1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
1
2
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
2
3
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
3
4
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vốn là điều kiện đầu tiên đảm bảo cho sự ra đời và phát triển của doanh
nghiệp, bất kỳ doanh nghiệp nào phải có 1 lượng vốn nhất định để trang trải chi phí
thành lập doanh nghiệp , mua sắm trang thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng cơ sở
hạ tầng cần thiết và đảm bảo cho một lượng vốn tối thiểu theo quy định của pháp
luật phù hợp với ngành nghề kinh doanh. Vốn là cơ sở để doanh nghiệp duy trì hoạt
động như mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, chi trả tiền lương cho công nhân
viên, chi phí phục vụ hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Nó cũng là yếu tố quyết định
mức độ trang thiết bị kỹ thuật đổi mới quy trình công nghệ hiện đại hóa dây chuyền
sản xuất. nhất là trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế hiện nay vốn còn là yếu tố
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Muốn đứng vững và ngày càng phát triển trên thị trường, các Doanh nghiệp sẽ
tại Công ty TNHH Tuệ Đông trong những năm gần đây, đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn của công ty, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, qua đó
đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đem lại
lợi nhuận cao nhất cho công ty TNHH Tuệ Đông đồng thời hoàn thành tốt luận văn
của mình, cần phải điều tra khảo sát để thu thập các thông tin cần thiết để đưa ra
những ý kiến chính xác nhất.
Để nghiên cứu đề tài em đã áp dụng những phương pháp như: phương pháp
quan sát thực tế, phương pháp nghiên cứu tài liệu, khảo sát các công trình nghiên
cứu từ những năm trước, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu, phương pháp
định lượng dựa trên nền tảng nhận thức các vấn đề nghiên cứu từ hiện thực khách
quan của hiện tượng.
Với phương pháp quan sát thực tế tổng thể tại công ty giúp em có cái nhìn bao
quát, định hướng về vấn đề nghiên cứu.
Dựa vào phương pháp nghiên cứu tài liệu, các văn bản, các giáo trình có liên
quan, khảo sát các công trình từ năm trước đã được công bố, kết hợp áp dụng
phương pháp phân tích nội dung nhằm đánh giá thấy được những vấn đề tốt hoặc
chưa tốt cần được giải quyết về mặt lý luận từ đó tạo định hướng và tạo cơ sở cho
quá trình nghiên cứu đề tài được tốt hơn.
Phương pháp thu thập dữ liệu được thực hiện thông qua việc điều tra chọn
mẫu có điều kiện và áp dụng bảng câu hỏi điều tra, phỏng vấn, đồng thời tiến hành
thu thập các dữ liệu về đề tài nghiên cứu.
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
6
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
Phương pháp xử lý dữ liệu áp dụng cụ thể phương pháp so sánh và phân tích
để xử lý các dữ liệu thu thập được. Sử dụng phương pháp so sánh để nghiên cứu
những biến động và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Các chỉ tiêu được
đưa ra phân tích, đánh giá sự biến động trong thời gian 3 năm.
1.1.2. Khái niệm vốn cố định
Trong nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ để mua sắm, xây dựng tài sản cố định,
một trong những yếu tố của quá trình kinh doanh đòi hỏi các Doanh nghiệp phải có
một số tiền ứng trước. Vốn tiền tệ được ứng trước để mua sắm tài sản cố định hữu
hình và tài sản cố định vô hình được gọi là vốn cố định. Do vậy, đặc điểm vận động
của tài sản cố định sẽ quyết định sự vận động tuần hoàn của vốn cố định.
Giữa tài sản cố định và vốn cố định có mối quan hệ mật thiết với nhau.Tài sản
cố định là hình thái biểu hiện vật chất của vốn cố định. Do vậy, vốn cố định của
Doanh nghiệp có đặc điểm tương tự như tài sản cố định. Như thế sau nhiều chu kỳ
sản xuất kinh doanh phần vốn cố định giảm dần và phần vốn đã luân chuyển tăng
lên. Kết thúc quá trình này, số tiền khấu hao đã thu hồi đủ để tái tạo một tài sản
mới. Lúc này tài sản cố định cũng hư hỏng hoàn toàn cùng với vốn cố định đã kết
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
thúc một vòng tuần hoàn luân chuyển. Do đó, có thể nói vốn cố định là biểu hiện số
tiền ứng trước về những tài sản cố định mà chúng có đặc điểm chuyển dần từng
phần trong chu kỳ sản xuất và kết thúc một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết
thời hạn sử dụng (Nguồn: giáo trình tài chính doanh nghiệp- trường ĐH Kinh Tế
Quốc Dân).
1.1.3. Khái niệm vốn lưu động
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố
định (TSCĐ) còn phải có các tài sản lưu động (TSLĐ) tuỳ theo loại hình doanh
nghiệp mà cơ cấu của TSLĐ khác nhau. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một
lượng TSLĐ nhất định. Do vậy, để hình thành nên TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra
một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSLĐ
nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường
xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ
chính doanh nghiệp- trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân).
1.1.6. Khái niệm doanh thu
Hiệu quả sử dụng vốn có thể đánh giá thông qua sản lượng và doanh thu.
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ phát
sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần
làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh
nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ. Khi sản lượng sản xuất ra nhiều thì
doanh thu càng cao, lợi nhuận đem lại cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tốt. Tuy
vậy không chỉ dựa vào hiệu quả này mà đánh giá việc sử dụng vốn hiệu quả hay
không, ví như khi doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất trong khi chất lượng sản
phẩm chưa cao nên hàng hóa tuy bán được nhiều nhưng với giá thấp thì cũng chưa
được coi là hiệu quả (Nguồn: giáo trình tài chính doanh nghiệp- trường ĐH Kinh
Tế Quốc Dân).
1.1.7. Khái niệm lợi nhuận
Một doanh nghiệp muốn hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả thì phải đạt lợi
nhuận cao. Vì lợi nhuận liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Lợi
nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ
tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Từ góc
độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh
nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để
đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Có thể nói một doanh
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
nghiệp có lợi nhuận cao tức là sử dụng vốn hiệu quả. Để đạt được hiệu quả thì phải
làm tốt tất cả các khâu từ chuẩn bị đi vào sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm
(Nguồn: giáo trình tài chính doanh nghiệp- trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân).
1.1.8. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi
doanh nghiệp, nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
vật chất ban đầu đến lúc hỏng.Việc nghiên cứu kết cấu vốn cố định có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn cố định. Khi nghiên cứu kết
cấu vốn cố định chúng ta phải xét trên hai góc độ nội dung kế hoạch và quan hệ của
mỗi bộ phận so với toàn bộ. Vấn đề cơ bản là phải xây dựng một kết cấu vốn nói
chung và kết cấu vốn cố định nói riêng cho phù hợp, hợp lý với đặc điểm kinh tế kỹ
thuật của sản xuất, phù hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ
quản lý để tạo điều kiện tiền đề cho việc sử dụng và quản lý vốn một cách hợp lý và
hiệu quả nhất.
Vốn lưu động là nguồn vốn hình thành trên tài sản lưu động, là lượng tiền ứng
trước để có tài sản lưu động. Khác với tài sản cố định, tài sản lưu động chỉ tham gia
vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và tạo nên thực tế sản phẩm. Đặc điểm của tài
sản lưu động và tài sản cố định lúc nào cũng nhất trí với nhau do đó phải giảm tối
thiểu sự chênh lệch thời gian này để tăng hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh việc xác
định kết cấu vốn cố định thì việc xác định kết cấu vốn lưu động cũng rất quan trọng
trong quá trình sử dụng vốn. Khi nghiên cứu kết cấu vốn lưu động, cần quan tâm tới
tỷ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lưu động và mối quan hệ giữa các loại và của
mỗi loại so với tổng vốn lưu động. Việc xác định kết cấu vốn lưu động hợp lý có ý
nghĩa quan trọng trong công tác sử dụng có hiệu quả vốn lưu động. Nó đáp ứng yêu
cầu về vốn trong từng khâu, từng bộ phận, trên cơ sở đáp ứng được nhu cầu sản
xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Nói tóm lại, việc xác định kết cấu vốn ở từng doanh nghiệp là yếu tố quan trọng,
nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi doanh nghiệp, làm tốt được khâu
này sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn từ đó tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2.2. Nguồn hình thành vốn kinh doanh
• Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu về vốn:
Nguồn vốn chủ sở hữu:
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mới
được thành lập, vốn chủ sở hữu hình thành nên vốn điều lệ. Khi doanh nghiệp đi
vào hoạt động, ngoài vốn điều lệ còn một số nguồn khác cũng thuộc nguồn vốn chủ
sở hữu như: lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính,
Nguồn vốn tạm thời:
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử
dụng để đáp ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh
trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp các khoản chiếm dụng hợp pháp không
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
13
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
phải trả lãi luôn có đòn bẩy tài chính dương và các khoản vay ngắn hạn ngân hàng,
các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn.
Cách phân loại này giúp cho người quản lý doanh nghiệp xem xét huy động
các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, có cơ sở lập kế hoạch tài
chính và hình thành những dự định về tổ chức vốn một trong tương lai.
1.2.3. Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động
kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó.
Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh. Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành
lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định
trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật
định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển
của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức
huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh
- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của
doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một
trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực
hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát
triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá.
Ba là, xuất phát từ yêu cầu bảo toàn vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường. Tuy nhiên, việc bảo toàn vốn kinh doanh cũng là một vấn đề đặt ra đối với
các nhà quản lý doanh nghiệp. Vì vậy, yêu cầu bảo toàn vốn để từ đó không chỉ
dừng lại ở bảo toàn vốn mà còn mở rộng và phát triển quy mô vốn.
Bốn là, xuất phát từ yêu cầu hạch toán kinh doanh đầy đủ của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường.
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
15
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng phải tuân theo nguyên tắc hạch toán
kinh doanh là: Kinh doanh phải lấy thu bù chi và phải có lợi nhuận. Nếu không đạt
được yêu cầu này các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ phá sản. Chính vì vậy, các doanh
nghiệp phải luôn có những biện pháp để bảo toàn vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh để khẳng định vị trí của mình trên thị trường.
Năm là, xuất phát từ yêu cầu cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển
mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là vô cùng gay gắt. Doanh nghiệp
nào tận dụng tối đa năng lực sản xuất và nâng cao hiệu quả vốn thì sẽ có điều kiện
tốt để đứng vững trên thị trường. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp cho
doanh nghiệp tạo khả năng cạnh tranh và tạo những lợi thế nhất định đến doanh
nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Tóm lại, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có vai trò
quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, là điều kiện
cấp thiết và là tiền đề để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
1.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học về hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp. Các chỉ tiêu
đó phản ánh sức sản xuất và sức sinh lợi của từng yếu tố, từng loại vốn, dựa vào các
1.2.5.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
• Mức đảm nhiệm vốn lưu động:
Mức đảm nhiệm vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu vốn lưu
động. Chỉ tiêu này càng nhỏ, càng tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
• Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động:
Tỷ suất sinh lợi trên vốn lưu động =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh một
đồng vốn lưu động mang vào sản xuất kinh doanh trong kỳ sẽ mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt và
ngược lại.
• Vòng quay vốn lưu động:
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Vòng quay vốn lưu động phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được mấy vòng.
Nếu số vòng quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao.
• Số ngày một vòng quay vốn lưu động
Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động =
360
Vòng quay vốn lưu động
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
Số ngày một vòng quay vốn lưu động phản ánh số ngày cần thiết để vốn lưu
=
Số dư bình quân các khoản phải thu x 360
Doanh thu
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
18
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải
thu (số ngày của một vòng quay các khoản phải thu). Vòng quay các khoản phải thu
càng lớn thì kỳ thu tiền càng nhỏ.
1.2.5.2. Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
• Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định =
Lợi nhuận sau thuế
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao.
• Hàm lượng vốn cố định
Hàm lượng vốn cố định =
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Nó phản
ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định. Chỉ tiêu này
càng nhỏ chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định càng cao.
• Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Doanh thu thuần
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định có thể đảm bảo tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng vốn cố định
ngày càng cao.
• Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế
và lãi vay (ROA) =
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
Tổng tài sản
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty. ROA
càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư
ít hơn.
• Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn
chủ sở hữu (ROE) =
Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường
Vốn cổ phần thường
ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả
năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.Tỷ lệ ROE càng cao càng
chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông.
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
20
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp
1.3.1. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Nhân tố con người:
Đây là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, con người
được đề cập đến ở đây là toàn bộ lực lượng lao động trong doanh nghiệp bao gồm
các nhà quản lý doanh nghiệp và những người trực tiếp thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nhà quản lý đóng vai trò đầu tiên đối với hiệu quả sử dụng vốn.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nếu nhà quản lý không có phương án sản xuất
kinh doanh hữu hiệu, không bố trí hợp lý các khâu, các giai đoạn sản xuất, sẽ gây
lãng phí về nhân lực, vốn, nguyên vật liệu… Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả
tình trạng thừa hoặc thiếu một loại tài sản nào đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Giải quyết tốt vấn đề cơ cấu vốn hợp lý chính là thực hiện tốt các mặt:
- Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa vốn cố định tích cực (vốn đầu tư vào tài sản
cố định tham gia trực tiếp vào sản xuất kinh doanh như máy móc thiết bị, phương
tiện vận tải ) và vốn cố định không tích cực (kho tàng, nhà xưởng, trụ sở văn
phòng )
- Một cơ cấu vốn hợp lý sẽ thúc đẩy đồng vốn vận động nhanh giữa các cao
độ của quá trình sản xuất kinh doanh, không bị ứ đọng hay sử dụng sai mục đích.
Nhân tố chi phí vốn:
Vốn là nhân tố cần thiết của quá trình sản xuất. Cũng như bất kỳ yếu tố nào
khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí nhất định. Có thể hiểu chi
phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn và chi phí mà doanh nghiệp phải trả
cho việc huy động vốn như: Lãi, chi phí phát hành cổ phiếu
Khi nói đến chi phí vốn thì mới thực sự thấy được sự quan trọng của một cơ
cấu vốn hợp lý. Cơ cấu vốn lưu động, vốn cố định phù hợp với đặc điểm sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vốn. Vốn sẽ
được lưu thông, quay vòng một cách hợp lý, giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao
trong sử dụng vốn kinh doanh. Ngược lại khi cơ cấu vốn không hợp lý sẽ dẫn đến
có phần vốn bị ứ đọng. Chi phí cơ hội trong việc sử dụng vốn sẽ bị lãng phí.
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh:
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng
không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Mỗi ngành sản xuất kinh
doanh có những đặc điểm khác nhau về mặt kinh tế kỹ thuật như: Tính chất ngành
nghề, tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh.
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
22
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
Ảnh hưởng của tính chất ngành nghề đến hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở
quy mô, cơ cấu vốn kinh doanh. Quy mô, cơ cấu vốn khác nhau sẽ ảnh hưởng tới
tốc độ luân chuyển vốn, tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán, chi trả do đó
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
các nguồn phải thu và các loại tài sản khác. Khi đó, các nhà quản trị tài chính phải
tìm nguồn tài trợ cho sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó.
Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp:
Để tạo ra môi trường kinh tế ổn định, đảm bảo cho sự phát triển bền vững,
nhà nước điều hành và quản lý nền kinh tế vĩ mô bằng các chính sách kinh tế vĩ mô.
Với bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành sẽ ảnh huởng đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Sự
nhất quán trong chủ trương đường lối cơ bản của Nhà nuớc luôn là yếu tố tạo điều
kiện cho doanh nghiệp hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh và có điều kiện
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hệ thống tài chính tiền tệ, vấn đề lạm phát, thất
nghiệp và các chính sách tài khoá của chính phủ có tác động lớn đến quá trình ra
quyết định kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chính sách lãi suất: Lãi suất tín dụng là một công cụ chủ yếu để điều hành
lượng cung tiền tệ, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn và kinh doanh
của doanh nghiệp. Khi lãi suất tăng làm chi phí vốn tăng, nếu doanh nghiệp không
có vốn cơ cấu hợp lý, kinh doanh không hiệu quả thì hiệu quả sử dụng vốn nhất là
phần vốn vay sẽ bị giảm sút. Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất là vấn đề quan
trọng khi quyết định thực hiện một hoạt động đầu tư hay một phương án sản xuất
kinh doanh. Doanh nghiệp phải tính toán xem liệu hoạt động đầu tư hay phương án
sản xuất có đảm bảo được doanh lợi vốn lãi suất tiền vay hay không, nếu nhỏ hơn
thì có nghĩa là không hiệu quả, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn. Đối với hoạt động đầu
tư hay phương án sản xuất có sử dụng vốn đầu tư cũng phải tính đến chi phối vốn,
nếu có hiệu quả thì mới nên thực hiện.
- Chính sách thuế: Thuế là công cụ quan trọng của nhà nuớc để điều tiết kinh
tế vĩ mô nói chung và điều tiết hoạt động của doanh nghiệp nói riêng. Chính sách
thuế của nhà nước có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp bởi vì mức thuế cao hay thấp sẽ làm cho phần lợi nhuận sau thuế
nhiều hay ít, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
GVHD: Th.S Trần Thị Thu Trang SVTH: Đỗ Hoài Thu
25
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Tài chính – Ngân hàng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH
DOANH CỦA CÔNG TY TNHH TUỆ ĐÔNG
2.1. Giới thiệu khái quát về công ty TNHH Tuệ Đông
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Tuệ Đông
Tên công ty: Công ty TNHH Tuệ Đông
Trụ sở: Khu công nghiệp Phú Thịnh – TX Sơn Tây- Thành phố Hà Nội
Loại hình: Công ty TNHH chuyên nhập khẩu lắp ráp và phân phối máy móc
thiết bị phục vụ sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp.
Vốn điều lệ: 2.500.000.000 đồng
Ngày thành lập theo quyết định số: 711/UB- QĐ ngày 15/11/2001
Đôi nét về quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Thị xã Sơn Tây là một vùng có tiềm năng kinh tế, vị trí thuận lợi , nằm ở phía
tây của Hà Nội, trên trục đường quốc lộ 32 chạy qua, giao thông thuận tiện nối liền
địa phương với thành phố Hà Nội, cùng với sự phát triển kinh tế của địa phương
với đặc thù là sản xuất xây dựng và nông nghiệp, ngoài ra, địa phương còn có đặc
điểm dân cư với số người trong độ tuổi lao động lớn. Đứng trước cơ hội đó , ban
giám đốc của công ty đã đứng lên thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Tuệ Đông,
tổ chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp được quốc hội nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua.
Ngày 07/02/2002, công ty TNHH Tuệ Đông chính thức được ra đời và đi vào
hoạt động. Trụ sở chính của công ty được đặt tại KCN Phú Thịnh- TX Sơn Tây-TP
Hà Nội với 1 showroom chưng bày sản phẩm và một xưởng sản xuất, gia công máy.
Trong những năm đầu mới thành lập, với số lượng nhân viên chỉ dưới 10
người, cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu trang thiết bị và máy móc sản xuất, cùng với
việc tuyển lao động phổ thông tại địa phương với trình độ nghề nghiệp không cao,
công ty phải đương đầu với rất nhiều những khó khăn của buổi đầu mới thành
lập,và của cơ chế kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt của các thành phần