Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH & THƯƠNG MẠI LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 1999-2003 H
H
O
O
A
A
Ø
Ø
N
N
U
A
A
Ä
Ä
T
T
G
G
I
I
A
A
Û
Û
I
IQ
Q
U
U
Y
Y
E
K
K
I
I
N
N
H
HD
D
O
O
A
A
N
N
H
HB
B
A
A
È
È
N
R
O
O
Ï
Ï
N
N
G
GT
T
A
A
Ø
Ø
I
I
T
T
R
R
O
O
N
O
Ä
Ä
I
IN
N
H
H
A
A
Ä
Ä
P
PQ
Q
U
U
O
O
Á
Á
C
C
N
N
A
A
M
M Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN ĐẶNG THỊ LAN PHƯƠNG
Bộ môn Luật Kinh doanh & Thương mại MSSV:5992545
Lớp: Luật Thương mại B- K25
Cần Thơ, 07/2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
2
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi nhận “ Công
dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Một trong những nội
dung quan trọng của nguyên tắc tự do kinh doanh là sự tự do lựa chọn hình thức và
phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau: thương lượng, hoà giải, trọng tài, toà
án . Trong đó, trọng tài thương mại có thể nói là một phương thức giải quyết tranh
Đặng Thị Lan Phương
3
2. Ý nghĩa, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu một cách tổng quát trên cơ sở lý
luận và các quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam, có sự
tham khảo pháp luật về trọng tài của một số nước trên thế giới, từ đó xác định việc
quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay có phù hợp
với quy định của pháp luật trọng tài quốc tế, trong quá trình hội nhập quốc tế cũng
như phù hợp về lý luận, thực tiễn áp dụng ở VIệt Nam để đưa ra những đề xuất,
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu qủa của phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: Phân tích tổng hợp, so sánh,
phương pháp lịch sử… để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn.
4. Kết cấu của luận văn
Mục lục.
Lời nói đầu.
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về trọng tài thương mại.
Chương 2: Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 với xu hướng hoàn thiện
pháp luật trọng tài thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế
của Việt Nam.
Kết luận.
Tài liệu tham khảo.
Khái niệm thương mại có rất nhiều cách hiểu khác nhau và là một vấn đề
gây ra nhiều tranh cãi trong quá trình xây dựng pháp luật của quốc gia.
Khi khởi thủy, hoạt động thương mại chủ yếu là các hoạt động mua đi bán
lại để kiếm lời, vì thế khái niệm thương mại trong thời kì này cũng chỉ được hiểu
theo một nghĩa hẹp là mua hàng hoá để bán với mục đích tìm kiếm một ít lợi
nhuận. Cùng với quá trình phát triển của kinh tế, khái niệm thương mại ngày càng
được mở rộng. Nó không chỉ là quan hệ mua đi bán lại mà nó còn là các hoạt động
sản xuất công nghiệp, bảo hiểm, ngân hàng, chuyển giao công nghệ, đầu tư… Và
lúc này hoạt động thương mại được điều chỉnh bởi nhiều lĩnh vực pháp luật khác
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
5
nhau, đã làm nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thương mại trong
hoạt động mua bán kinh doanh.
Theo Luật mẫu của ủy ban của Liên hiệp quốc về trọng tài thương mại quốc
tế (UNCITRAL) thì khái niệm thương mại được hiểu theo một nghĩa rộng liên
quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng
hoặc không phải quan hệ hợp đồng nhưng không giới hạn bởi các giao dịch: giao
dịch mua bán để cung cấp trao đổi hàng hoá, dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại
diện hoặc đại lí thương mại; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng;
bảo hiểm; thỏa thuận hoặc thăm dò khai thác; liên doanh hoặc các hình thức hợp
tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác; vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng
đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ.
Ở Việt Nam trong quá trình đổi mới, thuật ngữ “thương mại” được sử dụng
khá phổ biến trong hoạt động kinh tế, nhưng nó không được hiểu thống nhất với
nhau trong quá trình xây dựng pháp luật thương mại. Luật Công ty và Luật Doanh
nghiệp tư nhân năm 1990 không đưa ra khái niệm “thương mại”, nhưng đã đưa ra
thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận
chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt,
đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
Khái niệm về trọng tài thương mại
Theo bảng tổng hợp của luật sư Didie Xcoocichki, luật sư Tòa thượng thẩm
Paris thì:“Trọng tài là Tòa án tư, do ý chí đôi bên tranh chấp. Vì vậy, trọng tài là
Tòa án tư, cạnh tranh với Tòa án Nhà nước…”
1
Theo Nguyễn Ngọc Điệp, trong 1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam thì:
“Trọng tài quốc tế là cơ quan xét xử do các bên tranh chấp lập ra trên cơ sở thỏa
thuận (hiệp định về trọng tài) để giải quyết tranh chấp. Trọng tài có thể chỉ là một
cá nhân hoặc một hội đồng. Quyết định của trọng tài có giá trị pháp lý bắt buộc đối
với các bên tranh chấp”.
Trọng tài thương mại là một tổ chức xã hội nghề nghiệp được tổ chức dưới
hai hình thức: trọng tài thường trực và trọng tài vụ việc. “Trọng tài là quá trình giải
quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn, trong đó bên thứ ba trung lập
(trọng tài viên), sau khi nghe các bên trình bày, sẽ ra một quyết định có tính chất
bắt buộc đối với các bên tranh chấp”
2
.
Như vậy, trọng tài thương mại là cơ quan xét xử do các bên đương sự thỏa
thuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa chính các bên đương sự đó. Trong
quá trình giải quyết tranh chấp, các bên phải tôn trọng quy tắc tố tụng và phán
quyết của trọng tài. Về cơ bản, phán quyết của trọng tài vẫn đầy đủ thủ tục như một
bản án và có giá trị bắt buộc thi hành.
1.1 .1.2 Đặc điểm
Trọng tài thương mại là một biện pháp lựa chọn rất phổ biến để giải quyết
tranh chấp trong nền kinh tế hiện nay ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Ở
những nước khác nhau có những đặc điểm kinh tế xã hội và tập quán pháp luật
hoạt động trọng tài cũng như quy định về tiêu chuẩn của trọng tài viên.
Thứ tư, các trọng tài viên chủ yếu là các luật gia và các thương gia. Có thể
nói ngoài bộ phận chủ yếu là các luật gia thì thành phần thương gia là cơ sở cho
việc hình thành và hoạt động của các tổ chức trọng tài. Nhiều tổ chức trọng tài trên
thế giới được thành lập là dựa trên sáng kiến của các thương gia.
1.1.1.3 Vai trò của trọng tài thương mại
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, cùng với xu thế toàn cầu hoá
thương mại, trọng tài thương mại đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển
kinh tế nói chung và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế nói riêng. Vai trò của
trọng tài thương mại cụ thể là :
-Trong môi trường kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh với mục đích tìm
kiếm lợi nhuận cao, cùng với sự đòi hỏi bí mật trong kinh doanh cũng như sự
nhanh chóng khi giải quyết tranh chấp mà trọng tài thương mại là phương thức tối
ưu mà họ lựa chọn.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
8
-Một vai trò không kém phần quan trọng nữa của trọng tài thương mại chính
là việc giảm bớt gánh nặng cho các Tòa án kinh tế. Việc ra đời của các tổ chức
trọng tài thương mại cũng chính là tạo ra cơ chế thi đua giữa Tòa án kinh tế và
trọng tài thương mại trong sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
cũng như đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp trong kinh doanh ngày càng tăng
cao.
-Đảm bảo cho các nhà kinh doanh thực hiện quyền tự do kinh doanh mà ở
đây cụ thể là quyền tự do lựa chọn cơ quan tài phán.
-Ngoài ra, việc hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn trong quá trình quốc tế hoá của
nay đều đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các nhà kinh doanh mà trong đó cụ
thể là quyền tự do lựa chọn cơ quan tài phán khi có tranh chấp kinh tế xảy ra. Nhà
nước luôn chủ trương khuyến khích các bên tranh chấp tự giải quyết với nhau, sau
đó mới hướng các bên đến phương thức tài phán để bảo vệ quyền và lợi ích của
mình khi có tranh chấp xảy ra. Hiện nay ở thế giới cũng như ở Việt Nam có các
phương thức giải quyết tranh chấp sau:
Thương lượng trực tiếp
Thương lượng trực tiếp là hình thức các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc
và đi đến thỏa thuận một cách thức giải quyết tranh chấp mà không cần sự tác động
hay giúp đỡ của người thứ ba.
Thông thường, khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên thường cố gắng tìm
cách thương lượng trực tiếp với nhau để giải quyết những bất đồng với mục đích là
giữ gìn mối quan hệ kinh doanh lâu dài và tốt đẹp giữa họ.
Xét về lịch sử, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp có sớm nhất
trong lịch sử loài người, và hiện nay nó là phương pháp khá phổ biến được các
nước trên thế giới quan tâm, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển hay là các
nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam.
Theo pháp luật thương mại Việt Nam, thương lượng là hình thức giải quyết
tranh chấp được lựa chọn trước tiên, sau đó mới đến các phương thức khác.
Thương lượng được xem như là hình thức hòa giải được Nhà nước khuyến khích
sử dụng. Trong thực tế, thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành
cùng với quá trình tố tụng.
Hòa giải
Hòa giải, theo từ điển Tiếng Việt 1997 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, là sự
thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa.
Đóng vai trò là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh, hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên
thứ ba đóng vai trò trung gian hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm
các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột. Theo định nghĩa của Từ điển luật học Anh-
Mỹ của Black thì “hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất
triển các phương pháp lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại, và hòa giải là
một trong những phương pháp được lựa chọn. Trong “Sách thực hành ADR”, John.
J. Wilkinson đã viết : “Trước tiên và trên hết, các phương pháp giải quyết tranh
chấp tiết kiệm đáng kể chi phí của các bên tranh chấp. Rõ ràng là chi phí kiện tụng
có thể giảm đi đáng kể nếu như các bên có thể hòa giải các tranh chấp của họ trong
vòng sáu tháng thay vì kiện tụng kéo dài hàng năm”.
4
Theo pháp luật Việt Nam, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp
không mang tính chất nghi thức. Hòa giải có thể được tiến hành ngoài thủ tục tố
tụng, và có thể thực hiện theo thủ tục tố tụng của Tòa án hoặc trọng tài. Hòa giải,
3
Black’s Law Dictionary- West Pub.Co.1991
4
Book of the ADR practice – Wiley Law Pub.1990
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
11
một mặt được xem là “cánh tay nối dài” của thẩm quyền Tòa án, mặt khác thì thoát
khỏi các nguyên tắc chặt chẽ của pháp luật. Khuyết điểm lớn nhất của pháp luật
Việt Nam hiện nay là chưa có một văn bản pháp luật điều chỉnh về vai trò, trách
nhiệm của người làm trung gian, hòa giải, cũng như về thủ tục, hình thức, quyền và
nhiệm vụ của các bên tham gia hòa giải…
Hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp không chính thức, mang
tính quần chúng hơn là có ý nghĩa về mặt pháp lý.
Tòa án
Trọng tài vừa là một tổ chức xã hội nghề nghiệp (phi chính phủ) thường
được tổ chức dưới hai hình thức: trọng tài theo vụ việc và trọng tài thương mại
thường trực,vừa là một thể thức giải quyết tranh chấp do sự thỏa thuận lựa chọn
của các bên đối kháng.
Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại rất phổ biến,
được sự ưa chuộng của các nhà kinh doanh ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở
các nước có nền kinh tế phát triển. Có thể nói, phương thức trọng tài là phương
thức giải quyết tranh chấp của nền kinh tế thị trường. Không có nước nào có nền
kinh tế thị trường mà lại không thừa nhận phương thức trọng tài.
Ở một số nước như: Đức, Pháp tổ chức trọng tài có tên gọi là trọng tài
thương mại và nó xuất hiện gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Ở
các nước xã hội chủ nghĩa trước đây như: Liên Xô, Hungari…thì phương thức giải
quyết bằng trọng tài cũng được sử dụng khá phổ biến dưới tên gọi là trọng tài kinh
tế Nhà nước. Tuy nhiên, các tổ chức trọng tài này hoạt động kém hiệu quả với tính
chất “vừa đá bóng, vừa thỗi còi” mà hiện nay đã không còn phù hợp và đang có sự
thay đổi để theo kịp sự phát triển của nền kinh tề thị trường và nhu cầu toàn cầu
hoá kinh tế của thế giới hiện nay.
Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài
cũng chiếm một vị thế quan trọng trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh
doanh ở Việt Nam. Ngay từ thời bao cấp, nước ta đã có sự tồn tại của trọng tài kinh
tế Nhà nước, Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải. Khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhu cầu tự do thương mại, thấy được khuyết
điểm của trọng tài Nhà nước mà các trung tâm trọng tài kinh tế đã được thành lập
theo Nghị định 116/CP và trọng tài quốc tế Việt Nam được thành lập trên cơ sở
hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải theo
Quyết định 204/TTG. Và hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực, cũng như
hội nhập quốc tế, nhu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng trọng tài ngày
càng tăng, Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam đã ra đời và sẽ có hiệu lực thi
hành vào ngày 01/07/2003 quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài sẽ gải quyết các
tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên.
Năng lực của trọng tài viên cũng là một ưu điểm, họ là những người được
đào tạo chuyên môn và am hiểu về lĩnh vực tranh chấp. Chính điều này tạo sự yên
tâm cho các bên khi lựa chọn để giải quyết. Nếu so sánh với phương pháp giải
quyết bằng Tòa án thì năng lực của thẩm phán còn là vấn đề cần phải xem xét.
Điều này không có nghĩa là các thẩm phán thì không có năng lực, nhưng do trong
quá trình xét xử từ cấp sơ thẩm cho đến khi hoàn thành vụ án rất có thể có những
người không có năng lực.
Một khía cạnh cũng rất quan trọng, khi áp dụng phương thức giải quyết
bằng trọng tài có thể tránh phá vỡ các mối quan hệ trong kinh doanh, do sự uyển
chuyển và linh hoạt của các phương pháp mà trọng tài đưa ra dễ được các bên
chấp nhận.
Một ưu điểm nữa có thể kể đến, chính là sự gần gũi và quan tâm của trọng
tài viên đối với các bên tranh chấp. So với tố tụng tư pháp thông thường thì đây
chính là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho các bên tranh chấp khi sử dụng phương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
14
pháp này, vì trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên đôi khi thiếu sự bình
tĩnh, trọng tài viên sẽ là người bám sát, theo dõi tiến triển vụ việc và có sự giúp đỡ
kịp thời cho các bên. Hơn thế nữa, do trọng tài viên là những người được sự lựa
chọn từ chính các bên tranh chấp, cho nên trọng tài viên sẽ là người bảo vệ tối đa
lợi ích của các bên.
Với tính chất là một tổ chức phi chính phủ, ưu điểm của trọng tài thể hiện ở
việc trọng tài viên hoàn toàn độc lập, không bị chi phối bởi một cơ quan chủ quản
nào. Họ xét xử vụ việc theo pháp luật và theo khả năng hiểu biết của mình.
Ưu thế cuối cùng của trọng tài được xem xét đến chính là giá trị của phán
quyết trọng tài. Theo quy định của pháp luật, phán quyết của trọng tài là chung
Một lý do đáng kể cho sự cần thiết phải có trọng tài phi chính phủ là khi
chuyển sang một nền kinh tế thị trường mở cửa, tự do thương mại, Trọng tài Nhà
nước ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm. Cụ thể là :
- Do là một cơ quan Nhà nước, tuy có chức năng xét xử các tranh chấp
nhưng tổ chức này không thể hoạt động khách quan và hiệu quả, do tính chất “vừa
đá bóng, vừa thỏi còi” cùng một lúc đảm đương hai chức năng vừa quản lý các
doanh nghiệp Nhà nước vừa giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau.
- Bên cạnh đó, xét về thẩm quyền và thủ tục xét xử thì trọng tài Nhà nước
hoạt động có vẻ giống như của Tòa án. Giữa hai cơ quan này không có sự phân biệt
cơ bản giữa bản chất tự nguyện của trọng tài và tính bắt buộc của Tòa án. Hơn thế
nữa, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo nguyên tắc cơ bản là dựa trên sự thỏa
thuận giữa các bên tranh chấp, nhưng đối với trọng tài kinh tế Nhà nước, mối quan
hệ giữa trọng tài và các bên tranh chấp là dựa trên kế hoạch của Nhà nước. Có thể
nói, trọng tài kinh tế Nhà nước lúc này hoạt động vừa mang tính chất của một tổ
chức trọng tài vừa có chức năng của một Tòa án.
- Nhược điểm của trọng tài Nhà nước còn ở khả năng thi hành các quyết
định trọng tài. Xét dưới góc độ lý luận, mục tiêu mà các bên tranh chấp khi lựa
chọn phương pháp trọng tài là mong muốn đạt được nhanh chóng một quyết định
giải quyết cũng như hiệu lực ràng buộc của các quyết định đối với các bên tranh
chấp. Bằng phương pháp này, các bên hy vọng quyền và lợi ích của họ được bảo
vệ một cách tốt nhất. Nhưng kết quả không theo ý muốn của họ, khi mà quyết định
của trọng tài không có hiệu lực thi hành, mục tiêu không đạt được, đã tạo nên tâm
lý mất sự tin tưởng của các bên tranh chấp đối với phương pháp này.
- Nhược điểm đáng kể, do hệ quả của nền kinh tế bao cấp, thẩm quyền xét
xử của trọng tài Nhà nước giới hạn trong phạm vi tranh chấp của các doanh nghiệp
Nhà nước. Trong khi đó, do sự phát triển của nền kinh tế, doanh nghiệp tư nhân
ngày càng phát triển, nhu cầu giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp này tăng
nhanh. Vấn đề được đặt ra, tổ chức nào có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp
tư nhân này.
Qua thực tế nêu trên, trọng tài kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
xã hội, tạo một môi trường pháp lý thông thoáng, tạo sự an tâm cho các doanh
nghiệp kinh doanh.
1.2.2 Sơ lược về lịch sử hình thành trọng tài thương mại của Việt Nam
a. Trọng tài trong nước
So với lịch sử hình thành trọng tài thương mại ở một số nước trên thế giới,
thì trọng tài thương mại ở Việt Nam là rất non trẻ. Do những điều kiện về kinh tế,
chính trị xã hội đặc thù của Nhà nước và pháp luật Việt Nam mà trọng tài thương
mại Việt Nam được thành lập khá muộn.
Điểm mốc cho sự ra đời của trọng tài thương mại có thể tính là năm 1960,
khi Nhà nước ta cơ bản cải tạo xong nền kinh tế và bắt đầu xây dựng nền kinh tế xã
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
17
hội chủ nghĩa với hai thành phần kinh tế là: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Sự ra đời của trọng tài thương mại gắn liền với với sự hình thành cơ chế hợp đồng
kinh tế, và chính cơ chế này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thành lập một tổ chức
giải quyết tranh chấp kinh tế đầu tiên ở Việt Nam, với tên gọi là Trọng tài kinh tế
Nhà nước theo tinh thần Nghị định 04/TTg ngày 01/04/1960. Và 10 ngày sau, ngày
14/04/1960 Nghị định 20/TTg về tổ chức ngành trọng tài kinh tế đã được ban hành.
Nhìn chung, các hoạt động trọng tài thời kỳ này được thành lập xuất phát từ nhu
cầu quản lý một nền kinh tế kế hoạch nói chung và cơ chế hợp đồng kinh tế nói
riêng. Ở giai đoạn này, các Hội đồng trọng tài hoạt động với tư cách là cơ quan lâm
thời hoạt động với quy chế tạm thời của nó.
Để đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả của cơ quan trọng tài, Chính phủ đã
ban hành một loạt các Nghị định như: Nghị định số 23/CP ngày 23/02/1962, Nghị
định số 47/CP ngày 13/03/1974 để giải quyết các nguyên tắc các Hội đồng trọng tài
tranh chấp kinh tế theo yêu cầu và theo sự thỏa thuận của các bên tranh chấp (mà
trước đây đều thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước).Tổ chức trọng tài kinh tế
theo tinh thần Nghị định này được thành lập bởi các trọng tài viên tư nhân, họ sẽ
tự thiết lập điều lệ và quy tắc của mình trên cơ sở tuân theo quy định của pháp luật
Nhìn chung, so với sự phát triển chung của các tổ chức trọng tài thế giới và
quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây thì các trung
tâm trọng tài kinh tế không thể đảm đương nỗi việc giải quyết tranh chấp kinh tế
cho nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam, và do nhiều nguyên nhân mà pháp
luật trọng tài thương mại Việt Nam cần phải có sự thay đổi cho phù hợp.
Và hiện nay, việc ra đời của Pháp lệnh trọng tài thương mại là rất phù hợp
và cần thiết trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, cũng như
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, phần này sẽ được đề cập ở chương
sau.
b. Trọng tài quốc tế Việt Nam
Trước khi có Quyết định 204-TTg ngày 28/04/1993, các tranh chấp thương
mại quốc tế ở Việt Nam do Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài
hàng hải giải quyết. Đây là hai tổ chức được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam. Nhìn tổng thể quá trình phát triển của trọng tài quốc tế
Việt Nam, ta có thể chia thành hai giai đoạn mà trong đó Nhà nước đã có những
chủ trương khác nhau giữa hai thời kỳ:
Thời kỳ 1960- 1993
Đây là thời kỳ mà Nhà nước kiểm soát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì
vậy, các giao dịch thương mại quốc tế cũng nằm trong phạm vi kiểm soát chặt chẽ
của Nhà nước. Trong thời kỳ này, phần lớn các hoạt động giao dịch thương mại
quốc tế đều do Nhà nước tiến hành thông qua các doanh nghiệp, tổ chức Nhà nước,
chỉ có một số ít các hãng tư nhân được tham gia vào hoạt động ngoại thương nhưng
phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước. Nhìn chung, trong khoảng thời gian
này giao dịch ngoại thương của Việt Nam chủ yếu là ở các nước Xã hội chủ nghĩa
trước đây.
Trong bối cảnh như thế, trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam hình thành
quyền. Theo điều 2 Điều lệ của Hội đồng trọng tài hàng hải, Hội đồng trọng tài
hàng hải có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về các vấn đề giao thông vận tải
đường biển khi có ít nhất một bên chủ thể tham gia là nước ngoài như : việc thuê
tàu, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, công tác đại lý tàu biển, bảo hiểm hàng
hải…Giống như Hội đồng trọng tài ngoại thương, Hội đồng trọng tài hàng hải
không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự hoặc kinh tế do các
nhân hoặc tổ chức Việt Nam ký kết cả về tranh chấp đầu tư.
Nhìn chung, thì phán quyết của cả hai Hội đồng trọng tài đều có giá trị
chung thẩm, không thể bị kháng cáo tại Tòa án hay bất kỳ một tổ chức nào.
Qua thực tế, hoạt động trọng tài trong thời kỳ 1960 đến 1980 cả hai Hội
đồng trọng tài có rất ít vụ việc để giải quyết. Hay nói cách khác, các tổ chức này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
20
tồn tại với tư cách là một tổ chức trọng tài quốc tế Xã hội chủ nghĩa, chính vì thế,
các tranh chấp về ngoại thương và hàng hải là rất ít. Hoặc có tranh chấp thì các
bên đối tác thường giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoặc hòa giải nhân
nhượng lẫn nhau. Hơn thế nữa, tình hình kinh tế phát triển do chính sách đổi mới
của Đảng và Nhà nước cùng với chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam những năm 80, hoạt động kinh tế Việt Nam phát triển, Việt Nam tiến hành
mua bán, quan hệ không còn giới hạn trong các nước Xã hội chủ nghĩa và mở rộng
ra nhiều nước trên thế giới. Chính vì thế, giao dịch ngoại thương tăng lên tất yếu sẽ
làm gia tăng số lượng tranh chấp giữa Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài.
Từ nhu cầu như thế, vấn đề hợp nhất hai tổ chức này được xem xét đến.
Giai đoạn 1993 đến trước khi có pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời
Kể từ năm 1980, sự gia tăng của đầu tư vào Việt Nam và nhu cầu giao dịch
thương mại Việt Nam tăng nhanh, đòi hỏi phải có một tổ chức thích hợp để giải
TRỌNG TÀI
Việc đánh giá thực trạng phát triển của trọng tài thương mại ở bất kì nước
nào không thể tách rời với các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của nước đó.
Mặt khác, thực tế trọng tài ở một nước cũng khó có thể đánh giá được nếu không
so sánh với cơ chế trọng tài của các nước khác. Hay nói một cách khác hơn, khi
đánh giá sự phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam cần phải có sự so sánh
với trọng tài thương mại ở các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Nhưng nhìn chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới khi xây dựng luật
trọng tài quốc gia đều chịu ảnh hưởng chung của Luật mẫu về trọng tài của ủy ban
Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (sau đây gọi là Luật mẫu UNCITRAL).
1.3.1 Luật mẫu trọng tài UNCITRAL, việc tiếp nhận luật mẫu ở một số nước
trên thế giới
Ủy ban của Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) được
thành lập năm 1966 có chức năng làm hài hoà và thống nhất luật pháp thương mại
quốc tế. Luật mẫu UNCITRAL được ra đời vào năm 1985 là một trong những mục
tiêu chính của UNCITRAL, tạo ra một công cụ pháp lý nhằm thống nhất hóa cách
tiếp cận cũng như sử dụng trọng tài thương mại quốc tế.
Luật mẫu UNCITRAL được xây dựng nên với mục tiêu tự do hoá trọng tài
thương mại quốc tế bằng cách hạn chế hợp lí vai trò can thiệp của Tòa án quốc gia
và bằng cách khẳng định học thuyết về “tính độc lập của ý chí”, nghĩa là, cho phép
các bên được tự do lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp; xác lập các quy định
có tính bắt buộc để đảm bảo cho quá trình trọng tài diễn ra một cách công bằng,
hợp lí; tạo ra một khung pháp luật về trình tự tố tụng trọng tài thương mại quốc tế
để trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về các vấn đề tố tụng
cụ thể thì vẫn có thể dựa vào khung pháp luật đó mà giải quyết tranh chấp; bổ sung
các quy định để tăng thêm tính khả thi của các phán quyết trọng tài cũng như để
giải quyết một số vấn đề thực tiễn khác.
5
Sau khi được ban hành cho đến nay, Luật mẫu đã có ảnh hưởng mạnh mẽ và
- Công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
- Về hòa giải và quá trình trọng tài
Qua quá trình nghiên cứu ta có thể thấy được ảnh hưởng của Luật mẫu
UNCITRAL ở quy mô thế giới. Hầu như tất cả các nước, dù theo những truyền
thống pháp luật khác nhau, khi xây dựng luật trọng tài quốc gia đều có sự tiếp nhận
và chuyển hoá Luật mẫu. Ở một số nước sự tiếp nhận này hoặc là chuyển hoá toàn
bộ hoặc là tiếp nhận có sửa đổi, bổ sung không nhiều, nếu không thì cũng tính đến
các tiêu chuẩn nêu trong Luật mẫu.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật Đặng Thị Lan Phương
23
1.3.2 Luật trọng tài của một số nước trên thế giới
1.3.2.1 Luật trọng tài Mỹ
Vào khoảng nữa thế kỉ XIX, việc phân xử không qua Tòa án đã ra đời ở Mỹ.
Và hiện nay, việc phân xử bằng trọng tài ở Mỹ ngày càng phổ biến và quan trọng,
đặc biệt là trong tranh chấp quốc tế.
Mỹ có một hệ thống Luật liên bang, đây là luật phổ biến ở Mỹ. Việc phân
xử bằng trọng tài ở Liên bang được điều chỉnh bởi Luật trọng tài Hoa Kỳ (FAA).
FAA là nền tảng cho các luật đặc định của Liên bang về hàng hải, ngoại thương và
áp dụng giữa các tiểu bang. Chương I của FAA được thông qua lần đầu tiên vào
năm 1925 và sửa đổi cơ bản vào năm 1947 và năm 1988. Chương II được thêm vào
năm 1970 phản ánh sự tham gia của Mỹ vào Công ước NewYork 1958. Chương III
được thêm vào gần đây nhất có hiệu lực năm1990 quy định về thương mại quốc tế.
Bên cạnh đó, việc thông qua Luật mẫu UNCITRAL vào năm 1985 đã thúc
Luật của Maryland cho thấy có sự tiếp nhận Luật mẫu giống với luật trọng tài
thương mại quốc tế của Hoa Kỳ.
Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa luật tiểu bang và Luật liên bang thì rất phức tạp
và được giải quyết bởi các quyết định của Tòa án, các hiệp ước và các điều lệ. Theo
Hiến Pháp của Hoa Kỳ, thì các luật tiểu bang không được xung đột với Luật liên
bang và được xem như là theo đuổi cùng một chính sách với Luật liên bang. Ngoài
ra, luật tiểu bang có thể giúp Luật liên bang hoàn thiện những điều khoản chưa rõ.
Tuy nhiên, những điều khoản này phải không trái với những chính sách của liên
bang về trọng tài.
Các quyết định của Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và
trình bày các luật trọng tài, đặc biệt là về trọng tài thương mại quốc tế. Đã có một
số quyết định của Tòa án tối cao trong những năm gần đây có liên quan đến trọng
tài trong vấn đề tranh chấp thương mại quốc tế.
Hoa Kỳ là thành viên của công ước NewYork 1958 về công nhận và thi
hành phán quyết trọng tài nước ngoài (với nguyên tắc “có đi có lại” và các tuyên bố
về tranh chấp thương mại). Ngoài ra, Hoa kỳ còn tham gia vào công ước 1965 về
giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước và công dân của Nhà nước khác và
Công ước Liên Hoa Kỳ 1975 về trọng tài thương mại quốc tế. Hơn nữa, Hoa Kỳ
còn là thành viên của nhiều hiệp ước song phương về tình hữu nghị, thương mại và
hàng hải, rất nhiều trong số đó có liên quan đến trọng tài các tranh chấp cá nhân và
thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài. Hiện nay, ngày càng có nhiều hiệp
ước đầu tư song phương được Hoa Kỳ tham gia có liên quan đến tranh chấp đầu tư.
Tổ chức trọng tài hàng đầu ở Hoa Kỳ là Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA),
thành lập năm 1926 có trụ sở chính ở NewYork và các văn phòng ở khắp các thành
phố lớn ở Hoa Kỳ. AAA có hai chức năng đồng thời là xúc tiến chung vấn đề trọng
tài và quản lý các vụ kiện trọng tài. Ngoài ra, Hiệp hội còn có chức năng duy trì đội
ngũ trọng tài viên và phát triển các luật chính thức cho các hình thức trọng tài
chuyên môn cũng như luật lệ trọng tài thương mại cơ bản của nó. Luật trọng tài
quốc tế của AAA được thông qua vào ngày 1/3/1991 được sử dụng phổ biến cho
các vụ kiện quốc tế. Nhìn chung, thì luật trọng tài quốc tế của AAA cũng có sự tiếp
trong sự hiểu biết lẫn nhau của các bên tranh chấp.
Trong luật của FAA miễn trừ các tranh chấp về lao động không giải quyết
bằng trọng tài, còn luật của UAA thì không đề cập đến vấn đề này. Hiện nay ở Mỹ,
những tranh chấp về bằng sáng chế được giải quyết bằng trọng tài và thỏa thuận
trọng tài được lập nên bởi các bên tranh chấp, cả thỏa thuận hiện tại và thỏa thuận
tương lai đều có hiệu lực.
Năm 1974, Tòa án tối cao đã mở rộng giới hạn giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài qua lĩnh vực giao dịch quốc tế và từ chối mở rộng lĩnh vực an ninh. Người
ta nhận ra rằng, các điều khoản giao dịch quốc tế thu hút được nhiều quan tâm và
chính sách hơn là giao dịch nội địa. Luật của Hoa Kỳ gần đây đã mở rộng những
luật chống độc quyền trong giao dịch quốc tế. Tòa án tối cao ủng hộ đạo luật này,
Tòa án các quận liên bang đã mở rộng luật này sang các điều khoản về tổ chức hối
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu