Mở cửa thị trờng dịch vụ
Pierre Sauvé
1
Tóm tắt
Mặc dù các Thành viên WTO đã không thể khởi động một vòng đàm phán mới tại Hội
nghị Bộ trởng lần thứ 3 tổ chức tại Seattle vào cuối năm 1999, các cuộc đàm phán tiếp
theo theo Hiệp đinh chung về Thơng mại Dịch vụ (GATS) đã chính thức đợc bắt đầu vào
1/1/2000, nh đợc đề ra trong lịch trình định sẵn của Vòng Uruguay. GATS là một
trong số những kết quả quan trọng nhất của nền ngoại giao thơng mại đa phơng vào cuối
thế kỷ 20, nhng nó cũng là trung tâm tranh luận về chính sách thơng mại khi một thiên
niên kỷ mới bắt đầu. Khi mà các cuộc đàm phán về dịch vụ đã tiến triển, GATS trở thành
tiêu điểm chỉ trích của các nhóm xã hội văn minh đại diện cho nhiều quyền lợi. Những lập
luận chống lại GATS chủ yếu quan tâm tới sự đe doạ mà hiệp định này bị coi là tạo ra đối
với chủ quyền quốc gia trong các hoạt động điều tiết sản xuất, bán, phân phối hoặc nhập
khẩu dịch vụ. Trong khi rất nhiều tuyên bố đợc đa ra căn cứ vào sự hiệu nhầm về
phơng thức của hiệp định thì những lo ngại về GATS, tác động của hiệp định tới các dịch
vụ công cộng, ảnh hởng của nó tới chủ quyền quốc gia và khả năng của các chính phủ
trong việc điều tiết là có thật và cần đợc làm rõ. Các cuộc đàm phán của GATS cung cấp
một cơ hội trong tầm tay cho các chính phủ để cung cấp thông tin cho các cử tri của mình
về Hiệp định và tác động của nói tới các mục tiêu kinh tế và xã hội quốc gia. Tuy nhiên để
để đạt đợc một mục đích hữu ích, thảo luận về chính sách công cộng cần dựa vào thực tế
chứ không phảI dựa vào những nhận thức sai lầm.
Tài liệu này tóm tắt những phát hiện chính trong các công trình nghiên cứu về các lợi ích
của việc mở cửa thị trờng dịch vụ đang đợc OECD tiến hành. Tài liệu này có ba mục
đích. Thứ nhất, nó nhắc lại những lý do kinh tế làm nền tảng cho các cải cách ngành dịch
vụ và lý do chính sách cho việc theo đuổi mở cửa thị trờng dịch vụ thông qua tự do hóa
thơng mại và đầu t. Thứ hai, nó giải đáp những lo ngại về tác động của GATS thông qua
giải thích việc vận dụng Hiệp định, các nghĩa vụ mà các Thành viên WTO thực hiện và các
lựa chọn chính sách mà các nớc này có khi thực hiện các nghĩa vụ này. Thứ ba, tài liệu
chỉ ra một số thách thức đàm phán chính tại vòng đàm phán hiện tại của GATS.
$6 $11 $16 $21 $26 $31 $36
30%
PORTUGAL
KOREA
R
2
= 0.64
LUXEM-
BOURG
MEXICO
POLAND
CZECH
REPUBLIC
GREECE
NEW
ZEALAND
IRELAND
FINLAND
Hệ số tơng quan = 0.80
Mặc dù các nớc OECD chiếm đa số trong thơng mại và đầu t toàn cầu, các nớc đang
phát triển thờng chuyên sâu -và phụ thuộc vào- xuất khẩu dịch vụ nh là những nguồn thu
2
ngoại tệ. Trong khi trớc đây thơng mại dịch vụ giữa các nớc công nghiệp chiếm tỷ
trọng cao hơn tỷ trọng thơng mại dịch vụ giữa các nớc đang phát triển, nhng hiện nay
khoảng cách này đã gần nh biến mất (xem hình 2). Các nớc đang phát triển ngày nay là
1990
1995
2000
OECD Countries
Rest of World
0
5
10
15
20
25
Percent
OECD Countries Rest of World
Nguồn: Tính toán theo dữ liệu của Tổ chức Thơng mại Thế giới.
Tầm quan trọng của chính sách trong ngành dịch vụ không chỉ giới hạn ở bản thân ngành
dịch vụ. Các dịch vụ là đầu vào quan trọng cho việc sản xuất của hầu nh tất cả các loại
hàng hóa và dịch vụ khác, và các nhà sản xuấtphụ thuộc vào dịch vụ để phân phối sản
phẩm của mình tới tay ngời sử dụng cuối cùng. Do giá cả và chất lợng của dịch vụ sẵn
có trong một nền kinh tế có những tác động lớn tới tất cả các lĩnh vực nên chính sách trong
lĩnh vực dịch vụ và những cải cách nhằm tăng cờng hiệu suet-bao gồm những thay đổi về
pháp lý và thể chế có thể có tác động lớn tới hoạt động kinh tế chung. Do đó, tự do hóa
dịch vụ không nên bị coi là một nhợng bộ đối với các nớc khác mà nên đợc xem là
một điều kiện kiên quyết để thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế nội địa.
Những ai dành đợc lợi ích từ việc mở cửa thị trờng dịch vụ?
Mở cửa các thị trờng dịch vụ đem lại các lợi ích kinh tế chung thông qua việc thúc đẩy và
khuyến khích sáng tạo, hiệu quả và nâng cao chất lợng. Những lợi ích này đợc tích luỹ
lại cho những ngời tiêu ding riêng lẻ; những ngời lao động, trái với quan niệm thông
thờng, trong hầu hết các lĩnh vực thờng có xu hớng có đợc thu nhập lơng cao hơn
Spain
Switzerland
United
Kingdom
Australia
New Zealand
Mexico
Percent
-28.5
-13.4
-8.2
-1.4
3.3
3.8
7.9
15
17.6
28.2
39.3
-40-30-20-100 1020304050
Hotels and restaurants
Wholesale & retail trade, repairs
Construction
Other community, social & personal
Health and social work
Transport, storage & communication
Real estate
Education
Public administration & defence
Electricity, gas and water supply
có nnhu càu để cân bằng phạm vi thúc đẩy cạnh tranh với vai trò chính đáng của chính phủ
trong việc can thiệp để khắc phục những thất bại của thị trờng và để đạt đợc các mục
tiêu phi kinh tế, ví dụ nh việc cung cấp chung các dịch vụ giáo dục và y tế. Tuy nhiên cần
chú ý rằng các cải cách pháp lý đợc đặt ra sao cho có thể đạt đợc những mục tiêu này
theo một phơng thức hiệu quả.
Củng cố các quy tắc đa phơng về quy định trong nớc có thể đóng một vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy và thống nhất cải cách pháp lý trong nớc. Những quy tắc này cũng có
thể trang bị cho các nhà xuất khẩu ở các nớc đang phát triển các phơng tiện để vợt qua
những rào cản phát lý đối với xuất khẩu của chính họ sang các thị trờng nớc ngoài. Nh
những sự bất ổn nhiều lần xảy ra tại nhiều thị trờng mới nổi trong những năm gần đây đã
cho thấy, việc điều tiết không đầy đủ trong nớc có thể làm nảy sinh những sự bóp méo nội
tại, đến lợt mình, những sự bóp méo này có thể gây ra những sự trục trặc nghiêm trọng về
xã hội. Đồng thời, những sự không đầy đủ trong quy định trong nớc, ví dụ trong lĩnh vực
cấp phép ngành nghề chuyên môn có thể làm hợp lý hoá những rào cản đối với thơng mại,
gây bất lợi cho các nhà xuất khẩu ở những nớc đang phát triển.
Để các chính sách trong ngành dịch vụ và các cam kết quốc gia đối với thơng mại và
đầu t trong thơng mại trong khuôn khổ WTO hoặc trong các hiệp định thơng mại khu
vực-có thể đóng góp vào sự phát triển, trong rất nhiều trờng hợp quá trình tự do hóa cần
phải đi cùng với việc củng cố điều tiết. Trong nhiều trờng hợp, cần phải có chính sách
cạnh tranh và điều tiết để bổ sung cho quá trình tự do hóa. Nhìn chung cũng cần có sự can
thiệp về pháplý để đảm bảo rằng quá trình tự do hoá sẽ tạo điều kiện cho những ngời
nghèo hoặc những ngời ở các khu vực địa lý bất lợi đợc tiếp cận nhiều hơn các dịch vụ
cơ bản.
Tự do hóa lĩnh vực dịch vụ không phải là một phơng thuốc thần kỳ, và có thể cần thời
gian để hiện thực hoá nhiều lợi ích từ việc mở cửa thị trờng nhiều hơn. Ngợc lại, chi phí
gắn với việc hợp lý hóa các ngành dịch vụ sẽ xuất hiện rất sớm dới hình thức những thay
đổi trong cơ cấu sở hữu ngành và có thể là mất việc làm. Sự phản đối từ những công nhân
6
bị tác động, những hãng đang hoạt động (trong nớc hoặc nớc ngoài) và những ngời
rất nhiều ngành dịch vụ. Phần lớn sự tranh luận của công chúng hiện nay về những tác
2
Nghiên cứu đợc Lori Kletzer tiến hành tại Viện Kinh tế Quốc tế chỉ ra rằng cạnh tranh nhập khẩu có thẻ gắn với tốc
độ thay đổi việc làm chem. do những ngời công nhận dễ bị ảnh hởng bởi lợng nhập khẩu tăng lên gặp phải nhiều
khó khăn trong thay đổi việc làm, dựa trên những đặc điểm cá nhân của họ. Bà kết luận rằng không phải bản thân cạnh
tranh nhập khẩu có lỗi mà chính là những ngời bị mất việc từ (và đợc sử dụng bởi) các ngành chịu sự cạnh tranh
nhập khẩu ngày càng tăng phải chịu trách nhiệm. Kletzer nói yếu tố hạn chế sự thay đổi việc làm của những công
nhân bị mất việc trong những ngành chịu sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu? Những đặc điểm tơng tự hạn chế sự
thay đổi việc làm của tất cả công nhân bị mất việc: mức độ giáo dục thấp, tuổi cao, thời hạn làm việc lâu, địa vị thiểu
số, tình trạng hôn nhân. So với những ngời bỏ học khỏi trờng trung học, những ngời công nhân có bằng cao đẳng
(hoặc cao hơn), [phần lớn những ngời này đợc sử dụng trong các ngành dịch vụ] có khả năng tìm đợc việc làm
mới cao hơn 25%, những ngời tốt nghiệp trung học có khả năng cao hơn 9,4% và công nhân có kinh nghiệm tại
trờng cao đẳng có khả năng cao hơn 11%
7
động tiêu cực của tự do hóa đầu t và thơng mại có nguồn gốc sâu xa từ những sự hiểu
nhầm nảy sinh từ mô hình phức tạp của GATS và của thơng mại dịch vụ nói chung.
Là một hiệp định khung nêu lên một số nguyên tắc cơ bản của GATT-đãI ngộ quốc gia,
đối xử tối huệ quốc, minh bạch hóa chính sách trong nớc, áp dụng luật lệ một cách công
bằng- về nguyên tắc GATS bao trùm thơng mại quốc tế của tất cả dịch vụ trừ những dịch
vụ đợc cung cấp để thực thi quyền của chính phủ và, trong vận tải hàng không, quyền
không lu và tất cả những dịch vụ liên quan trực tiếp tới việc thực hiện những quyền này.
Hiệp định GATS bao gồm ba yếu tố chính: khuôn khổ đề ra những nghĩa vụ chung đối với
thơng mại dịch vụ, rất giống với cách GATT quy định đối với thơng mại hàng hóa;
nhiều phụ lục về những ngành cụ thể cũng nh các Danh mục cam kết mà các Thành viên
WTO đa ra. Do cơ cấu và cách tiếp cận tự do hoá chọn cho tự nguyện của mình, GATS
cho phép các Thành viên WTO lựa chọn các ngành, phơng thức cung cấp (cung cấp qua
biên giới, tiêu dùng ở nớc ngoài, hiện diện thơng mại và hiện diện của tự nhiên nhân) và