Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới TS Chu Ngọc Lâm,
người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Thông
tin học và Quản trị thông tin của trường Đại học Dân lập Đông Đô đã dạy dỗ,
chỉ bảo cho em trong suốt 4 năm học tập, nghiên cứu tại trường. Qua đây, em
cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, nhân viên của Thư viện Hà Nội đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong việc tìm hiểu thực tế và trợ giúp đáng quý về
tinh thần.
Em rất mong các thầy, các cơ cùng bạn bè tham gia đóng góp ý kiến để
khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Ngô Thị Đức Thuận
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TVHN Thư viện Hà Nội
CNTT Công nghệ thông tin
TT – TV Thông tin thư viện
LAN Mạng nội bộ
CSDL Cơ sở dữ liệu
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
Web-OPAC OPAC chạy trên nền Web
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
ĐứcThuận
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây
dựng nền kinh tế nước nhà trở thành nền kinh tế tri thức, trong đó con người với
tri thưc hiểu biết cao là nòng cốt của lực lượng sản xuất, và có sự quan tâm đặc
biệt đến vấn đề này thông qua các Nghị quyết, các Chỉ thị. Chỉ thị số 58-CT/TW
ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển triển
CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, trong đó nhấn mạnh:
“Mọi hoạt động kinh tế , văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng đều phải ứng
dụng CNTT để phát triển”.
Cũng như các hoạt động khác, công tác thông tin – thư viện là một mắt
xích quan trọng trong toàn bộ hoạt động xã hội. Các thư viện ngày nay không
chỉ là nơi lưu trữ thông tin và các hoạt động thành quả trí tuệ của loài người, mà
trình độ phát triển của thư viện đang trở thành một trong những yếu tố biểu thị
trình độ phát triển của đất nước và xã hội. Hiện đại hóa hệ thống thông tin thư
viện chính là một trong những nội dung quan trọng góp phần tăng cường nguồn
lực thông tin, là một trong những tiền đề góp phần biến chủ trương của Đảng và
Nhà nước thành hiện thực. Cùng hướng đó, TVHN và các thư viện trong cả
nước đang tìm hướng phát triển mới dựa trên cơ sở áp dụng công nghệ tin học,
không những có thể áp dụng khai thác triệt để nguồn thông tin có trong thư viện
mà còn có thể chia sẻ và tìm kiếm được nguồn thông tin trong nước, trong khu
vực và trên toàn thế giới, đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế mới đặt ra đòi
hỏi rất lớn đối với công tác giáo dục, học tập, đào tạo và nghiên cứu cũng như
các nguồn lực tri thức và thông tin. Vì vậy, xây dựng hệ thống thông tin thư viện
hiện đại là nhiệm vụ quan trọng của Thư viện Hà Nội để hoàn thành trọng trách
là môi trường giáo dục thường xuyên và liên tục thể hiện cuốc sống văn hóa tinh
thần vừa là nguồn lực nâng cao dân trí, xây dựng tri thức cuộc sống, thúc đẩy sự
phát triển khoa học kĩ thuật và kinh tế xã hội trong thời kì đổi mới của thủ đô Hà
Nội.
Với ý nghĩa như vậy, là sinh viên chuyên ngành Thông tin học và Quản trị
thông tin, với kiến thức được các thầy cô trong trường truyền đạt, qua thời gian
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách, báo và thư viện, các Chỉ thị, Nghị quyết
của Đảng và Nhà nước ta về đường lối, chính sách phát triển khoa học công
nghệ, đặc biệt việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thông tin thư viện.
*Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
-Phân tích, tổng hợp tài liệu.
- Quan sát.
- Phỏng vấn.
- Điều tra bằng phiếu hỏi.
5. CƠ CẤU KHÓA LUẬN
Ngoài phần lời nói đầu, danh mục từ viêt tắt, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ
lục, khóa luận được chia làm 3 chương:
CHƯƠNG I: Thư viện Hà Nội với vấn đề ứng dụng Công nghệ thông tin.
CHƯƠNG II: Hiện trạng ứng dụng Công nghệ thông tin tại Thư viện Hà Nội.
CHƯƠNG III: Các giải pháp tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin tại Thư
viện Hà Nội.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn, chắc
chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn. Những ý kiến đóng góp
đó sẽ giúp em hoàn thiện khóa luận của mình, đồng thời đó cũng sẽ là những bài
học kinh nghiệm quý báu cho hành trang bước vào đời của em.
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
4
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
CHƯƠNG1. THƯ VIỆN HÀ NỘI VỚI VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
động sản xuất, kịp thời phổ biến kiến thức, kinh nghiệm đến mọi người dân, chia
sẻ niềm vui chiến thắng nơi chiến trường một cách nhanh nhất.
Tháng 4/1975, kháng chiến thắng lợi, TVHN cùng với Thành phố bước
vào mặt trận mới: “Khắc phục những hậu quả của chiến tranh”, vượt qua những
khó khăn, hạn chế của thời bao cấp, xây dựng và phát triển Kinh tế - Văn hóa –
Xã hội Thủ đô ngang tầm với vị thế mới, Hà Nội thay da, đổi thịt. Những con
đường mới, những khu đô thị mới cao tầng liên tiếp mọc lên. Tháng 5/1996
TVHN được cải tạo, xây dựng lại. Nếp nhà cấp 4 năm xưa đã nhường chỗ cho
khu nhà 3 tầng khang trang, xinh xắn. Suốt từ đó đến năm 2008, TVHN bước
vào thời kì ổn định tổ chức, xây dựng và phát triển cơ sở vật chất, nguồn lực
thông tin của mình một cách mạnh mẽ và nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu
đọc và học tập của nhân dân Thủ đô. Có thể nói đây là giai đoạn TVHN đã đạt
được nhiều thành tựu trong sự nghiệp thư viện, trong xây dựng và phát triển và
phục vụ bạn đọc. TVHN đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa, một điểm
đến, một người bạn thân thiết với biết bao thế hệ bạn đọc, với bao người dân Hà
Nội.
Trong giai đoạn này, số lượng cán bộ thư viện đã tăng lên nhanh chóng,
cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ cán bộ thư viện được đào tạo cơ bản, có
trình độ ngoại ngữ và tin học, năng động, thông minh và cần cù. Hệ thống mạng
lưới thư viện, tủ sách được xây dựng rộng khắp Thành phố với một thư viện
trung tâm (TVHN), 9 quận – huyện, 200 thư viện xã – phường thôn, 228 tủ sách
pháp luật, 75 điểm Bưu điện văn hóa xã, hàng trăm thư viện trong các trường
phổ thông. Các thư viện có sự phối hợp hoạt động chặt chẽ, có sự giúp đỡ, chỉ
đạo thống nhất, thường xuyên của thư viện trung tâm. Nguồn lực thông tin được
bổ sung mạnh mẽ, phong phú, đa dạng, đáp ứng việc cung cấp thông tin cho
hàng triệu bạn đọc Thủ đô, tích cực, chủ động cung cấp thông tin, tư liệu phục
vụ có hiệu quả công tác quản lý, lãnh đạo, nghiên cứu khoa học, lao động sản
xuất, trực tiếp phục vị sự nghiệp phát triển Thủ đô Hà Nội.
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
6
hiện đại hóa đất nước.
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
7
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
2.Tham mưu cho lãnh đạo Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Hà Nội về tổ
chức và hoạt động của hệ thống tổ chức thư viện quận, huyện, cơ sở và các loại
hình thư viện khác trên địa àn Thành phố Hà Nội.
Bên cạnh những chức năng theo nhiệm vụ nói trên, TVHN còn thực hiện
các chức năng xã hội khác như:
*Chức năng giáo dục: TVHN phải là nơi cung cấp địa điểm, kiến thức cho
người dân học tập sau giảng đường, tham gia vào việc xóa mù chữ cho nhân dân
( gồm cả xóa mù chữ và xóa mù tin học trong thời kì hiện đại); giúp nâng cao
trình độ dân trí, trình độ chuyên môn cho người dân Thủ đô.
*Chức năng thông tin: thông tin ở đây bao gồm cả tin tức, số liệu, dữ liệu, các
khái niệm, tri thức tạo nên sự hiểu biết của con người. Thư viện phải thu thập,
bảo quản, tìm và phổ biến thông tin đến mọi người dân trên địa bàn bằng nhiều
cách thức khác nhau, đảm bảo mọi người dân được quyền thụ hưởng thông tin
một cách công bằng và dễ dàng.
*Chức năng văn hóa: TVHN đóng vai trị quan trọng trong việc thu thập, bảo
quản và truyền bá di sản văn hóa của nhân loại, của dân tộc, đặc biệt là nguồn di
sản thành văn vô cùng phong phú,đa dạng và rực rỡ của địa phương; TVHN
cũng phải đóng vai trị như một trung tâm sinh hoạt văn hóa chủ yếu của cộng
đồng người dân, đảm bảo cho mọi người dân có thể tham gia một cách tự
nguyện và miễn phí.
*Chức năng giải trí: TVHN thực hiện chức năng giải trí bằng cách tổ chức cho
nhân dân sử dụng thời gian nhàn rỗi một cách có ích thông qua cung cấp các sản
phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện phù hợp, cung cấp sách báo, phương tiên
nghe nhìn giúp bạn đọc giải trí, thư giãn lành mạnh sau những giờ lao động
căng thẳng.
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật, các giải pháp công
nghệ… nhằm giúp con người nhận thức đúng đắn về thông tin và các hệ thống
thông tin, tổ chức và khai thác các hệ thống thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
9
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
động của con người. Theo một nghĩa trực tiếp hơn CNTT là ngành xử lý thông
tin bằng các phương tiện điện tử trong đó nội dung xử lí thông tin bao gồm các
khâu cơ bản như thu thập lưu trữ, xử lý và truyền nhận thông tin.
Với những tiến bộ nhanh chóng kì diệu của kỹ thuật máy tính và kĩ thuật viễn
thông trong vài thập niên gần đây, CNTT thực sự đã thâm nhập sâu rộng vào
hoạt động của con người, những mốc quan trọng đó là:
-1946-1948: Sự ra đời của máy tính điện tử đầu tiên. Tiếp đó là việc sản
xuất ra hàng loạt máy tính điên tử th, tế hệ thứ nhất, thứ hai trong thập kỉ 50, và
chủ yếu được sử dụng trong tính toán khoa học.
- Giữa thập kỉ 60: Sự ra đời của máy tính điện tử thế hệ ba với kỹ thuật
mạch tích hợp và các bộ nhớ bán dẫn. Máy tính điện tử bắt đầu ứng dụng ngày
càng rộng rãi trong kinh doanh, quản lý kinh tế. Tuy nhiên máy tính còn lớn và
thường chỉ dành để trang bị cho các trung tâm tính toán. Cuối những năm 60
sang đầu những năm 70 bắt đầu có các mạng nối các trung tâm mủa máy tính
với nhau.
- Giữa những năm 70: Ra đời các bộ vi xử lý, đó là linh kiện thực hiện
chức năng của các bộ xử lý trung tâm, của máy tính điện tử chứa trong một chip
bán dẫn có diện tích1 – 2cm. Kỹ thuật vi xử lý đã khởi đầu cho cuộc cách mạng
trong tin học tạo cơ sở cho sự ra đời từ thập kỉ 80 hàng triệu, rồi hàng chục,
hàng trăm triệu máy tính với năng lực ngày càng cao, giá càng rẻ, thâm nhập
khắp mọi nơi trên thế giới.
- Cuối những năm 80 đến nay: Sự phát triển bùng nổ các mạng viễn thông
truyền giữ liệu quốc gia và quốc tế, trên cơ sở kĩ thuật cáp sợi quang, vệ tinh vi
Vì vậy, để sẵn sàng hội nhập vào môi trường làm việc sử dụng công nghệ
số để tạo lập, xử lý, tổ chức, lưu trữ, phục vụ, quản trị thông tin số, các chuyên
gia TT – TV phải được trang bị đầy đủ các kiến thức và kỹ năng thuộc 3 lĩnh
vực khoa học Khoa học thư viện, Khoa học thông tin và Khoa học máy tính.
Nhưng để có được trình độ như vậy, đòi hỏi các cơ sở đào tạo TT-TV phải thay
đổi lại chính mình, xây dựng mục tiêu, phương thức và nội dung chương trình
đào tạo, tìm kiếm cơ hội hợp tác – đầu tư để phát triển đội ngũ giảng viên TT-
TV trình độ cao, làm đội ngũ tiên phong trong cuộc cách mạng này.
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
11
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
1.2.3 Vai trò của việc ứng dụng Công nghệ thông tin tại Thư viện Hà Nội
Hiện nay, người ta thừa nhận rằng vật chất, năng lượng, thông tin và bản
sắc dân tộc là các nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc
gia. Đặc biệt trong điều kiện cách mạng và công nghệ đang diễn ra với quy mô
lớn như hiện nay, khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
của xã hội thì thông tin trở thành nguồn lực quan trọng trọng tạo nên những ưu
thế kinh tế và chính trị của mỗi nước. Đất nước ta đã và đang trong quá trình
Công nghiệp hóa – Hiên đại hóa đất nước thì thông tin đã trở thành yếu tố tiên
quyết- động lực thúc đẩy mạnh mẽ nhất. Thông tin cần cho mọi ngành nghề,
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và hoạt động thông tin thư viện cũng không
nằm ngoài sự tác động to lớn của nó.
Vai trò của tin học trong các cơ quan thông tin ngày càng được khẳng
định và phát triển nhanh chóng. Trên thực tiễn, hiện nay hầu hết các hoạt động
thông tin thư viện đều có thể nhờ sự trợ giúp của máy tính, các công đoạn tự
động hóa hoàn toàn hoặc ở một số khâu như bổ sung, biên mục, đánh chỉ số, lập
các bộ phiếu, tạo ra các sản phẩm thông tin, các hoạt động tìm tin và khai thác
dữ liệu, các hoạt động kiểm tra và quản lý hành chính thông thường.
Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là Sở
hoàn thiện tổ chức các phòng phục vụ. Nhiều cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn
được bổ sung. Hiện nay, TVHN đã thiết lập một cơ cấu tổ chức khoa học và
hoàn chỉnh. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp từ ban Giám đốc, Thư viện đã hoạt động
một cách có hiệu quả , giúp cho việc cung cấp thông tin cho độc giả một cách
nhanh chóng và chính xác.
Cơ cấu tổ chức của TVHN gồm có Ban giám đốc và các phòng chức
năng.
* Ban giám đốc
TVHN gồm Giám đốc và 3 Phó Giám đốc.
Giám đốc phụ trách chung, chủ tài khoản và trực tiếp phụ trách công tác
hành chính, tổ chức của thư viện
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
13
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
Các Phó Giám đốc phân công phụ trách một số mảng công tác cụ thể như
CNTT; Phục vụ bạn đọc; Biên soạn xử lý kĩ thuật tài liệu; Phong trào cơ sở
Thông tin tra cứu và Địa chí
*Các phòng chức năng; chuyên môn nghiệp vụ; gồm 06 phòng:
1. Phòng Hành chính, tổng hợp : Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hoạt động, tài
chính- kế toán, thống kê báo cáo, cung ứng vật tư cho hoạt động sự nghiệp và
các hoạt động nội bộ cơ quan, cấp thẻ bạn đọc, đảm nhận công tác đối ngoại,
bảo vệ an ninh, an toàn cho thư viện, tuyển chọn và quản lý cán bộ viên chức
theo quy định.
2. Phòng Bổ sung và xử lý kĩ thuât: Đây là phòng có công tác đặc biệt quan
trọng vì nó là khâu quyết định chất lượng vốn tài liệu có trong thư viện.Với
nhiệm vụ xây dựng vốn tài liệu thư viện bằng ngân sách được cấp hàng năm,
nhận bản lưu chiểu xuất bản phẩm , biếu tặng, tài trợ, trao đổi giữa các thư viện
và các hình thức khác; thực hiện các chu trình xử lý kĩ thuật vốn tài liệu thư
viện theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện.
75 người, trong đó có gần 80% cán bộ có trình độ cử nhân trở lên gồm : 1 Tiến
sĩ, 6 Thạc sĩ chuyên ngành thư viện . Có thể nói đây là một đội ngũ cán bộ có
trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, sẵn sàng để thực hiện mọi
nhiệm vụ trong thời kì đổi mới, và đa số là cán bộ trẻ tuổi nên rất năng động,
yêu nghề và nhiệt tình với công việc, rất có triển vọng cho sự phát triển của Thư
viện.
(Phụ lục 2: Bảng thống kê nhân sự tại Thư viện Thành phố Hà Nội)
1.3.2 Nguồn tin
Xác định vốn tài liệu là một trong những yếu tố quyết định sự thành công
của thư viện, và để phục vụ người dùng tin một cách tốt nhất thì việc đảm bảo
yêu cầu về nguồn tài liệu là điều kiện hết sức quan trọng. Hiểu rõ vấn đề đó,
TVHN đã xây dựng được nguồn lực thông tin phong phú và đa dạng, không
phân biệt trình độ và lứa tuổi.
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
15
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
Với đối tượng là người lớn, vốn tài liệu văn hóa, xã hội, chính trị, kinh tế,
khoa học, nghệ thuật mà thư viện có được là tương đối đủ đáp ứng nhu cầu
chung và nâng cao, nhu cầu tìm hiểu và học tập của mọi tầng lớp nhân dân Hà
Nội, từ sinh viên, người lao động, công nhân, viên chức, người nghỉ hưu…
Ngoài thư viện dành cho người lớn, TVHN có cả thư viện dành cho thiếu
nhi, học sinh phổ thông với cơ cấu gồm cả phòng đọc và phòng mượn cho thiếu
nhi với vốn tài liệu riêng của từng bộ phận. Thư viện thiếu nhi này không chỉ
phục vụ sách truyện thiếu nhi mà còn có nhiều sách tham khảo giúp các em học
tập và nâng cao kiến thức ngồi nhà trường.
Kho sách, báo của TVHN có nhiều bộ sách quý, như các bộ từ điển bách
khoa nổi tiếng trên thế giới, các loại sách tra cứu, cẩm nang nghề nghiệp trên
nhiều lĩnh vực, và đặc biệt là kho tư liệu dành cho người đọc chuyên nghiên cứu
về địa phương. Ở đây có những tư liệu, những sách Hán Nôm, những bản đồ cổ
ngoài. Điểm đặc thù của vốn tài liệu của TVHN chính là sự đa dạng, phong
phú và có thể phục vụ nhu cầu nghiên cứu của đại bộ phận bạn đọc thủ đô.
Bảng 1.2: Thống kê số lượng tài liệu TVHN
Tổng số bản
sách
Tổng số
sách kho
luân chuyển
Tổng số tên
báo,tạp
chí
Tông số tên
tài liệu, địa
chí
Tổng số
CSDL
Tổng số
biểu ghi
5777.877 53.000 450 16.500 8 174.000
1.3.3 Người dùng tin
Do vị thế đặc biệt là Thư viện của Thủ đô, nên đối tượng phục vụ của
TVHN hết sức phong phú, đa dạng và luôn đòi hỏi yêu cầu phục vụ cao, có chất
lượng. Người dùng tin của thư viện là tất cả nhân dân sống và làm việc trên địa
bàn thành phố Hà Nội: từ người già, thanh niên, tri thức đến các cháu thiến niên
nhi đồng, tuy nhiên để phục vụ người dùng tin tốt nhất, cần chia người đọc
thành các nhóm chính như sau:
*Nhóm những người làm công tác quản lý: Đó là các nhà lãnh đạo địa phương
và lãnh đạo Sở Vắn hóa- Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội. Đây là đối
tượng bạn đọc có yêu cầu cao với diện yêu cầu rộng, đòi hỏi độ đáp ứng chính
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
18
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
tạp chí, Phòng đọc tư liệu tạp chí, Phòng đọc thiếu nhi và Phòng đọc cho người
khiếm thị.
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI
THƯ VIỆN HÀ NỘI
2.1 CƠ SỞ HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang thiết bị là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tăng cường
nâng cao chất lượng công tác phục vụ bạn đọc. Hiện nay, TVHN đang được đầu
tư thực hiện dự án hiện đại hóa Thư viện Hà Nội gồm xây dựng trụ sở và đầu tư
trang thiết bị hiện đại. Tổng kinh phí thực hiện dự án hơn 40 tỉ VNĐ. Với tòa
nhà 9 tầng khang trang, có gần 12.000m2 diện tích sử dụng, 145 máy tính, 03
máy chủ, đã kết nối mạng LAN, mạng ITERNET. Trang thiết bị hiện đại, bàn,
ghế, giá sách đều được đầu tư mới, phù hợp với bạn đọc của từng phòng. Phục
vụ cho công tác ứng dụng CNTT hiện đại vào công tác phục vụ bạn đọc, Thư
viện cũng đã đầu tư các thiết bị ngoại vi để thực hiện việc in ấn cho cán bộ thư
viện cũng như dịch vụ tới bạn đọc. Thiết bị ngoại vi là hệ thống máy in bao
gồm: máy in mạng và máy in nội bộ; thiết bị ghi CD. Máy in mạng là thiết bị in
Laser được sử dụng để in văn bản phục vụ nghiệp vụ và công tác thư viện. Thiết
bị đọc / ghi đĩa CD là thiết bị CDWrite: sử dụng để thực hiện chuyển thông tin
qua dữ liệu số đã biên tập qua sang đĩa CD - ROM để thực hiện lưu trữ số liệu
trên CD - ROM. Thiết bi ngoại vi còn bao gồm máy chiếu, multimedia phục vụ
việc huấn luyện bạn đọc và tổ chức hội thảo, tuyên truyền giới thiệu sách.
Năm 2010, TVHN đã xây dựng phòng multimedia dành riêng cho bạn
đọc. TVHN có 03 máy chủ và 86 máy tính cho truy cập internet và tra cứu thông
tin qua các cơ sở dữ liệu của thư viện. Phòng multumedia tổ chức các dịch vụ
phục vụ độc giả như: sản xuất sách nói, sách điện tử, thiết kế website, thiết kế và
trình chiếu Powerpoint, scand tài liệu, ảnh và in văn bản, ghi đĩa CD-ROM
- Trình bày toàn bộ hay từng nội dung các biểu ghi theo yêu cầu người
dùng tin.
- In và sắp xếp theo kết quả tìm tùy ý.
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
20
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
- Trao đổi dữ liệu( cho phép xuất – nhập dữ liệu ).
Các chức năng được thực hiện thông qua 2 nhóm phương tiện sau:
Nhóm I:
ISIENT: Nhập và hiệu đính các biểu
ghi
ISISRET: Các phương tiện tìm tin
ISISPRI:Các phương tiện in và sắp xếp
ISISNV: Các phương tiện duy trì và
làm việc với các file đảo
Nhóm II:
Các phương tiện cho người quản trị số
ISISFES: Xác định CSDL mới hoặc
sửa đổi CSDL đã có
ISISXCH: Các phương tiện bảo trì file
chủ
ISISUTL:Các chức năng / tiện ích khác
của hệ thống
ISISPAS: Phương tiện lập trình bằng
ngôn ngữ Pascal
Bên cạnh đó, để ứng dụng CNTT vào hoạt động thông tin thư viện, TVHN còn
sử dụng chương trình “Xử lý và chuyên dạng CSDL kiểu MARC” với mục đích
phục vụ tra cứu của người dùng tin. CSDL vừa là nơi đọc, lưu trữ, xử lý các dữ
liệu có thể có trong phiếu mô tả, vừa giống như bộ phận thiết yếu của mục lục
Libol (LIBrary OnLine), bộ phần mềm giải pháp Thư viện điện tử - thư
viện số được Công ty tin học Tinh Vân nghiên cứu và phát triển từ năm
1997, là sản phẩm phần mềm thư viện điện tử và quản lý tích hợp nghiệp
vụ thư viện thành công nhất ở Việt Nam. Với các tính năng ưu việt như: Hỗ
trợ đầy đủ nhất các chuẩn nghiệp vụ Thư viện của Việt Nam cũng như của Quốc
tế; giao diện của tất cả các phân hệ hoàn toàn trên Web, rất thuận lợi cho người
dùng nên hiện nay, phần mềm này đã được nhiều thư viện công cộng lớn cũng
như các thư viện trường đại học sử dụng như: Thư viện Quốc gia, thư viện Hà
Nội, thư viện trường Đại học Quốc gia
LIBOL có những tính năng chính sau:
Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin
22
Khó luận tốt nghiệp Ngơ Thị
ĐứcThuận
* Hỗ trợ chuẩn biên mục MARC 21, AACR-2, ISBD; các khung phân loại
thông dụng như DDC, BBK, NLM, LOC, UDC, subject headings; chuẩn ISO
2709 cho nhập/xuất dữ liệu.
* Liên kết với các thư viện và tài nguyên thông tin trực tuyến trên Internet qua
giao thức Z39.50 và OAI-PMH.
* Mượn liên thư viện theo giao thức ISO 10161, sử dụng định dạng mã hoá
dữ liệu BER/MIME.
* Tích hợp với các thiết bị mã vạch, thẻ từ và RFID; các thiết bị mượn trả tự
động theo chuẩn SIP 2.
* Hỗ trợ đa ngữ Unicode với dữ liệu và giao diện làm việc; các bảng mã tiếng
Việt như TCVN 5712, VNI
* Công cụ xây dựng, quản lý và khai thác kho tài nguyên số.
* Xuất bản các cơ sở dữ liệu hoặc thư mục trên đĩa CD.
* Tìm kiếm toàn văn.
* Khả năng tuỳ biến cao.
* Bảo mật và phân quyền chặt chẽ.