BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG
NGHIỆP HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN
ĐỀ TÀI 5: Hãy tìm hiểu,phân tích và xây dựng hệ thống đo và điều khiển nhiệt độ
lò sấy nông sản dạng hạt
BỘ MÔN: ĐO LƯỜNG VÀ CẢM BIẾN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: MAI THẾ THẮNG
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Nguyễn Ngọc Nam Vương Ngọc Phương
Nguyện Văn Pha Vương Hữu Quyền
Nguyễn Văn Phong Đỗ Đình Quang
Lê Đức Phong Kiều Văn Quang
Trần Văn Phong
Chương 1
Tổng quan chung về sấy nông sản dạng hạt
1.1. Công nghệ sấy nông sản dạng hạt
1.1.1 Cơ sở vật lý của quá trình sấy.
Sấy là quá trình nước từ vật liệu ẩm khuếch tán, bốc hơi ra không khí xung quanh nó.
Quá trình này được thực hiện do sự chênh lệch áp suất hơi nước ở bề mặt của vật liệu
và môi trường xung quanh. Để làm cho lượng ẩm trên bề mặt sản phẩm bốc hơi cần có
điều kiện:
Pm >Pk
Pm - Pk = ΔP
Pm : áp suất hơi nớc trên bề mặt vật liệu
Pk : áp suất riêng phần của hơi nước trong
không khí ΔP: Động lực của quá trình sấy
Trị số ΔP càng lớn thì lượng ẩm chuyển sang môi trường xung quanh càng mạch và
quá trình sấy được thực hiện nhanh hơn. Như vậy, quá trình bốc hơi nước ra không khí
trong thời gian t(h). Khi tốc độ sấy cao, nghĩa là thời gian làm khô vật liệu ngắn, năng
suất thiết bị sấy cao. Cho tới nay vẫn chưa có phương pháp hoàn chỉnh để tính toán lựa
chọn tốc độ sấy, vì nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố biến đổi trong quá trình
sấy.Người ta chỉ có thể tính toán tương đối chính xác trên cơ sở các đường cong sấy
được vẽ theo kết quả thực nghiệm cho từng loại vật liệu trong những điều kiện
nhất định như: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động của tác nhân sấy, bề dày của vật
liệu sấy … Mặc dù vậy quy luật thay đổi nhiệt , ẩm của phần lớn các loại nông sản đều
có dạng chung như trên đồ thị hình I.1.1.
Hình1.1 - Đồ thị quá trình sấy.
Căn cứ vào sự biến thiên của tốc độ sấy, có thể chia quá trình sấy thành 2 giai đoạn chủ
yếu: Giai đoạn 1 (tốc độ sấy không đổi) và giai đoạn 2 (tốc độ sấy giảm). Nếu căn cứ
theo trình tự thời gian thì quá trình sấy được chia theo 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu làm
nóng vật liệu, ứng với thời gian rất ngắn t liệu sấy từ nhiệt độ thấp lên nhiệt độ cao có
thể bay hơi được. ở giai đoạn này nhiệt độ vật liệu tvl tăng nhanh đồng thời tốc độ sấy
U s cũng tăng nhanh đồng thời tốc độ sấy Us cũng tăng nhanh nhưng độ ẩm vật liệu w
vl giảm không đáng kể (đoạn AB).
Giai đoạn thứ hai ứng với thời gian t 1 ở giai đoạn này tốc độ sấy không đổi.
Toàn bộ nhiệt từ không khí truyền vào cho vật liệu dùng để bốc hơi nước. Nhiệt độ của
vật liệu hầu như không đổi và bằng nhiệt độ hơi nước bốc ra, độ ẩm vật liệu giảm
xuống rất nhanh (đoạn BC).
Tốc độ sấy không đổi là do trong vật liệu còn nhiều nước, lượng ẩm rời đến bề mặt vật
liệu để bốc hơi tương ứng với lượng ẩm đã bốc hơi trên bề mặt. Giai đoạn này chủ yếu
làm tách lượng nước tự do trong vật liệu, nước bay hơi ra khỏi bề mặt tương tự như khi
bay hơi từ mặt nước tự do.
Giai đoạn cuối ứng với thời gian t 2.
Ở giai đoạn này tốc độ sấy giảm, độ ẩm của vật liệu cũng giảm dần (đoạn CD), trong
khi đó nhiệt độ vật liệu tăng dần. Giai đoạn này diễn ra cho đến khi vật liệu có độ ẩm
cân bằng (ứng với điểm D) thì tốc độ sấy bằng 0, quá trình sấy dừng lại.
Nguyên nhân làm cho vận tốc sấy giảm là do vật liệu đã khô hơn, tốc độ khuếch tán
ẩm trong vật liệu nhỏ hơn tốc độ bay hơi nước trên bề mặt do phải khắc phục trở lực
giảm chất lượng hạt do nhiệt và không ngắn
quá mức làm giảm chất lượng hạt do tốc độ giảm ẩm quá nhanh
1.1.2. Các phương pháp sấy.
Để tách ẩm ra khỏi sản phẩm, người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau như:
phương pháp cơ học (ép trên các máy ép hay máy ly tâm, hút ẩm bằng các máy bơm),
phương pháp hoá lý (dùng các chất hút ẩm canxi clorua, axit sunfuric, silicagen, ) và
phương pháp nhiệt (tách ẩm trong vật liệu sang dạng hơi nhờ có tác dụng của nhiệt).
Phương pháp tách ẩm bằng cơ học đơn giản và rẻ tiền nhất khó có thể tách hết được
lượng ẩm đạt yêu cầu bảo quản và thường làm biến dạng sản phẩm. Sấy bằng hoá lý là
phương pháp rất phức tạp, tốn kém và phải dùng các chất hấp thụ tương đối đắt tiền.
Vì vậy trong thực tế sản xuất phương pháp sấy bằng nhiệt được áp dụng có hiệu quả
nhất.
Sấy bằng nhiệt được chia làm 2 phương pháp : sấy tự nhiên và sấy nhân tạo.
1.1.2.1. Sấy tự nhiên.
Là phương pháp làm khô đơn giản nhất, bao gồm hong gió tự nhiên và phơi nắng.
-Hong gió tự nhiên thường áp dụng cho trường hợp sản phẩm mới thu hoạch có độ ẩm
cao với khối lượng không lớn. Do có độ ẩm cao nên áp suất hơi nước trên bề mặt sản
phẩm lớn hơn so với áp suất hơi nước riêng phần trong không khí làm cho nước trong
sản phẩm bốc hơi ra bên ngoài. Thời tiết càng khô ráo (áp suất hơi nước
trong không khí càng thấp) thì tốc độ bay hơi nước càng mạnh và ngược lại. Vì vậy khi
độ ẩm tương đối của không khí quá lớn đặc biệt khi sương mù thì việc hong gió sẽ
không có hiệu quả.
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản nhưng tốc độ bay hơi chậm, thời gian kéo dài
và khó giảm được độ ẩm tới mức cần thiết để bảo quản. Do đó phương pháp này chỉ
được áp dụng để làm giảm ẩm sơ bộ cho sản phẩm mới thu hoạch khi chưa kịp phơi
sấy để tránh sẩy ra thối mốc hay mọc mầm.
-Phơi nắng là phương pháp sấy tự nhiên lợi dụng nhiệt bức xạ của mặt trời để làm khô
sản phẩm. Nguyên lý của phương pháp sấy bằng ánh nắng mặt trời là sản phẩm hấp
thụ năng lượng bức xạ của các tia mặt trời làm tăng nhiệt độ và áp suất hơi trên bề mặt
do đó sảy ra quá trình bốc hơi nước từ hạt vào không khí làm hạt khô dần. Phương
giới hạn. Với những hạt như ngô, thóc thì độ ẩm giới hạn để bảo quản là 13 - 13,5%,
với những hạt có dầu như vừng, lạc thì độ ẩm giới hạn là 7 - 9%.
* Nhiệt độ hạt.
Khi nhiệt độ tăng thì cường độ hô hấp của hạt cũng tăng lên, nhưng ảnh hưởng của
nhiệt độ thường kém hiệu lực hơn so với ảnh hưởng của độ ẩm. Khi nhiệt độ tăng quá
nhiệt độ giới hạn thì cường độ hô hấp yếu đi và chức năng sống khác bị chậm lại. Nếu
tiếp tục tăng nhiệt độ thì hạt ngừng hô hấp (mất hoạt động sống). Cho nên, nhiệt độ sấy
quá lớn sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm và phát triển của hạt sau này do đó
quá trình sấy nhiệt độ hạt luôn phải nhỏ hơn nhiệt độ cho phép. Ví dụ nhiệt độ
cho phép đối với ngô giống là 500C và đối với ngô thịt là 50 – 55
Bảng nhiệt độ sấy cho phép và độ ẩm giới hạn
1.2.1. Thiết bị sấy ở Việt Nam.
1.2.1.1. Thiết bị sấy kiểu hầm.
Thiết bị sấy kiểu hầm.
1 - phễu đưa nguyên liệu 2 - Cửa thoát khí ẩm
3 - Nguyên liệu 4 - Lưới sàng 5 - Cửa lấy nguyên liệu
6 - quạt 7 - Buồng sấy 8 - Buồng đốt 9 - Van dẫn hướng
1.2.1.2. Thiết bị sấy băng tải
- Thiết bị
sấy kiểu băng tải
1- Phễu đổ nhiên liệu 2- Buồng sấy 3- Băng tải
4- Quạt đẩy 5- calorife 6- Cửa xả nguyên liệu
7- Cửa thoát khí thải
1.3. Kết luận và giải pháp.
Qua những phân tích trên cơ sở lý thuyết trên ta thấy nông sản dạng hạt sau khi thu
hoạch cần được sấy khô kịp thời trong mọi tình hình thời tiết. Tuy nhiên để đảm bảo
không bị thay đổi dinh dưỡng trong quá trình sấy thì mỗi loại nông sản cần một nhiệt
độ sấy nhất định. Đặc biệt với những hạt dùng làm hạt giống thì cần có nhiệt độ sấy rất
ổn định trong suốt quá trình sấy. Mặt khác dựa vào tình hình hiện nay của nước ta,
thiết bị sấy chưa nhiều hoặc chưa đảm bảo về mặt chất lượng sản phẩm sau khi sấy,
nhiệt độ đo được chia thành ba dải: nhiệt độ thấp, nhiệt độ trung bình và
cao.
Ở nhiệt độ trung bình và thấp: phương pháp thường đo là phương
pháp tiếp xúc nghĩa là các chuyển đổi được đặt trực tiếp ở ngay môi trường
cần đo.
Đối với nhiệt độ cao: đo bằng phương pháp không tiếp xúc, dụng cụ đặt ở
ngoài môi trường đo.
2.2.1.2. Các phương pháp đo tiếp xúc.
Phương pháp đo nhiệt độ trong công nghiệp thường được sử dụng là các
nhiệt kế tiếp xúc. Có hai loại nhiệt kế tiếp xúc, gồm:
- Nhiệt kế nhiệt điện trở
- Nhiệt kế nhiệt ngẫu
Ngoài ra đối với các ứng dụng đơn giản, dải nhiệt độ cỡ -55
0
C ÷ 200
0
C
hiện nay người ta thường ứng dụng các IC bán dẫn ứng dụng tính chất nhạy
nhiệt của các điốt, tranzito để đo nhiệt độ.
Cấu tạo của nhiệt kế nhiệt điện trở và cặp nhiệt ngẫu cũng như cách lắp
ghép chúng phải đảm bảo tính chất trao đổi nhiệt tốt giữa chuyển đổi với
môi trường đo:
- Đối với môi trường khí và nước: chuyển đổi được đặt theo hướng
ngược lại với dòng chảy.
- Với vật rắn khí: đặt nhiệt kế sát vào vật, nhiệt lượng sẽ truyền từ vật
sang chuyển đổi và dễ gây tổn hao vật, nhất là với vật dẫn nhiệt kém. Do
vậy diện tiếp xúc giữa vật đo và nhiệt kế càng lớn càng tốt.
- Khi đo nhiệt độ của các chất ở dạng hạt (cát, đất ): cần phải cắm sâu
nhiệt kế vào môi trường cần đo và thường dùng nhiệt điện trở có cáp nối ra
ngoài.
Đầu ra của cặp nhiệt ngẫu được nối vào hộp đầu nối 4. Mạch đo của nhiết kế
nhiệt ngẫu là miliVônmét hoặc điện thế kế điện trở nhỏ có giới hạn đo từ 0
÷
100mV.
Nếu đo sức điện động nhiệt điện bằng miliVônmét sẽ gây sai số do nhiệt độ
của mạch đo thay đổi. Dòng điện chạy qua chỉ thị lúc đó là :
I = E
R
T
+ R
d
+
R
dc
trong đó: E - Sức điện động;
R
T
- điện trở cặp nhiệt
R
d
- điện trở đường dây;
R
dc
- điện trở của
miliVônmét
Điện áp rơi trên
miliVônmét là:
50 lần), vì vậy sai số chủ yếu do điện
trở của miliVônmét R
dc
thay đổi.
Đo sức điện động bằng điện thế kế sẽ loại trừ được sai số trên do dòng
điện tiêu thụ bằng không khi tiến hành phép đo.
b) Khắc phục sai số do nhiệt độ đầu tự do thay đổi: bằng cách dùng
mạch bù sai số nhiệt độ như hình sau:
Mạch bù sai số nhiệt độ do nhiệt độ đầu tự do thay đổi
trong nhiệt kế cặp nhiệt ngẫu
Cặp nhiệt ngẫu mắc nối tiếp vào đường chéo cầu một chiều tại điểm A -
B, trong đó R
t
- nhiệt điện trở tạo thành nhánh cầu. Điện trở R
t
được mắc
cùng vị trí với đầu tự do cặp nhiệt ngẫu và có nhiệt độ t
0
. Cầu được tính
toán sao cho khi nhiệt độ t
0
= 0
0
C thì điện áp ra trên đường chéo cầu ∆U =
0.
Khi nhiệt độ đầu tự do thay đổi đến t'
0
≠ t
0
thì điện áp ra của cầu ∆U ≠ 0
- hằng số thời gian của cặp nhiệt ngẫu.
Dựa trên quan hệ này có thể xác định được nhiệt độ của đối tượng đo mà
không cần nhiệt độ đầu công tác của cặp nhiệt ngẫu phải đạt đến nhiệt độ ấy
bằng cách nhúng nhiệt ngẫu vào môi trường cần đo trong khoảng 0,4
÷
0,6
s ta sẽ được phần đầu của đặc tính quá trình quá độ của nhiệt ngẫu và theo
đó tính được nhiệt độ của môi trường.
2. Đặc điểm: nếu nhiệt độ đầu công tác của cặp nhiệt ngẫu trong thời gian
nhúng vào môi trường cần đo đạt nhiệt độ vào khoảng một nửa nhiệt độ
môi trường thì nhiệt độ tính được có sai số không quá hai lần sai số của
nhiệt kế nhiệt ngẫu đo trực tiếp. Phương pháp này thường dùng để đo nhiệt
độ của thép nấu chảy
2.2.1.4. Đo nhiệt độ dùng các phần tử bán dẫn (điốt và tranzito):
1. Nguyên lý hoạt động: các linh kiện điện tử bán dẫn rất nhạy cảm với
nhiệt độ, do đó có thể sử dụng một số linh kiện bán dẫn như điốt hoặc
tranzito nối theo kiểu điốt (nối bazơ với colectơ), khi đó điện áp giữa hai
cực U là hàm của nhiệt độ. Để tăng độ tuyến tính, độ ổn định và khả năng
thay thế người ta mắc theo sơ đồ hình sau:
Sơ đồ mạch nguyên lý của IC bán dẫn đo nhiệt độ
Hiện nay các cảm biến đo nhiệt độ sử dụng điốt hoặc tranzito đã
được tích hợp thành các IC bán dẫn đo nhiệt độ. Các cảm biến này cho đầu
ra là điện áp hoặc dòng điện tỉ lệ với nhiệt độ cần đo với độ tuyến tính cao,
sử dụng đơn giản.
Ví dụ một số loại IC đo nhiệt độ:
Loại IC Độ nhạy S Dải đo
AD592CN 1µA/
0
K -25
0
- Nhược điểm: giới hạn phạm vi sử dụng chỉ trong khoảng -50
0
C ÷
150
0
C, do giới hạn chịu nhiệt của các phần tử bán dẫn.
3. Mạch đo: dưới đây là ví dụ một số mạch đo cơ bản sử dụng IC bán dẫn
AD590 đo nhiệt độ:
- Mạch đo cơ bản:
Mạch đo cơ bản ứng dụng IC bán dẫn AD590 đo nhiệt độ
- Mạch đo giá trị nhiệt độ trung bình, đo giá trị nhiệt độ nhỏ nhất của nhiều
điểm đo cùng một lúc, đo chênh lệch nhiệt độ giữa hai điểm đo:
a) b) c)
Mạch đo nhiệt độ cực tiểu (a); đo nhiệt độ trung bình (b); đo chênh lệch
nhiệt độ (c) của nhiều điểm đo.
- Mạch tự động bù nhiệt độ đầu tự do cho cặp nhiệt:
Mạch tự động bù nhiệt độ đầu tự do của cặp nhiệt
2.2.1.5. Đo nhiệt độ bằng phương pháp không tiếp xúc.
1. Phương pháp hỏa quang kế:
Đây là phương pháp dựa trên định luật bức xạ của vật đen tuyệt đối, tức
là vật hấp thụ năng lượng theo mọi hướng với khả năng lớn nhất. Bức xạ
nhiệt của mọi vật thể có thể đặc trưng bằng một mật độ phổ E
ë
nghĩa là số
năng lượng bức xạ trong một đơn vị thời gian với một đơn vị diện tích
của vật và xảy ra trên một đơn vị của độ dài sóng.
Tùy theo đại lượng vào ta gọi dụng cụ đo theo phương pháp trên bằng
tên gọi khác nhau như: hoả quang kế phát xạ, hoả quang kế cường độ sáng
và hoả quang kế màu sắc.
a) Hoả quang kế phát xạ:
từ đối tượng đo đến dụng cụ phải trùm hết tầm nhìn ống kính ngắm của
nhiệt kế (vòng tròn có đường kính D).
Nhược điểm của tất cả các loại hoả quang kế phát xạ là đối tượng đo
không phải là vật đen tuyệt đối do đó trong vật nóng có sự phát xạ nội tại
và dòng phát xạ nhiệt đi qua bề mặt. Nhiệt độ của đối tượng đo khi dùng
hoả quang kế phát xạ T
t
bao giờ cũng nhỏ hơn nhiệt độ lý thuyết tính
toán T
p
, ví dụ đối với thép sự
khác nhau giữa T
p
và T
t
đạt đến 1,70C.
b) Hoả quang kế cường độ sáng:
Nguyên lý làm việc của hoả quang kế cường độ sáng: là so sánh
cường độ sáng của đối tượng đo nhiệt độ với cường độ sáng của nguồn
sáng chuẩn trong dải phổ hẹp. Nguồn sáng chuẩn là một bóng đèn sợi đốt
vonfram sau khi đã được già hoá trong khoảng 100 giờ với nhiệt độ
2000
0
C. Sự phát sáng của đèn đã ổn định nếu sử dụng ở nhiệt độ từ
1400
0
C
÷
1500
0
cách lần lượt cho ánh sáng từ đối tượng đo và đèn chiếu vào tế bào quang
điện nhờ tấm chắn 3 và sự di chuyển tấm chắn phần ứng điện từ 9 của
chuyển đổi ngược với tần số 50Hz.
Hỏa quang kế cường độ sáng tự động cân bằng:
a) sơ đồ nguyên lý
b) dòng sáng
Ö
1
và
Ö
2
của đối tượng đo và đèn mẫu lệch pha nhau
180
0
Khi ánh sáng của đối tượng đo 1 và đèn 10 bằng nhau, dòng điện ra của
tế bào quang điện không thay đổi. Nếu ánh sáng của đối tượng đo 1 và đèn
sợi đốt 10 khác nhau, dòng điện ra của tế bào sẽ thay đổi, dòng điện sẽ
làm cho ánh sáng đèn 10 thay đổi cho đến khi bằng độ sáng của đối tượng
đo.
Miliampemét được khắc trực tiếp giá trị nhiệt độ cho ta biết nhiệt độ đo
được. Hoả quang kế loại này có độ chính xác cao (sai số cơ bản ±1%)
trong dải nhiệt độ 900
÷
2200
0
C.
c) Hoả quang kế màu sắc:
Nguyên lý hoạt động: hoả quang kế màu sắc là dụng cụ đo nhiệt độ dựa
trên phương pháp đo tỉ số cường độ bức xạ của hai ánh sáng có bước sóng
khác nhau ë
Sơ đồ nguyên lý của hoả quang kế màu sắc dùng tế bào quang điện
Cường độ bức xạ từ đối tượng đo A qua hệ thấu kính 1 tập trung ánh sáng trên
đĩa 2. Đĩa này quay quanh trục nhờ động cơ 3.
Sau khi ánh sáng qua đĩa 2 đi vào tế bào quang điện 4, trên đĩa khoan
một số lỗ, trong đó một nửa đặt bộ lọc ánh sáng đỏ (LĐ) còn nửa kia dặt bộ
lọc ánh sáng xanh (LX). Khi đĩa quay tế bào quang điện lâng lượt nhận
được ánh sáng đỏ và xanh với tần số nhất định tuỳ theo tốc độ quay của
động cơ. Dòng quang điện được khuếch đại nhờ bộ khuếch đại 5 sau đó đưa
vào bộ chỉnh lưu pha 7.
Nhờ bộ chuyển mạch 8 tín hiệu được chia thành hai thành phần tuỳ theo
ánh sáng vào tế boà quang điện là xanh hay đỏ. Hai tín hiệu này được đo
bằng bộ chia 9.
Tuỳ theo cường độ bức xạ của đối tượng đo, độ nhạy của khuếch đại được
điều chỉnh tự động nhờ thiết bị 6.
Bộ chia thường là lôgômét từ điện, góc quay của nó tỉ lệ với nhiệt độ đo
và bộ chuyển mạch là các rơle phân cực, làm việc đồng bộ với đĩa quay,
nghĩa là sự chuyển mạch của khung lôgômét xảy ra đồng thời với sự
thay đổi bộ lọc ánh sáng mà dòng bức xạ đặt lên tế bào quang điện.
Đặc điểm: phương pháp đo nhiệt độ bằng hỏa quang kế màu sắc có ưu
điểm là trong quá trình đo không phụ thuộc vào khoảng cách từ vị trí đo
đến đối tượng đo và không phụ thuộc vào sự bức xạ của môi trường.
Nhược điểm của hoả quang kế màu sắc là chúng tương đối phức tạp
2.2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU KHIỂN NHIỆT ĐỘ
1 Điều khiển on-off
Đây là loại điều khiển tương đối đơn giản nhất, được dung trong các
loại sarmn phẩm phục vụ cho gia đình như máy điều hòa nhiệt độ, lò sấy… Khi lò
nhiệt có nhiệt độ nhỏ hơn giá trị nhiệt độ đặt, bộ nhiệt sẽ baaht lên với công suất
cực đại. Khi lò nhiệt có nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ đặt, bộ nhiệt sẽ tắt lò. Qúa trình
ON-OFF lò nhiệt diễn ra với hía trị sai số cho phép nhằm ngăn ngừa nhiễu trong
quá trình bật tắt lò nhiệt quá nhanh khi nhiệt độ lò quá nhanh khi nhiệt độ lò gần
điện trở sấy( điện trở đốt nóng)
sóng vi ba
Lò đốt khí dầu
Và một số phươnng pháp thủ công khác ….
1.1, sử dụng điện trở sấy
23
BÀI TẬP LỚN ĐIỀU KHIỂN NHIỆT ĐỘ LÒ SÂY NÔNG SẢN DẠNG HẠT NHÓM THỰC HIỆN 5
ứng dụng dựa trên nguyên lý của định luật Jun-Len-xơ “Nhiệt lượng tỏa ra ở dây
dẫn khi có dòng điện chạy qua tỉ lệ thuận với bình phương cường độ dòng điện,
điện trở dây dẫn và thời gian dòng điện chạy qua”.
Và hệ thức của định luật: Q = I²Rt
Như vậy chúng ta có thể dễ dàng điều khiển được nhiệt độ của lò sấy thông việc
điều chỉnh dòng điên hoặc điên áp.
Với mức độ công nghệ hiện nay chúng ta có thể dung các mạch điều khiển nhiệt
độ đơn giản sử dụng loại IC, PLC…
1.1.1 Ưu điểm của lò điện so với các lò sử dụng nhiên liệu
Có khả nhiệt độ cao
Đảm bảo tốc độ nung lớn và hiệu suất cao
Đảm bảo nung đều và chính xác( do dễ điều chỉnh nhiệt độ)
Kín
Có khả năng cơ khí hóa và tự động hóa
Bảo đảm điều kiện lao động hợp vệ sinh, điều kiện thao tác tốt, thiết bị gọn nhẹ
1.1.2 Nhược điểm của là sử dụng điện trở
Năng lượng điện đắt
Yêu cầu có trình độ cao khi sủ dụng
Để có thể tiết kiệm năng lượng cần có bộ
1.1.3 Vật liệu làm dây nung
1.2.1 Yêu cầu của vật liệu làm dây nung
Dây nung là bộ phận phátnnhiệt của lò, làm việc trong điều kiện kiện khắc
nghiệt do đó đòi hỏi phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Nhiệt cung cấp không đều
2, VỎ LÒ
25