MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại và
phát triển, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến việc tăng cường hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt là nâng cao hoạt động quản trị tài chính.
Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, phân tích báo cáo tài
chính được coi là công cụ đắc lực lực giúp doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về
thực trạng hoạt động tài chính, đồng thời dự báo được tiềm năng tài chính trong
tương lai, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân cũng như giải pháp hữu hiệu
để ổn định và củng cố hoạt động tài chính của công ty. Kết quả của công tác phân
tích báo cáo tài chính chính xác, kịp thời và khoa học sẽ là cơ sở quan trọng để
doanh nghiệp đưa ra các quyết định có tính chiến lược trong kinh doanh nhằm đạt
được hiệu quả cao nhất.
Sản xuất xi măng là một ngành kinh tế quan trọng, đã có những đóng góp
đáng kể cho nền kinh tế nước nhà. Với vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn và rất
nhạy cảm với sự thay đổi của nền kinh tế trong nước cũng như thế giới, đứng trước
những biến động về kinh tế và áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, để tiếp tục đứng
vững, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, các doanh nghiệp sản xuất xi măng nói
chung và công ty cổ phần Xi măng Cẩm Phả nói riêng cần phải tăng cường công tác
quản lý tài chính. Trong đó việc hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại
Công ty Cổ phần Xi măng Cẩm Phả được xem là việc làm cần thiết đảm bảo cho sự
phát triển bền vững lâu dài của công ty.
Tuy nhiên trên thực tế, công tác phân tích báo cáo tài chính vẫn chưa được
quan tâm thích đáng trong quá trình quản lý tại công ty Xi măng Cẩm Phả.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi xin chọn đề tài luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện
công tác phân tích báo cáo tài chính tại Công ty cổ phần Xi măng Cẩm Phả”
2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
Các vấn đề về phân tích tài chính nói chung và phân tích báo cáo tài chính
nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm, đề cập đến trong các sách báo, tạp chí,
công trình nghiên cứu. Các công trình chuyên về phân tích báo cáo tài chính đã đề
1
với công ty CP Xi măng Cẩm Phả. Ngoài ra, với thời điểm kinh tế gặp nhiều khó
khăn trong thời gian qua và dự kiến sẽ tiếp tục khó khăn trong thời gian tới đã đặt ra
nhiều thách thức và yêu cầu cạnh tranh gay gắt hơn, phức tạp hơn. Vì vậy, nghiên
2
cứu này hoàn toàn không trùng lắp với các công trình nghiên cứu đã được triển khai
từ trước đến nay. Việc nghiên cứu có thể cho phép nhận dạng rõ hơn bối cảnh,
thách thức và các vấn đề mới chưa được đề cập.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tổng hợp và hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về phân tích báo cáo tài
chính doanh nghiệp
- Xem xét và đánh giá thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính của
Công ty CP Xi măng Cẩm Phả
- Đề ra các quan điểm và phương hướng nhằm hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu,
phương pháp phân tích báo cáo tài chính phù hợp với đặc điểm cũng như tình hình
sản xuất kinh doanh của công ty CP Xi măng Cẩm Phả
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động phân
tích báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần xi
măng Cẩm Phả nói riêng. Luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu nội dung phân tích, hệ
thống các chỉ tiêu, phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại công ty CP Xi măng
Cẩm Phả…
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác phân tích báo
cáo tài chính áp dụng cho công ty cổ phần xi măng Cẩm Phả qua các giai đoạn phát
triển từ trước đến nay
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh…
- Số liệu được trình bày trong luận văn được thu thập từ hai nguồn sơ cấp và
thứ cấp:
Số liệu thứ cấp thu thập từ các nguồn báo chí, internet, tài liệu nội bộ như: Báo
cáo tài chính, báo cáo phân tích giá thành,chi phí của công ty CP Xi măng Cẩm Phả…
Đặc thù ngành, DNMôi trường kinh doanh
Quá trình hoạt động SXKD của Doanh nghiệp
Các phương pháp và
chính sách kế toán
BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
BÁO CÁO
PHÂN TÍCH
NHÀ QUẢN TRỊ
KẾ HOẠCH
TÀI CHÍNH
Nội dung, phương pháp, hệ
thổng chỉ tiêu, tổ chức phân tích
BCTC
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1. Bản chất và vai trò của báo cáo tài chính
Kế toán có thể xem như một quy trình công nghệ về thu thập, phản ánh, xử
lý, kiểm tra, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin mà sản phẩm hoàn thành của
quy trình công nghệ này chính là các báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính được
lập trong giai đoạn cuối của quy trình trên có nhiệm vụ tổng hợp toàn bộ các thông
tin kinh tế- tài chính từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị hoạch toán trong
một thời kỳ nhất định.
Như vậy, báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán tài chính, tổng hợp và
phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản và nguồn vốn của một
doanh nghiệp tại một thời điểm; tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh; tình
hình và kết quả lưu chuyển tiền tệ; tình hình vận động sử dụng vốn của một doanh
Thông tin phi tài chính
Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính
Báo cáo quản trị nội bộ
Báo cáo quản trị nội bộ
Người ra quyết định
bên ngoài
Người ra quyết định
bên ngoài
Người ra quyết định
bên trong
Người ra quyết định
bên trong
tượng bên ngoài doanh nghiệp cân nhắc và đưa ra các quyết định quan trọng phù
hợp với mục tiêu của mình.
1.1.1.2. Các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh tế, thu
hút sự quan tâm của nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Mỗi đối tượng quan tâm
đến báo cáo tài chính trên một giác độ khác nhau, với một mục đích sử dụng khác
nhau song nhìn chung đều nhằm có được những thông tin cần thiết cho việc ra các
quyết định phù hợp với mục tiêu riêng của mình.
Xét trong mối quan hệ kinh doanh với đơn vị kế toán, có thể chia các đối
tượng sử dụng báo cáo tài chính thành 2 nhóm: nhóm đối tượng ra quyết định bên
trong đơn vị và nhóm đối tượng ra quyết định bên ngoài đơn vị.
Nhóm đối tượng ra quyết định bên trong đơn vị chính là các nhà quản trị
doanh nghiệp, những người mà quyết định của họ có liên quan trực tiếp tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với nhóm đối tượng này, báo cáo tài
chính có vai trò cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và có tính dự báo để từ đó các
nhà quản trị có thể đánh giá một cách đúng đắn và toàn diện hoạt động kinh doanh
mà mình đang quản lý, hiệu quả thực tế trong công tác điều hành, khả năng hoàn
phân tích tài chính hay các nhà đầu tư lớn, do trình độ kế toán tài chính cao, mặt
khác lại được sự hỗ trợ của các phần mềm công nghệ nên họ thường xem xét các
báo cáo tài chính rất kỹ lưỡng và thận trọng.
Do có sự khác biệt về mục đích sử dụng, cách thức sử dụng các báo cáo tài
chính cũng như trình độ của các đối tượng khác nhau, vì vậy khi xây dựng hệ thống
báo cáo tài chính cho doanh nghiệp hay trong quá trình lập các báo cáo cụ thể cho
từng kỳ kế toán, kế toán doanh nghiệp cần nghiên cứu đầy đủ về các đối tượng sử
dụng nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin cho các đối tượng quan tâm.
1.1.1.3. Hệ thống các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
Phân loại báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính có nhiều loại khác nhau, mỗi loại báo cáo có thể được lập
dựa trên các số liệu và phạm vi khác nhau, đối tượng và đặc điểm pháp lý của từng
loại báo cáo cũng khác nhau. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp có thể được
phân loại theo các tiêu thức sau:
8
Theo nội dung kinh tế, báo cáo tài chính bao gồm 4 loại sau:
- Bảng cân đối kế toán: phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của
doanh nghiệp
- Báo cáo kết quả kinh doanh: phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phản ánh thông tin về các luồng tiền vào và
luồng tiền ra của doanh nghiệp
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính: giải thích, bổ sung các thông tin đã được
trình bày hoặc chưa được trình bày trên các báo cáo tài chính khác về tình hình tài
chính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo mức độ của thông tin trên báo cáo, báo cáo tài chính bao gồm 2
loại :
- Báo cáo tài chính dạng đầy đủ: phản ánh chi tiết về tình hình tài chính và sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống báo cáo tài chính dạng đầy đủ là cơ sở
dữ liệu quan trọng phục vụ cho hoạt động kiểm tra và phân tích tài chính doanh
hạn gửi, nơi gửi…
- Báo cáo tài chính hướng dẫn: là báo cáo được lập theo nhu cầu thông tin của
nhà quản lý, không mang tính chất bắt buộc.
Theo phạm vi thông tin phản ánh, báo cáo tài chính được chia làm 2
loại:
- Báo cáo tài chính doanh nghiệp độc lập: là báo cáo được lập cho từng doanh
nghiệp, đơn vị riêng lẻ, phản ánh tình hình tài chính của một thực thể kinh doanh
riêng biệt, không bao gồm các đơn vị kinh doanh phụ thuộc.
- Báo cáo tài chính hợp nhất: là báo cáo tài chính được lập cho một tập đoàn
hoặc các tổng công ty, các trường hợp hợp nhất hoặc sát nhập. Báo cáo tài chính
hợp nhất được lập trên cơ sở hợp nhất các báo cáo của công ty mẹ với các đơn vị
thành viên trực thuộc.
Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp
Theo quyết định số 167/ 2000/ QĐ-BTC ngày 25/10/2000 và sửa đổi bổ
sung theo thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài
Chính hiện có 4 biểu mẫu BCTC quy định cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi
lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế như sau:
- Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B 01 – DN)
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B 02 – DN)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B 03 – DN)
- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B 09 – DN)
10
Mỗi báo cáo tài chính phản ánh các nghiệp vụ, sự kiện kinh tế ở các phạm vi
và góc độ khác nhau, do vậy giữa chúng có sự tương hỗ lẫn nhau trong việc thể hiện
tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Không có báo
cáo tài chính nào chỉ phục vụ cho một mục đích hoặc có thể cung cấp mọi thông tin
cần thiết làm thoả mãn mọi nhu cầu sử dụng. Điều này nói lên tính hệ thống của báo
cáo tài chính trong việc cung cấp thông tin cho người sử dụng.
Nội dung, phương pháp tính toán, hình thức trình bày trong từng báo cáo tài
chính quy định trong chế độ này được áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp.
- Mối quan hệ chủ yếu giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán được thể
hiện qua đẳng thức sau:
• Tài sản = Nguồn vốn = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
• Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả
• Vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Bản chất và mục đích của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng
quát về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác trong một
kỳ kế toán của doanh nghiệp, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước
về thuế và các khoản phải nộp khác.
Số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh cho phép người sử dụng đánh giá
một cách khái quát về khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Nó
cho biết quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã mang lại lợi
nhuận hay gây ra tình trạng lỗ vốn, đồng thời thấy được xu hướng phát triển của
doanh nghiệp…
Các yếu tố cơ bản của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
- Doanh thu
- Trừ Giá vốn hàng bán
- Lãi gộp
- Chi phí kinh doanh
• Chi phí bán hàng
• Chi phí quản lý
- Cộng chi phí kinh doanh
- Lãi từ hoạt động kinh doanh
- Lợi tức và chi phí không kinh doanh
- Lãi (lỗ) trước thuế
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Lãi ròng
Nội dung và kết cấu của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo
cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết.
Nội dung của Thuyết minh báo cáo tài chính:
Thuyết minh báo cáo tài chính thường gồm những nội dung chính sau:
- Trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp,
- Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
- Tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn
13
quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu
- Các kiến nghị của doanh nghiệp.
- Ngoài ra nó có thể giải thích chi tiết về tình hình và kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, phương hướng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới của doanh nghiệp
1.1.2. Phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính là một chủ đề được rất nhiều nhà khoa học quan
tâm và nghiên cứu, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra, tuy khác nhau về hình
thức nhưng nhìn chung đều có chung một bản chất. Theo đó, có thể xem phân tích
báo cáo tài chính như là một nghệ thuật về phân tích và giải thích các báo cáo tài
chính, đó là nghệ thuật xử lý các số liệu có trong báo cáo tài chính thành những
thông tin hữu ích cho việc ra quyết định.
Phân tích báo cáo tài chính cũng có thể xem là một quá trình kết hợp của
cùng một lúc nhiều nghiệp vụ khác nhau như kiểm tra, xem xét, đối chiếu, so
sánh…các số liệu có trong báo cáo tài chính, trên cơ sở đó đánh giá được vị thế,
tình trạng và "sức khỏe” tài chính của doanh nghiệp, đồng thời dự báo được xu
hướng phát triển của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp
với mục tiêu của từng đối tượng.
1.1.2.2. Vai trò của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết, mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong
thể tác động liên hoàn với nhau. Bởi vậy, chỉ có thể phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp mới đánh giá được đầy đủ và sâu sắc mọi hoạt động kinh tế trong
nhuận và khả năng trả nợ vì vậy họ cần thông tin để kiểm soát và chỉ đạo tình hình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, các nhà quản lý doanh nghiệp
thường quan tâm đến mọi khía cạnh về tài chính doanh nghiệp và dựa trên cơ sở các
hoạt động phân tích tài chính để đưa ra các quyết định vì lợi ích các cổ đông của
doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính là cơ sở dữ liệu quan trọng nhất để các
nhà quản lý đạt được các mục tiêu tài chính như: cân bằng tài chính, tránh được sự
căng thẳng về tài chính, đồng thời đánh giá được khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, các rủi ro về tài chính cũng như dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và
mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó giúp họ định
hướng cho các quyết định về đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần, lập kế hoạch,
dự toán ngân sách và xây dựng các chiến lược tài chính, chiến lược kinh doanh cho
15
doanh nghiệp.
- Đối với các nhà đầu tư:
Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý
sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro. Họ là những cổ đông, các cá nhân, các
đơn vị hoặc doanh nghiệp khác… Mối quan tâm hàng đầu của nhóm đối tượng này
là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều
kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng
của các doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính giúp họ nhận biết được khả năng
tài chính, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro… để cân nhắc, lựa
chọn và đưa ra các quyết định hợp lý.
- Đối với các nhà cung cấp tín dụng:
Các nhà cung cấp tín dụng là những người cho doanh nghiệp vay vốn để đáp
ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm cả cho vay ngắn hạn và cho
vay dài hạn. Khi cho vay họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả nợ vay, thu nhập
của họ chính là lãi suất tiền cho vay. Do vậy, mối quan tâm hàng đầu của đối tượng
này chính là khả năng doanh nghiệp hoàn trả các khoản nợ. Tuy nhiên, chủ nợ ngắn
hạn và dài hạn lại có những lưu tâm và cách thức phân tích báo cáo tài chính khác
nhau. Các chủ nợ ngắn hạn đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của
doanh nghiệp. Lợi ích của nhóm người này trong doanh nghiệp được thể hiện dưới
dạng tiền lương, thưởng, bảo hiểm, phúc lợi và chịu tác động trực tiếp bởi kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra trong một số doanh
nghiệp, người lao động còn được tham gia góp vốn mua một lượng cổ phần nhất
định và có thu nhập từ lợi tức được chia. Như vậy, họ cũng là những người chủ
doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp. Phân tích báo
cáo tài chính giúp họ định hướng ổn định việc làm và yên tâm dốc sức vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân công.
Như vậy, có thể thấy phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là công cụ
cung cấp thông tin hữu ích, giúp cho người sử dụng thông tin từ các góc độ khác
nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết
hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa
ra được những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
17
Sơ đồ 1.2: Vai trò của phân tích BCTC trong việc ra quyết định
1.1.2.3. Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Mục tiêu chung và tổng quát của mọi đối tượng khi phân tích báo cáo tài
chính doanh nghiệp là cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc ra các quyết định hợp lý. Với
ý nghĩa như vậy, nhiệm vụ của phân tích báo cáo tài chính là phải cung cấp những
thông tin chính xác về mọi mặt tài chính của doanh nghiệp bao gồm:
- Đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt khác
nhau bao gồm: cơ cấu nguồn vốn, đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh, quản lý và
phân phối vốn, hiệu quả sử dụng từng loại vốn trong quá trình kinh doanh và kết
quả tài chính của hoạt động kinh doanh, tình hình thanh toán, khả năng sinh lời,
mức độ rủi ro…
- Định hướng các quyết định của các đối tượng quan tâm theo chiều hướng
phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định về đầu tư, quyết
định về tài trợ, quyết định về phân phối lợi nhuận
Quyết định tài chính
Quản lý
Đầu tư
Tài trợ
Quản lý
Đầu tư
Tài trợ
- Tính toán và xác định mức độ có thể lượng hoá của các nhân tố ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp có
hiệu quả để khắc phục những yếu kém và khai thác triệt để những năng lực tiềm
tàng của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Trở thành cơ sở hợp lý cho các dự báo tài chính trong tương lai, đưa ra
những đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty
- Là công cụ kiểm soát các hoạt động quản lý trên cơ sở kiểm tra, đánh giá,
so sánh các chỉ tiêu đạt được so với các chỉ tiêu kế hoạch, dự toán, định mức…Từ
đó đánh giá được các điểm mạnh, điểm yếu, đưa ra được những quyết định và giải
pháp đúng đắn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
1.2. Tổ chức công tác phân tích báo cáo tài chính
Tổ chức công tác phân tích báo cáo tài chính bao gồm các công việc cơ bản
là xây dựng quy trình phân tích và tổ chức bộ máy phân tích. Các công việc này cụ
thể như sau:
Xây dựng quy trình phân tích báo cáo tài chính phù hợp:
Quy trình phân tích báo cáo tài chính là một quá trình thiết lập các công việc
cụ thể trong khi thực hiện phân tích báo cáo tài chính bao gồm từ việc lập kế hoạch,
triển khai và tổng kết để đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm
đưa ra những thông tin đáp ứng nhu cầu ra quyết đinh của các đối tượng quan tâm.
Như vậy, tùy theo đặc điểm kinh doanh, ngành nghề mà mỗi doanh nghiệp
có thể lựa chọn và xây dựng cho mình một quy trình phân tích riêng, tuy nhiên nhìn
chung quy trình phân tích báo cáo tài chính thường bao gồm những giai đoạn sau:
- Giai đoạn lập kế hoạch phân tích: Đây là giai đoạn khởi đầu của quá trình
chọn lọc để minh họa. Việc đánh giá cùng với số liệu minh họa cần nêu rõ thực
trạng, điểm mạnh, điểm yếu cùng nguyên nhân và phương hướng, biện pháp phấn
đấu trong thời gian tới.
Tổ chức bộ máy thực hiện phân tích
Con người là nhân tố quan trọng đóng vai trò quyết định đối với bất cứ hoạt
động kinh tế xã hội nào, cũng như vậy yếu tố nhân sự sẽ có ảnh hưởng to lớn đến
chất lượng của công tác phân tích báo cáo tài chính. Để đảm bảo cho công tác phân
tích báo cáo tài chính đạt được hiệu quả cao, cần thiết phải xây dựng một bộ phận
phân tích báo cáo tài chính riêng biệt, phù hợp với quy mô và đặc điểm của doanh
nghiệp. Tùy thuộc vào doanh nghiệp đó là doanh nghiệp nhỏ, vừa hay doanh nghiệp
lớn mà xác định số lượng cán bộ phân tích phù hợp đáp ứng được yêu cầu của công
tác phân tích. Cán bộ phân tích phải là những người có trình độ cao và có kinh
20
nghiệm thực tiễn để có thể dự báo và nắm bắt được những diễn biến của thị
trường…Ngoài ra, cũng cần quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận,
cá nhân trong quá trình lập, công bố thông tin và phân tích thông tin trên các báo
cáo tài chính…
1.3. Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính là tổng hợp các cách thức và công
cụ được sử dụng trong quá trình phân tích nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện,
hiện tượng, các chỉ tiêu, các mối quan hệ, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài
chính nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu trên
báo cáo tài chính.
Để phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng một hay tổng hợp nhiều
phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích báo cáo tài chính
doanh nghiệp, tùy vào mục đích phân tích, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề sản
xuất, tài liệu phân tích…để lựa chọn phương pháp thích hợp. Trong đó, những
phương pháp phổ biến là: Phương pháp so sánh, phương pháp tỉ lệ, phương pháp
liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp chi tiết, phương
pháp loại trừ, phương pháp đồ thị…
So sánh bằng số tuyệt đối: thể hiện bằng kết quả chênh lệch giữa số liệu kỳ
thực hiện với số liệu kỳ gốc. Kết quả so sánh tuyệt đối phản ánh sự biến động về
quy mô của đối tượng phân tích.
So sánh bằng số tương đối: thể hiện bằng tỷ lệ giữa số liệu kỳ phân tích với
số liệu kỳ gốc. Kết quả so sánh tương đối phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ
phát triển và xu hướng biến động của đối tượng phân tích.
So sánh bằng số bình quân ngành: so sánh bằng số bình quân ngành sẽ cho
thấy mức độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành,
của khu vực, qua đó xác định được vị trí hiện tại của doanh nghiệp.
Do có thể vận dụng theo nhiều hướng khác nhau, với nhiều chỉ tiêu khác
nhau, đồng thời dễ dàng liên kết với các phương pháp phân tích khác nên phương
pháp so sánh được áp dụng rất rộng rãi, phù hợp với hầu hết các doanh nghiệp và
đáp ứng được nhu cầu cho nhiều đối tượng sử dụng thông tin.
Phương pháp chi tiết hóa
Thông thường, khi nghiên cứu một đại lượng tài chính doanh nghiệp, người
phân tích sẽ dựa trên một số chỉ tiêu tổng quát. Tuy nhiên, trong trường hợp đối
tượng nghiên cứu khá phức tạp, để hiểu rõ được bản chất và xu hướng vận động của
22
đại lượng đó thì người phân tích không chỉ nghiên cứu tổng quát mà còn phải tiến
hành phân chia nhỏ đối tượng để nghiên cứu kỹ hơn. Các chỉ tiêu phân tích sẽ được
chi tiết hóa theo các hướng khác nhau tùy vào đối tượng và mục tiêu phân tích.
Thông thường, các chỉ tiêu sẽ được chi tiết hóa theo các tiêu thức sau:
- Theo yếu tố cấu thành
- Theo thời gian
- Theo địa điểm
Chi tiết hóa giúp cho kết quả phân tích được chính xác và đa dạng, mang lại
cái nhìn toàn diện hơn về đối tượng phân tích. Tuy nhiên, vận dụng phương pháp
chi tiết hóa cũng đồng nghĩa với khối lượng công tác phân tích lớn hơn, thời gian và
chi phí phân tích báo cáo cũng tăng lên đáng kể. Do vậy, chủ thể phân tích cần căn
cứ vào mục đích, yêu cầu phân tích và đặc điểm của chỉ tiêu mà vận dụng phương
kỳ gốc của nhân tố đó (thực chất là thay thế liên hoàn rút gọn áp dụng trong trường
hợp chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích có quan hệ tích số với các nhân tố ảnh
hưởng).
- Phương pháp cân đối:
Đây là phương pháp được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố tới chỉ tiêu phản ánh đối tượng phân tích nếu chỉ tiêu phản ánh đối tượng
phân tích có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổng số hoặc hiệu số. Bằng
phương pháp cân đối, người ta xác định được mức ảnh hưởng của nhân tố tới chỉ
tiêu phản ánh đối tượng phân tích thông qua số chênh lệch giữa kỳ phân tích với kỳ
gốc của nhân tố ấy.
1.3.3. Phương pháp tỉ lệ
Đây là phương pháp truyền thống được áp dụng khá phổ biến và là kỹ thuật
phân tích căn bản và quan trọng nhất của phân tích báo cáo tài chính. Phương pháp
này được sử dụng để nghiên cứu các chỉ tiêu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu
khác. Bản chất của phương pháp này là dựa trên việc phân tích ý nghĩa của các tỷ lệ
giữa một khoản mục nhất định trên báo cáo tài chính với một hoặc nhiều khoản mục
khác trong mối quan hệ tài chính doanh nghiệp.
Cùng với phương pháp so sánh, Phương pháp phân tích tỉ lệ này có tính hiện
thực rất cao, bởi vì nó giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số liệu và phân
tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng
giai đoạn, đo lường và đánh giá chính xác được hoạt động tài chính của công ty.
Trong phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, các tỷ số tài chính được chia
làm nhiều loại khác nhau tùy theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể:
Dựa vào cách thức sử dụng số liệu để xác định, tỷ số tài chính đươc chia làm
24
3 loại:
- Tỷ số tài chính được xác định từ bảng cân đối tài sản
- Tỷ số tài chính từ báo cáo thu nhập
- Tỷ số tài chính từ cả hai báo cáo trên
Dựa vào mục tiêu phân tích, các tỷ số tài chính có thể chia thành:
25