Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước - Pdf 27

Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
LỜI NÓI ĐẦU
Hơn mười năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều giải
pháp lớn để phát triển kinh tế, nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, tạo tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Giải pháp lớn nhất
được ghi nhận trong Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp 1992 là: ''Phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa''.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đó, kinh tế Nhà
nước mà nòng cốt là Doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) được xác định
giữ vai trò chủ đạo. Xuất phát từ thực trạng quản lý và kinh doanh kém
hiệu quả của hệ thống DNNN, Nhà nước ta cần phải sắp xếp, đổi mới
và phát triển Doanh nghiệp để thúc đẩy DNNN hoạt động có hiệu quả
hơn.
Cùng với quá trình sắp xếp lại DNNN cổ phần hoá(CPH) DNNN
là một quá trình tất yếu có tính phổ biến của sự phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu. Bởi vì, việc sắp xếp và
chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần, tiến lên hình thành các
công ty đa quốc gia đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị trường trong
nước và vươn ra thị trường thế giới là con đường hữu hiệu để đổi mới
khu vực kinh tế Nhà nước ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế
giới.
Ở Việt Nam, vấn đề CPH DNNN được đặt ra từ năm 1991. Thực
tiễn áp dụng hơn 10 năm đã khẳng định rằng CPH DNNN không phải
là tư nhân hoá nền kinh tế, mà là quá trình đa dạng hoá hình thức sở
hữu, tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ tổ chức quản lý và tập
trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, tạo động lực cho Doanh
nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời CPH DNNN
cũng không có nghĩa là làm suy yếu kinh tế Nhà nước, mà là một trong
các giải pháp quan trọng để kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo
thật sự cuả nó trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ

thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập doanh
Đại học Luật Hà Nội
2
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
nghiệp là cần thiết. Các loại hình doanh nghiệp khác không phải do Nhà nước
trực tiếp thành lập mà chỉ cho phép thành lập trên cơ sở đơn xin thành lập của
người hoặc những người muốn thành lập.
2.2 Tài sản trong doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận tài sản của Nhà
nước
DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước. Sau
khi được thành lập, DNNN là chủ thể kinh doanh nhưng chủ thể kinh doanh
này không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là người quản lý và kinh
doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước. DNNN phải chịu trách nhiệm trước
Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn được Nhà nước giao để duy trì
khả năng kinh doanh của Doanh nghiệp.
2.3 Doanh nghiệp Nhà nước là đối tượng quản lý trực tiếp của Nhà nước
Để đảm bảo các DNNN hoạt động hiệu quả theo hướng mục tiêu Kinh
tế-xã hội của đất nước, Nhà nước trực tiếp quản lý DNNN bằng các biện
pháp:
- Nhà nước ban hành các chế định pháp luật về hình thucứ tổ chức,
thành lập Doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích, các biện pháp hỗ trợ
những DNNN quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
- Nhà nước trực tiếp bổ nhiệm cán bộ quản lý và điều hành vào những
vị trí quan chủ chốt của Doanh nghiệp.
- Thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức việc chỉ
đạo, kiểm tra, thành tra việc thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách, chế
độ Nhà nước tại Doanh nghiệp.
2.4 Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức có tư cách pháp nhân
DNNN là tổ chức thoả thoả mãn 4 điều kiện để trở thành pháp nhân
được quy định tại Điều 94 Bộ Luật Dân sự Việt Nam, cụ thể:

Đại học Luật Hà Nội
4
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
xuất ximăng, phân bón, thuốc trừ sâu, công nghiệp quốc phòng, đồng thời giữ
vai trò chính trong sản xuất vải, giấy, xe đạp, xà phòng, tân dược.
- Trong xây dựng cơ bản, DNNN đảm nhận gần hết các công trình trên
hạn ngạch và các công trình quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
quốc dân như xây dựng các nhà máy điện Ninh Bình, Phả lại; các nhà máy
thuỷ điện Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Yaly
- Trong giao thông vận tải, DNNN đảm nhận những cung độ dài về
vận tải Bắc-Nam và vận tải nước ngoài.
2. Doanh nghiệp Nhà nước là một trong số các nguồn chủ yếu cung cấp
tài chính cho Ngân sách Nhà nước.
Ở nước ta, có thể nói rằng DNNN là một trong số các nguồn chủ yếu
cung cấp tài chính cho Ngân sách Nhà nước. Nếu như trong cơ chế bao cấp
trước đây DNNN hoạt động thường xuyên cung cấp trên dưới 70% tài chính
cho ngân sách Nhà nước, thì ngày nau trong cơ chế thị trường tỷ lệ đó vẫn
còn khoảng 30%, Nhờ có đóng góp to lớn về tài chính của các doanh nghiệp
Nhà nước cho ngân sách, Nhà nước có thêm vốn đầu tư vào lĩnh vực kết cấu
hạ tầng kinh tế-kỹ thuật nhằm bảo đảm cung cấp các loại hàng hoá và dịch vụ
công cộng cho xã hội, góp phần tích cực vào nâng cao tốc độ và hiệu quả
phát triển nền kinh tế quốc dân.
3. Doanh nghiệp nhà nước là một kênh trọng yếu thu hót viện trợ và đầu
tư nước ngoài cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
Để đáp ứng nhu cầu to lớn về vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, cần tận lực khai thác các nguồn lực tài chính trong nước kết hợp
thu hót các nguồn lực tài chính bên ngoài; nguồn lực tài chính trong nước là
quyết định, song nguồn lực kinh tế ngoài nước là cực kỳ quan trọng. Nước ta
cũng như các nước đang phát triển khác, DNNN là một kênh quan trọng để
thu hót viện trợ và vốn nước ngoài vào các lĩnh vực như khai thác than, dầu

trọng GDP của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân lại tăng
lên, từ 37,6% năm 1986 tăng lên 43,3% năm 1995, năm 2000 khoảng 39%.
Đại học Luật Hà Nội
6
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
Quy mô vốn bình quân của DNNN có xu hướng tăng lên từ 3,1 tỷ đồng năm
1990 lên 11,5 tỷ đồng năm 1999 (theo Báo cáo tổng kết Luật doanh nghiệp
Nhà nước tháng 12/1999 của Bộ kế hoạch và đầu tư ). Tốc độ phát triển bình
quân năm của khu vực DNNN vẫn duy trì ở mức 11% (từ năm 1991-2000).
Năm 1000, các DNNN đạt mức phát triển 7,4% đóng góp 38,98% (Niên giám
thống kê 2000, trang 73, 77). Trong 10 năm 1991-2000 DNNN đã nép thuế
thu nhập gần 64000 tỷ đồng (Báo cáo ban cán sự Đảng Chính phủ 7/2001).
Những chuyển biến và kết quả tích cực đó chứng minh tính đúng đắn
của chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và chính sách
sắp xếp, đổi mới khu vực DNNN của Đảng và Nhà nước, cùng sự cố gắng
của các DNNN vượt qua thử thách trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên vẫn
còn những tồn tại và yếu kém trong hệ thống DNNN được thể hiện trên một
số mặt chủ yếu sau:
 DNNN quy mô vẫn còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý. Chóng ta
đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới song phát triển của
khu vực kinh tế Nhà nước có xu hướng chậm lại, hiện nay khu vực kinh tế
Nhà nước có tổng số tài sản cố định cao khoảng 120000 tỷ đồng. Bức tranh
tổng quát của khu vực kinh tế Nhà nước còn chưa được sáng sủa, quy mô của
các DNNN nói chung quá nhỏ bé và không đồng đều. Tổng số DNNN tại
thời điểm kiểm kê 1/1/2000 là 5991 doanh nghiệp, sử dụng khoảng 527256 tỷ
đồng vốn. Nếu phân loại theo cơ cấu vốn thì: doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ
đồng chiếm 59,8% (trong đó doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm
khoảng 18,2%); doanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chiếm 12,5%;
doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 25%. Cơ cấu vốn và tài sản
của khối DNNN còn nhiều tồn tại, chưa hợp lý. Vốn của Nhà nước chỉ chiếm

phẩm do các DNNN làm ra còn thấp. Một số mặt hàng sản xuất trong nước
như sắt, thép, phân bón, xi măng, kính xây dựng có mức giá cao hơn giá
các mặt hàng nhập khẩu cùng loại từ 20-40%, riêng các mặt hàng đường thô
cao hơn tới 70-80%.
Đại học Luật Hà Nội
8
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
 Công nợ của DNNN hiện nay quá lớn. Năm 2000, trong sè 15,1% nợ
quá hạn của các ngân hàng Thương mại thì DNNN chiếm 74,8%. Năm 1996
tổng nợ là 174797 tỷ đồng, đến năm 2000 đã lên đến 288900 tỷ đồng, tăng
65%.
 Trình độ kỹ thuật và công nghệ của khu vực kinh tế nhà nước còn lạc
hậu, chỉ có gần 4% đạt trình độ tự động hóa, 41% đạt trình độ cơ khí, 55%
còn ở trình độ thủ công. Hơn nữa khả nămg đổi mới công nghêk của DNNN
còn hạn chế. Trong thời gian 1991-1998 chỉ trang bị được 14% thiết bị, bằng
10% tổng giá trị thiết bị của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
xây lắp trong cùng thời gian. Trên 80% doanh nghiệp thuộc ngành công
gnhiệp và sản xuất vật chất khác có trình độ công nghệ lạc hậu hơn các nước
trên 50%.
 Số lượng lao động trong các DNNN hiện nay khoảng gần 2 triệu
người, tuy nhiên trình độ tay nghề của người lao động trong các DNNN còn
thấp, trong sè lao đông dư dôi do thay đổi công nghệ thì có 25% là vì tay
nghề yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất cơ khí hoá, tự động
hoá.
 Trong 10 năm (1991-2000) ngân sách Nhà nước đã đầu tư thêm cho
DNNN 41535 tỷ đồng, riêng 4 năm 1997-2000 là 8200 tỷ đồng (trong đó
2216 tỷ đồng cấp bổ sung vốn lưu động, 1464 tỷ đồng bù lỗ). Ngoài ra, trong
4 năm 1997-2000, Nhà nước còn giảm thuế 1351 tỷ đồng, xoá nợ 1088 tỷ
đồng, khoanh nợ 3392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, giảm trích khấu hao 200
tỷ đồng. Cũng trong 10 năm 1991-2000, Nhà nước cho các DNNN vay tín

- Thứ ba, trải qua quá trình sắp xếp lại, số DNNN đã giảm đi quá nửa
song vẫn còn quá lớn. Trong khi đó cơ chế chính sách quản lý DNNN còn
chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chưa tách bạch được quản lý Nhà nước về kinh tế
với quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nguồn vốn Nhà nước có
hạn. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều DNNN buông lỏng quản lý, phó mặc
cho người lao động xoay xở để tồn tại một cách vất vả, cực nhọc. Trong hiện
thực tuy cùng một môi trường pháp lý, chính sách như nhau, nhưng hiệu quả
Đại học Luật Hà Nội
10
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
hoạt động của các DNNN trong cùng một lĩnh vực lại rất khác nhau. Nguyên
nhân chủ yếu và vai trò của Giám đốc và Hội đồng quản trị, chế độ tiền lương
hiện hành còn mang tính chất bình quân, chưa gắn bó một cách lâu dài trách
nhiệm, quyền hạn và lợi Ých của họ với kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Thứ tư, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa,
chúng ta đang đối mặt với hàng loạt những khó khăn thử thách. Một trở ngại
lớn hiện nay đối với phát triển của khu vực kinh tế nhà nước là sự hạn hẹp
của thị trường tiêu thụ, nhiều sản phẩm làm ra không bán được. Một nguyên
nhân quan trọng gây ra tình hình trên là sức mua của nhân dân nước ta, nhất
là sức mua của nông thôn còn thấp, phần do giá bán nông sản còn thấp, phần
do các ngành nghề phụ còn chưa phát triển.
3. Sự cần thiết phải sắp xếp đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước
- Thứ nhất, các DNNN được sinh ra và trưởng thành trong cơ chế tập
trung quan liêu, bao cấp kéo dài hàng chục năm. Với chính sách cấp phát,
giao nép, các DNNN hoạt động trong điều kiện vốn được Nhà nước bao cấp,
vật tư được nhận theo chỉ tiêu kế hoạch, sản phẩm làm ra được giao nép theo
địa chỉ quy định. Các điều kiện vật chất được Nhà nước cân đối theo chỉ tiêu
định mức, trong thực tế doanh nghiệp đơn thuần là một đơn vị gia công hàng
hoá cho Nhà nước. Chính vì vậy, doanh nghiệp không còn là một đơn vị kinh

tất yếu xảy ra là vốn liếng không được bảo toàn và phát triển, thiết bị cũ kỹ,
công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bình của thế giới. Nói
chung, sức cạnh tranh của nhiều DNNN còn yếu, một bộ phận không nhỏ sản
phẩm làm ra không tiêu thụ được phần vì giá thành cao, chất lượng thấp,
phần vì không phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Nhiều
DNNN hoạt động theo nguyên tắc độc quyền, không phụ thuộc vào lợi nhuận
mà nó mang lại, dẫn đến làm mất tác dụng của cơ chế canh tranh kích thích
tính hiệu quả của doanh nghiệp. Chính vì thế, để có một nền kinh tế thị
trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thì Nhà nước
vừa phải tạo điều kiện phát huy hết nội lực của các thành phần kinh tế trong
nước, vừa phải tiến hành sắp xếp lại, đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, để
Đại học Luật Hà Nội
12
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
DNNN vươn lên cạnh tranh chiếm thị phần lớn, chi phối được những ngành,
lĩnh vực then chốt của nền kinh tế trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
- Thứ năm, trong thời đại ngày nay, cùng với sự ra đời của các tổ chức
quốc tế, hội nhập và toàn cầu hoá là xu thế phát triển chung của toàn thế giới
mà bất kỳ một quốc gia nào khi tham gia vào đều muốn tìm thấy cho mình
một con đường ngắn hơn để phát triển. Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá
kinh tế sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia có thể tận dụng được lợi thế so sánh
của mình, thực hiện chuyển giao công nghệ, tăng thêm khả năng thu hót vốn
đầu tư nước ngoài, thúc đẩy và duy trì tăng trưởng bền vững, nâng cao phóc
lợi xã hội trên cơ sở các nguồn lực được phân bổ một cách có hiệu quả hơn.
Đây chính là lý do mà phần lớn các nước, các tổ chức kinh tế khu vực, thế
giới cam kết thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế và hội nhập. Đảng và Nhà
nước ta chủ trương tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa
phương hoá, đa dạng hoá; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lé trình phù
hợp với điều kiện của nước
Chương II:

Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996 chủ trương ''Triển khai tích cực
và vững chắc việc CPH DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước ngày
càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá''. Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996
của Chính phủ ''về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần'' khẳng định
''CPH DNNN là huy động vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp,
cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước để đổi mới đầu tư công nghệ, phát
triển doanh nghiệp và tạo điều kiện cho những người góp vốn và công nhân
Đại học Luật Hà Nội
14
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
viên chức trong doanh nghiệp có cổ phần được nâng cao vai trò làm chủ thực
sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả''.
Để đẩy mạnh CPH các DNNN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
chúng, ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ra quyết định số 44/1998/NĐ-CP '' về
chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần với hai mục tiêu sau:
+ Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo
thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ
cấu DNNN.
+ Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và
những người đã góp vốn được làm chủ thực sự; thay đổi phương thức quản
lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản
Nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh
tế của đất nước.
II. Quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về cổ phần hoá
Tại Việt Nam đại hội VI năm 1986 của Đảng đã tạo ra những tiền đề
trọng yếu cho đổi mới toàn bộ nền kinh tế, trong đó có vấn đề Nhà nước ta
khẳng định đã dạng hóa hình thức sở hữu với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
là nhân tố quyết định sự thành công của tiến trình CPH DNNN sau này. CPH

có hệ thống. Mặc dù vậy vẫn còn phải có sự đôn đốc tiếp của Thủ tướng
Chính phủ bằng Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 '' về việc xúc tiến thực hiện
thí điểm CPH DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với
các DNNN'', Thông tư số36/TC-CN ngày 7/5/1993 của Bộ Tài chính, Thông
tư số 09/LĐTBXH-TT ngày 22/7/1992 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã
hội '' hướng dẫn về lao động và chính sách đối với người lao động trong thí
điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần theo Quyết định 202/CT
ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng'' thì cuối cùng CPH mới
thực sự đi vào sự nghiệp cải cách khu vực kinh tế Nhà nước.
Sau 4 năm thực hiện CPH một số DNNN, chóng ta đã đúc rút được nhiều
kinh nghiệm. Đến ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP '' về
Đại học Luật Hà Nội
16
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần'' và Nghị định số 25/CP ngày
26/3/1996 '' về sửa đổi một số điều của Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996''. Nghị
định số 28/CP đã đề ra những quy định cụ thể, rõ ràng nhằm xúc tiến quá trình
chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần.
Ngày 4/4/1997, ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
ra Thông báo số 63/TB-TƯ về ''ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khai
tích cực và vững chắc CPH DNNN'', một lần nữa khẳng định lại: ''CPH là
một bộ phận doanh nghiệp, là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước''.
Trên cơ sở đánh giá kết quảbước đầu và vấn đề nảy sinh trong quá trình thực
hiện CPH DNNN, Thông báo đã đề ra các công việc yêu cầu tổ chức Đảng và
chính quyền các cấp cần thực hiện nhằm đẩy mạnh quá trình CPH DNNN
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII.
Quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị trong Thông báo số 63/TB-TƯ,
ngày 29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ''về
chuyển DNNN thành công ty cổ phần''. Đây là một Nghị định thông thoáng,
tạo ra sức hấp dẫn mới đối với doanh nghiệp CPH và người lao động trong

202/CT ngy 8/6/1992 v Ch th s 84/TTg ngy 4/3/1993 ca Th tng
Chớnh ph. Các DNNN vừa và nhỏ, kinh doanh có hiệu quả và không thuộc
diện Nhà nớc cần nắm giữ 100% vốn, tập thể công nhân viên chức tự
nguyện tham gia cổ phần hoá đợc xem xét cho thí điểm cổ phần hoá
theo Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 và Chỉ thị số 84/TTg ngày
4/3/1993 của Thủ tớng Chính phủ.
Thc hin Quyt nh s 202/CT, cỏc B, ngnh ó hng dn DNNN
ng ký thc hin thớ im chuyn sang cụng ty c phn. Trờn c s s lng
DNNN ó ng ký, Ch tch Hi ng B trng nay l Th tng Chớnh
ph ra Quyt nh s 203/CT ngy 8/61992 chn 07 DNNN do Chớnh ph
ch o thớ im chuyn thnh cụng ty c phn l:
i hc Lut H Ni
18
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
- Nhà máy xà bông miền Nam thuộc liên hiệp Công ty bột giặt miền
Nam, Tổng công ty hoá chất II, Bộ Công nghiệp nặng;
- Nhà máy Diêm Thống Nhất thuộc Liên hiệp sản xuất-xuât nhập khẩu
giấy gỗ diêm, Bộ Công nghiệp nhẹ;
- Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc thuộc Công ty chăn
nuôi và thức ăn gia sóc I, Bộ Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm;
-Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình thuộc Tổng công ty dịch vụ, sản
xuất và xuất nhập khẩu lâm sản 3, Bộ Lâm nghiệp;
- Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng Bộ Thương Mại và du lịch;
- Xí nghiệp sản xuất bao bì thuộc Công ty kinh doanh và chế biến
lương thực Hà Nội, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội;
- Xí nghiệp may mặc thuộc Công ty dệt da may Legamex, Uỷ ban
Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau một thời gian làm thử, 7 DNNN Chính phủ chọn để thí điểm đều
xin rót lui hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ CPH như Nhà máy Xà
bông miền Nam, Xí nghiệp may mặc thuộc Công ty dệt da may Legamex

CPH, chiếm 50%, các địa phương do Ban đổi mới doanh nghiệp kiêm nhiệm
hoặc giao cho một số tổ chuyên viên giúp đỡ.
- Mét số Bộ, địa phương đã tổ chức Hộ nghị truyền đạt chủ trương,
chính sách về CPH DNNN cho đội ngò cán bộ chủ chốt như Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản, Bộ Xây dựng và các tỉnh như Lâm
Đồng, Bình Định, Quảng Ninh
- Có 30 tỉnh, thành phố, bộ ngành và các Tổng công ty 91 đã đăng ký
CPH hơn 200 DNNN. Nhưng đến đầu năm 1998, mới chỉ có 18 DNNN thực
hiện CPH, chuyển sang hoạt động theo Luật công ty. Trong đó ngành giao
thông vận tải có 4 doanh nghiệp; ngành công nghiệp có 7 doanh nghiệp,
ngành xây dựng có 1 doanh nghiệp; ngành chế biến nông, lầm, thuỷ hải sản
có 3 doanh nghiệp; ngành dịch vụ có 3 doanh nghiệp. Trong sè 18 công ty cổ
phần, có một công ty cổ phần Nhà nước không nắm giữ cổ phần, 17 công ty
Đại học Luật Hà Nội
20
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
cổ phần còn lại Nhà nước nắm giữ Ýt nhất 18%, cao nhất là 51%; cổ phần do
người lao động trong công ty nắm giữ từ 18%-50%, cổ phần còn lại do cổ
đông ngoài xã hội chiếm giữ.
Tính đến hết tháng 5/1998 cả nước có 33 doanh nghiệp hoàn thành
CPH, so với yêu cầu cải cách DNNN và số lượng DNNN trong diện CPH thì
kết quả đạt được trong các năm 1992-1998 là quá Ýt, tốc độ CPH rất chậm.
c. Từ năm 1998 đến nay là giai đoạn thực hiện bình thường và phổ biến
đối với tất cả cácDNNN thuộc danh sách cần phải CPH.
CPH DNNN có chuyển biễn rõ rệt và đáng khích lệ từ khi có Nghị
định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ ''về chuyển DNNN
thành công ty cổ phần''. Riêng 6 tháng cuối năm 1998 đã cổ phần được 90
doanh nghiệp Nhà nước, đưa số DNNN được CPH lên 120 doanh nghiệp.
Năm 1999, CPH được 250 DNNN, gấp 7 lần so với 6 năm trước đó (1992-
1997) cộng lại. Do có sự cố gắng của các cấp, các ngành nên công tác CPH

thể thấy những vướng mắc trong quá trình CPH đã được tháo gỡ cơ bản, thể
hiện ở các mặt sau:
 Một là: Rõ ràng hơn về đối tượng áp dụng. Điều 1 Chương I của Nghị
định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 quy định về đối tượng áp dụng. Kèm
theo Nghị định này là một phụ lục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chỉ
rõ loại DNNN hiện có, chưa tiến hành CPH; loại DNNN hiện có, Nhà nước
cần nắm giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt khi tiến hành CPH và các loại
DNNN mà Nhà nước không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt.
 Hai là: Bổ sung thêm hình thức thực hiện so với Điều 9 Nghị định số
29/CP, tại Điều 7 khoản 4 Nghị định 44/1998/NĐ-CP, bổ sung hình thức tiến
hành CPH: ''Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
để chuyển thành công ty cổ phần''. Quy định này thể hiện quyết tâm của Nhà
nước ta trong quá trình thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu DNNN. Đồng thời
Đại học Luật Hà Nội
22
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
hình thức bổ sung nói trên cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu
tư trong việc lưạ chọn phương án đầu tư thích hợp cho mình.
 Ba là: Mở rộng đối tượng mua cổ phần, tại Điều 3 Nghị định
44/1998/NĐ-CP đã mở rộng diện đối tượng mua cổ phần tại các doanh
nghiệp CPH. Theo quy định này, không chỉ các tổ chức kinh tế có tư cách
pháp nhân, các tổ chức trính trị xã hội được pháp luật công nhận, công dân
Việt Nam được mua cổ phần như quy định tại Điều 3 Nghị định 28/CP mà cả
người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế tài chính nước
ngoài cũng có quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp CPH. Việc mở rộng
diện đối tượng được mua cổ phần như trên là hoàn toàn hợp lý và tạo điều
kiện tốt hơn cho việc huy động mọi nguồn vốn trong xã hội vào sự nghiệp
xây dựng nền kinh tế quốc dân. Nghị định 44/1998/NĐ-CP cũng bổ sung
hoàn toàn mới Điều 8 về quyền được mua cổ phần lần đầu tiên khi tiến hành
cổ phần hoá. Điều đáng quan tâm của điểm này là" loại doanh nghiệp mà Nhà

 Năm là: Có chính sách ưu đãi hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp
CPH. Điều 13 Nghị định 44/1998/NĐ-CP đã quy định về mặt nguyên tắc
những ưu đãi khá hấp dẫn các doanh nghiệp tiến hành CPH, DNNN chuyển
thành công ty cổ phần được coi là hình thức đầu tư mới, được hưởng ưu đãi
theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Trường hợp những
doanh nghiệp không đủ điều kiện hưởng ưu đãi theo quy định của Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước thì được giảm 50% thuế thu nhập doanh
nghiệp trong 2 năm liên tiếp kể từ sau khi chuyển sang hoạt động theo Luật
Công ty. Được tiếp tục vay vốn tại Ngân hàng Thương mại, công ty tài chính,
các tổ chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế và lãi suất như áp dụng
đối với DNNN. Các khoản chi phí thực tế, hợp lý và cần thiết cho quá trình
chuyển DNNN thành công ty cổ phần được trừ vào tiền bán cổ phần thuộc
vốn nhà nước theo mức quy định của Bộ Tài chính.
 Sáu là: Việc xác định giá trị doanh nghiệp theo Điều 8 Nghị định
28/CP trước đây nhất thiết phải được cơ quan kiểm toán hợp pháp xác nhận,
thì nay theo Điều 12 Nghị định 44/1998/NĐ-CP quy định: ''Khi xác định giá
trị thực tế của doanh nghiệp không nhất thiết phải thuê kiểm toán độc lập.
Đại học Luật Hà Nội
24
Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước
Những doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định của pháp luật về kế
toán, thống kê thì cơ quan thuế quyết định xác định giá trị doanh nghiệp xem
xét thuê tổ chức kiểm toán độc lập xác định. Tiền thuê kiểm toán được tính
vào chi phí cổ phần hoá.
 Bảy là: Điểm mới trong Nghị định 44/1998/NĐ-CP đó là tại điều 22
quy định: ''Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi
hành, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, các Bộ, cơ quan khác có liên quan hướng dẫn thực hiện Nghị
định này. Điều này thể hiện rất rõ quyết tâm sắp xếp lại DNNN của Chính
phủ và để thực hiện quy định này, các Bộ, ngành đã khẩn trương ban hành rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status