với quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận rộng lớn
của toàn xã hội. Đó là những định hướng để nguồn nhân lực của đất nước phát
triển nhanh, lành mạnh, đúng hướng./.
II. Thực trạng nguồn nhân lực và một số giải pháp phát huy nguồn nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.
1.Thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta.
• Nguồn nhân lực từ nông dân: Nông dân Việt Nam chiếm khoảng hơn 61
triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73% dân số của cả nước. Cả nước có khoảng
113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng nghề,
40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn 100
nước. Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến tích
cực.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác,
Cả nước, tính đến năm 2007, có 262 trường dạy nghề, 599 trung tâm dạy nghề.
Trường trung cấp công nghiệp đến năm 2008 là 275. Theo số liệu mới thống kê
được, tính đến cuối năm 2010, cả nước có 123 trường cao đẳng dạy nghề, 303
trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề; hơn 1.000 cơ sở khác có tham gia
dạy nghề. Dạy nghề trình độ trung cấp từ 75,6 nghìn tăng lên 360 nghìn người; có
khoảng 600 nghề có nhu cầu đào tạo. Đến cuối năm 2010, cả nước có 123 trường
cao đẳng dạy nghề; 303 trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề, hơn 1.000
cơ sở khác có tham gia dạy nghề. Dạy nghề trình độ trung cấp từ 75,6 nghìn tăng
lên 360 nghìn người.
Trong các ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nhân làm
việc trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng 20%
trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các ngành
công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%.
Vì đồng lương còn thấp, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà phải
kiêm thêm nghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ, làm nghề
thủ công, buôn bán thêm, cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người vừa là công
nhân, vừa không phải là công nhân.
Nhìn chung, qua hơn 25 năm đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến tích cực,
tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên từng bước.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, việc làm và đời sống của giai
cấp công nhân ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, sự phát triển của giai cấp
công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năng nghề
nghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề; tác phong công
nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; phần lớn công nhân xuất thân từ
nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống. "Địa vị chính trị của giai cấp
công nhân chưa thể hiện đầy đủ"
1
.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quá trình phát triển kinh tế - xã hội
giới.
Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển. Vào năm học 2007-
2008, cả nước có gần 6 nghìn cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu học, 33
trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy nghề, 72
trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở giáo
dục ngoài công lập.
Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng tăng.
Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6% (năm 2000
là 11,8%), trong đó, tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%, học sinh trung cấp chuyên
nghiệp là 18,2%, học nghề là 31,2%, sinh viên cao đẳng, đại học là 11,8%.
Cả nước có 1.568/3.645 học sinh đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia
trung học phổ thông năm học 2007-2008.
Đầu năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã trình lên Thủ tướng Chính
phủ Việt Nam dự án đào tạo 20 nghìn tiến sĩ trong giai đoạn 2007-2020 ở cả trong
nước và ngoài nước.
Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là 76.200
tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với thực hiện
năm 2007.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức, viên
chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước cũng tăng
nhanh:
Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn người
làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương 12).
Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và hàng
nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và hàng
chục nghìn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công
đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan báo chí, hơn
800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình.
Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39 nghìn
người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là 13.536
hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm đổi mới, kinh tế
đất nước tuy có tăng từ 7,5 đến 8%, nhưng so với kinh tế thế giới thì còn kém xa.
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) và tập đoàn tài chính quốc tế (IFC),
công bố ngày 26-9-2007, kinh tế Việt Nam xếp thứ 91/178 nước được khảo sát.
Có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam:
- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng
mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, chưa được nâng cấp, còn đào tạo
thì chưa đến nơi đến chốn, nhiều người chưa được đào tạo.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng
và chất.
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí
thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có thể đánh giá tổng quát về nhân lực Việt Nam hiện nay là số lượng đông, chất
lượng không đông, thể hiện là tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp, chưa
có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; chưa có những
chuyên gia giỏi; chưa có những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; chưa có những nhà
thuyết trình giỏi; chưa có những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi. Báo chí nước
ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh nhạy trong việc nắm
bắt và tiếp thu cái mới. Tiếc rằng, lại chưa được khai thác đầy đủ, đào tạo chưa bài
bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội Việt Nam.
2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:
- Thứ nhất: mặc dù nền kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh theo hướng CNH-
HĐH nhưng nông nghiệp vẫn là nền kinh tế quan trọng nhất. Tính đến năm 2010,
tỷ trọng nông nghiệp vẫn còn 17%, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm khoảng 50%
và tỷ lệ lao động xã hội chưa qua đào tạo chiếm một tỷ lệ đa số.
Tính chất nông thôn và sự phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp thể hiện ở một tỷ
trọng lớn trong tổng số người có việc làm nằm ở hai nhóm chỉ số về vị thế việc
làm, đó là lao động tự làm và lao động gia đình không được trả công trả lương.
biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng, toàn
dân tộc ta trong giai đoạn phát triển mới là “đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn
diện, phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại”. để triển khai và thực hiện quan điểm trên cần xác định việc nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực vừa là mục tiêu , vừa là động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước, trong đó nâng cao mặt bằng dân trí chính là nền
tảng để phát triển nguồn nhân lực; đào tạo bồi dưỡng nhân lực có trình độ cao và
tăng cường công tác quản lí là nhiệm vụ chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa hiện nay
Các giải pháp cụ thể
a. Đổi mới và nâng cao nhận thức về vai trò của nhân lực đối với phát triển bền
vững đất nước
- Làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực,
biến thách thức về nhân lực (số lượng đông, tay nghề thấp, chưa có tác phong công
nghiệp…) thành lợi thế (chủ yếu qua đào tạo), là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các
cấp lãnh đạo, của nhà trường, của doanh nghiệp và của gia đình cũng như bản thân
mỗi người lao động
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giúp cho mọi người hiểu rõ về các
chính sách phát triển nhân lực
b. Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh của
Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế
• Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề từ Trung ương đến địa
phương
-Tổ chức hợp lý hệ thống cấp bậc đào tạo.
- Quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và mạng lưới các trường
cao đẳng, trường trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề.
+ Đối với mạng lưới trường đại học và cao đẳng, việc phát triển dựa trên nguyên
tắc phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, Bộ,
ngành và ở mỗi vùng; phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành
kinh tế; ưu tiên đầu tư thành lập trường đại học, cao đẳng trên địa bàn miền núi.
- Tăng ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực: Về cơ bản, ngân sách nhà
nước vẫn là nguồn lực chủ yếu đóng góp vào công cuộc phát triển nhân lực quốc
gia đến năm 2020 bên cạnh một số nguồn lực khác.
- Đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển
nhân lực.
+ Huy động vốn từ người dân: Nhà nước có cơ chế, chính sách mạnh để tăng
cường huy động các nguồn vốn của người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển
nhân lực
+Huy động vốn từ các doanh nghiệp và tổ chức: Pháp lý hóa trách nhiệm của
doanh nghiệp đối với sự phát triển của nhân lực Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện
thuận lợi và có cơ chế, chính sách mạnh để khuyến khích các doanh nghiệp trực
tiếp đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp hoặc tăng nguồn kinh
phí của doanh nghiệp cho đào tạo nhân lực.
+ Huy động các nguồn vốn nước ngoài: Tăng cường thu hút các nguồn vốn nước
ngoài và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn ODA, FDI, viện trợ của các tổ chức,
cá nhân nước ngoài để phát triển nhân lực
d. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nhân lực
Mở rộng và tăng cường hợp tác quốc tế thông qua sứ quán các nước tại Việt Nam,
các tổ chức phi chính phủ, các nhà đầu tư nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn
tỉnh nhằm tăng cường hoạt động đào tạo, chuyển giao nhân lực, gửi lao động đi
đào tạo ở nước ngoài và xuất khẩu lao động. Tổ chức cung cấp thông tin, các hoạt
động tuyên truyền, các cuộc hội thảo về du học nước ngoài để học sinh có thêm cơ
hội lựa chọn cho tương lai.
C.KẾT LUẬN:
Trong điều kiện nước ta hiện nay, để chiến lược phát triển kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện địa hóa đi đến thắng lợi, chúng ta phải lấy nguồn lực con
người Việt Nam- nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực để phát triển lâu
bền. Để bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người Việt Nam, chúng ta cần phải
tạo ra mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với tiến bộ xã hội để
nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần.