LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ
chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hµng hoá. Sản xuất
hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch sử
loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, xoá bỏ nền
kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu
quả kinh tế của xã hội. . Với những thuộc tính của mình hàng hoá giữ một
vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hoá là một “tế bào kinh
tế” của xã hội tư bản. “ Có nền kinh tế hàng hoá thì tất nhiên tồn tại cạnh
tranh…cạnh tranh là quy luật bắt buộc của nền kinh tế hàng hoá”
(1)
vì vậy
việc nghiên cứu về hàng hoá và những thuộc tính của nó là một việc quan
trong có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đối với quá trình cạnh tranh. Đặc biệt
việc nắm vững những lí luận về lượng giá trị của hàng hoá có vai trò quan
trọng góp phàn vận dụng một cách hiệu quả vào quá trình nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện nay nói chung và các doanh nghiệp
Việt Nam nói riêng. Đây chính là lí do mà nhóm 1A - Lớp 3412 lựa chọn đề
tài này. Do vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, bài
làm của nhóm em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy cô
quan tâm, chỉ bảo để bài tập nhóm tháng của nhóm 1 A có thể hoàn thiện
hơn.
Chúng em xin cảm ơn các thầy cô !
NI DUNG
I. MT S VN L LUN CHUNG
1, Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá
1.1, Khái niệm hàng hoá
Lch s phỏt trin ca nn sn xut xó hi ó v ang tri qua hai kiu t
chc kinh t, ú l sn xut t cp t tỳc v sn xut hàng hoỏ. Trong nền
sản xuất hàng hoá tồn tại một phạm trù lịch sử đó chính là hàng hóa. Hng
hoỏ l sn phm ca lao ng cú th thừa món nhng nhu cu nht nh no
cn thit. Thi gian lao ng xó hi cn thit l thi gian lao ng cn sn
xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của
xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo
trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó.
Như Mác nói: “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao
động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định
lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy”
(2)
.Thời gian lao động xã hội cần thiết tạo
ra giá trị xã hội của hàng hoá.Thông thường ,thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất ra hàng hoá gần sát với thời gian lao động cá biệt của người
sản xuất cung ứng đại bộ phân hàng hoá đó trên thị trường.
Ví dụ: Ba người A, B, C cùng sản xuất vải có chất lượng như nhau, do
điều kiện sản xuất khác nhau nên thơì gian lao động cá biệt của từng người
là không giống nhau. Chẳng hạn để sản xuất ra 1m vải, thời gian lao động cá
biệt của người A là 2 giờ, người B là 3 giờ, người C là 4 giờ.Nếu người B là
người sản xuất và cung ứng đại bộ phận số vải trên thị trường thì thời gian
lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra 1m vải gần sát với thời gian lao động
cá biệt của người B .
Thời gian lao động xã hội cần thiết là đại lượng không cố định. Khi thời
gian lao động xã hội cần thiết thay đổi thì lượng giá trị của hàng hoá cũng sẽ
thay đổi
2.2, Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá:
Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá.
Thứ nhất, đó là năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực
sản xuất của người lao động. Nó được đo bằng số sản phẩm sản xuất ra trong
một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn
vị sản phẩm. Có hai loại năng suất lao động đó là năng suất lao động cá biệt
và năng suất lao động xã hội. Năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị
xã hội của hàng hoá chính là nằng suất lao động xã hội. Năng suất lao động
2.3, Các yếu tố cấu thành lượng giá trị hàng hoá (kí hiệu là W)
Bao gồm hai bộ phận: giá trị cũ tái hiện và giá trị mới. Trong quá trình sản
xuất lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyển giá
trị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sản
phẩm(kí hiệu là c), còn lao động trừu tượng ( biểu hiện ở sự hao phí lao
động sống trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá
trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giá trị mới trong sản phẩm(kí hiệu là v+m).
Do vậy W=c+v+m
II, TÁC ĐỘNG CỦA LƯỢNG GIÁ TRỊ HÀNG HOÁ TỚI NĂNG LỰC
CẠNH TRANH
1, Năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất
nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. “Cạnh tranh là sự
ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hoá nhằm
giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng
hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình”
(3)
. Thuật ngữ “ năng
lực cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn cầu nhưng cho
đến nay vẫn chưa có sự nhất trí giữa các học giả, các nhà chuyên môn về
khái niệm . Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp
tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng
cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và
phát triển bền vững
2, Tác động của lượng giá trị hàng hoá tới năng lực cạnh tranh
Trong thực tế cuộc sống nói chung và trong quá trình sản xuất và lưu
thông hàng hoá nói riêng việc vận dụng lí luận vào thực tiễn là một công
việc vô cùng quan trọng. Từ góc độ lí luận về lượng giá trị hàng hoá, ta thấy
rằng để sản xuất có lãi và giành được ưu thế trong cạnh tranh người sản xuất
phải tìm mọi cách nhằm giảm giá trị cá biệt hàng hoá của mình xuống ít nhất
42% số doanh nghiệp thỉnh thoảng mới có cuộc đì thăm thị trường nước
ngoài, và khoảng 20% không một lần đặt chân lên thị trường ngoài nước.
Các doanh nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp tư nhân thì khả năng thâm nhập
thị trường nước ngoài hầu như không có. Nhìn chung, công tác nghiên cứu