TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Khoa Mác - Lênin ThS Nguyễn Anh Cường (chủ biên), ThS Vũ Kiến Quốc,
ThS Nguyễn Thị Ngọc Dung, CN Trần Thị Ngọc Thuý
LỊCH SỬ
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
(Đề cương bài giảng) Hà Nội 2007
đường lối, chủ trương, chính sách.
- Chức năng giáo dục: giáo dục tư tưởng chính trị, tham gia vào giải quyết những nhiệm vụ hiện tại.
Trau dồi thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhiệm vụ
- Làm sáng tỏ điều kiện lịch sử, quá trình ra đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam - bộ tham mưu
chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
- Làm rõ quá trình trưởng thành, phát triển của Đảng gắn liền với hoạt động xây dựng một chính đảng
cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Trình bày quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng
trong những bối cảnh lịch sử cụ thể.
- Trình bày các phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng tổ chức và lãnh đạo.
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
3
- Tổng kết những kinh nghiệm lịch sử Đảng.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp cụ thể
- Phương pháp lịch sử: là phương pháp chung nhất, nghiên cứu sự vật, hiện tượng theo trình tự thời
gian, quá trình diễn biến, đi từ phát sinh, phát triển đến hệ quả của nó.
- Phương pháp logíc: nghiên cứu một cách tổng quát, nhằm tìm ra được cái bản chất của sự vật, hiện
tượng và khái quát thành lý luận.
- Ngoài ra, một số phương pháp khác như: phương pháp lịch đại, phương pháp đồng đại, phương pháp
so sánh … cũng được sử dụng để làm sáng tỏ những nội dung có liên quan.
- Trong nghiên cứu lịch sử Đảng phải luôn luôn quán triệt nguyên tắc: tính khoa học thống nhất với tính
Đảng; quan điểm lịch sử cụ thể; tính thực tiễn.
4. Ý nghĩa thực tiễn
+ Bản chất của chủ nghĩa đế quốc là chiến tranh, là xâm lược thuộc địa. Bởi vì, nền kinh tế hàng hoá
phát triển mạnh đặt ra nhu cầu bức thiết về thị trường, nguyên liệu và nhân công, khiến các nước đế quốc cạnh
tranh, giành giật thuộc địa và khu vực phụ thuộc. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược
các quốc gia phong kiến ở phương Đông và châu Phi.
+ Các đế quốc lớn như: Mỹ, Anh, Pháp… đã xâm chiếm hầu hết các nước nhỏ, yếu trên thế giới và biến
các nước này thành thuộc địa của họ. Đến năm 1914, các nước đế quốc đã thực hiện xong mục đích đặt ách
thống trị trên một bộ phận lớn của thế giới. Đám mây đen của chủ nghĩa đế quốc đã bao trùm toàn thế giới.
- Sự xâm chiếm, khai thác và nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đã dẫn tới mâu thuẫn gay gắt
giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc. Do đó, chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập cho các dân
tộc thuộc địa trở thành một nội dung lớn của phong trào cách mạng thế giới, nhất là các nước châu Á, trong đó
có Việt Nam.
- Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917) thành công đã làm biến đổi căn bản tình hình thế giới. Nó
không chỉ tác động sâu sắc đến phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản, mà còn lan toả sâu rộng tới các
nước thuộc địa, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên tự giải phóng mình.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá rộng rãi, dẫn đến sự
ra đời của các Đảng Cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa và thuộc địa (Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng
Cộng sản Anh (1920), Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921)…
- Quốc tế Cộng sản được thành lập vào tháng 3-1919 đã trở thành bộ tham mưu cho phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế. Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin
được công bố tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản (1920) đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng mình cho các
dân tộc bị áp bức.
2. Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam
a. Chính sách thống trị của thực dân Pháp
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
5
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Pháp thôn tính Việt Nam vào đúng lúc chế độ
phong kiến Việt Nam đang suy tàn. Mâu thuẫn giữa nông dân và phong kiến đang gay gắt. Hàng loạt các cuộc
nổi dậy của nhân dân chống lại triều đình đang diễn ra.
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
6
- Khuyến khích văn hoá độc hại, xuyên tạc lịch sử và giá trị văn hoá Việt Nam, gây tâm lý tự ti, vong
bản.
- Bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng văn hoá tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam.
- Dùng rượu cồn, thuốc phiện… đầu độc các tầng lớp nhân dân, khuyến khích các hoạt động mê tín dị
đoan, đồi phong bại tục.
Tóm lại, dưới danh nghĩa những người đi khai hoá văn minh, thực dân Pháp đã thực hiện ở Việt Nam
một chế độ cai trị hà khắc, nhằm nô dịch nhân dân ta về chính trị, văn hoá và bóc lột về kinh tế. Mặc dù vậy, sự
thống trị của người Pháp từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về khách quan đã tạo nên sự chuyển biến xã hội,
giai cấp của Việt Nam.
b. Hậu quả chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với xã hội Việt Nam
Về kinh tế
- Nền kinh tế què quặt, bị kìm hãm nặng nề và tiến triển chậm chạp, mang tính tư bản thực dân, song
đồng thời mang tính chất phong kiến.
- Quan hệ kinh tế phong kiến ở nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị, những trung tâm kinh
tế và tụ điểm dân cư mới.
- Tạo nên những biến đổi trong cơ cấu kinh tế; sự ra đời những ngành kinh tế công nghiệp, khai thác
mỏ, giao thông vận tải, thương nghiệp; trong nông nghiệp xuất hiện kinh tế đồn điền, kinh doanh theo lối tư bản.
Về xã hội
Trong cơ cấu xã hội có sự thay đổi. Bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân (hai giai
cấp cũ), xuất hiện những giai cấp, tầng lớp mới, với thái độ chính trị khác nhau:
-Giai cấp địa chủ, phong kiến
Trước sau vẫn được thực dân Pháp dung dưỡng để làm chỗ dựa cho chính sách thống trị.
Dưới ảnh hưởng của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ, phong kiến
chia làm ba bộ phận: tiểu, trung và đại địa chủ.
Một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc
về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai.
- Giai cấp nông dân
- Tầng lớp tiểu tư sản
+ Bao gồm trí thức, học sinh, sinh viên, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, những người
buôn làm nghề tự do.
+ Họ có cuộc sống bấp bênh, luôn bị thực dân chèn ép, bóc lột.
+ Nhưng họ có sự nhạy bén về chính trị, nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ, hăng hái tham gia cách
mạng.
+ Có tinh thần dân tộc cao, khát khao độc lập, tự do. Nhưng họ chỉ là tầng lớp trung gian trong kết cấu
xã hội mới; dao động trước khó khăn, kém bền bỉ, dễ thoả hiệp, lập trường giai cấp không vững vàng, dễ thay
đổi.
+ Đây là lực lượng quan trọng của cách mạng.
- Giai cấp công nhân
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
8
+ Giai cấp này ra đời do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, chỉ chiếm khoảng 1%
dân số, phát triển nhanh sau chiến tranh thế giới thứ nhất (năm 1914 có 10 vạn; năm 1929 có 22 vạn, trong đó
60% là công nhân mỏ than, còn lại là công nhân đồn điền).
+ Ngoài đặc điểm chung của giai cấp công nhân thế giới, đó là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại
diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để, lại
mang bản chất quốc tế họ còn có đặc điểm riêng, đặc trưng của giai cấp công nhân Việt Nam:
1. Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc nên nội bộ thuần nhất, thống nhất.
2. Chịu ba tầng áp bức (đế quốc, phong kiến, tư sản bản xứ).
3. Phần lớn xuất thân từ giai cấp nông dân, bị bần cùng hoá, bị cướp ruộng đất, xô đẩy vào con
đường không lối thoát, phải bán sức lao động nên họ có quan hệ mật thiết, máu thịt với nông dân nên dễ hình
thành liên minh công – nông.
4. Trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công
nghiệp và các đồn điền.
5. Sinh ra và lớn lên ở đất nước giàu truyền thống cách mạng, nên đã được hun đúc chủ nghĩa anh
hùng cách mạng.
của lịch sử đề ra.
- Phan Bội Châu (1867-1940) chủ trương dựa vào sự giúp đỡ ở bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản để đánh
Pháp, giành độc lập dân tộc. Ông lập ra Hội Duy tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908), thành
lập Việt Nam Quang phục Hội (1912) tại Trung Quốc với tư tưởng võ trang bạo động đánh Pháp, nhưng đều
không thành công.
- Phan Châu Trinh (1872-1926) chủ trương dùng cải cách văn hoá, mở mang dân trí, phát triển kinh tế
theo hướng tư bản chủ nghĩa, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam. Ở Bắc Kỳ có mở
trường học tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. Ở Trung Kỳ có phong trào Duy tân kết hợp với
phong trào đấu tranh chống thuế (1908).
- Phong trào quốc gia cải lương (1919-1923)
Phong trào do một bộ phận của giai cấp tư sản và địa chủ lớp trên lãnh đạo. Họ hăng hái bước lên vũ đài
chính trị, bắt đầu từ mục tiêu kinh tế, vận động chấn hưng hàng nội hoá, bài trừ ngoại hoá, chống độc quyền.
Sau đó, phong trào tiến dần đến những mục tiêu chính trị, nhưng theo xu thế cải lương. Thể hiện qua một số
phong trào tiêu biểu sau:
+ Năm 1919, phong trào tẩy chay Hoa kiều, bài trừ hàng hoá ngoại, chấn hưng hàng nội hoá.
+ Năm 1923, phong trào chống độc quyền xuất khẩu gạo của Pháp ở cảng Sài Gòn.
+ Cuộc đấu tranh của Đảng Lập hiến (1923) do Bùi Quang Chiêu đứng đầu, tập hợp tư sản và địa chủ
lớp trên, đòi mở rộng các quyền tự do, dân chủ, tham gia các hoạt động chính trị. Nhưng khi thực dân Pháp ban
cho một số quyền lợi, thì Đảng này đi vào con đường đầu hàng, thoả hiệp, rồi đi đến cộng tác với đế quốc.
- Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925-1926)
+ Đây là phong trào của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới. Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị như:
Việt Nam nghĩa hoà đoàn (1925), Phục Việt (1925), Hưng Nam (1925), Thanh niên cao vọng (1926)
+ Họ xuất bản một số tờ báo tiến bộ như Chuông rạn, Người nhà quê, An Nam trẻ… với một loạt các
nhà xuất bản như: Nam đồng thư xã (Hà Nội), Cường học thư xã (Sài Gòn), Quan hải tùng thư (Huế)…
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
10
+ Thông qua sách báo để tuyên truyền tư tưởng yêu nước và lập trường chính trị của mình, tiến hành
những cuộc vận động văn hoá tiến bộ, tuyên truyền rộng rãi những tư tưởng tự do, dân chủ.
khuất, giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào, Nguyễn Ái Quốc đã sớm có chí
đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc.
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
11
- Trăn trở với vận nước và sự nghiệp cứu nước không thành của các bậc tiền bối, ngày 5-6-1911,
Nguyễn Ái Quốc quyết ra đi tìm đường cứu nước. Khác với những người đi trước, Nguyễn Ái Quốc lên đường
đi sang phương Tây, nơi có khoa học - kỹ thuật phát triển, có những tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, bác ái,
xem họ làm thế nào để trở nên độc lập, hùng cường, rồi trở về để giúp đồng bào đấu tranh cho nền độc lập của
Việt Nam.
- Nguyễn Ái Quốc đã sang Pháp, đi qua nhiều nước thuộc địa của Pháp ở châu Phi, sang Mỹ (1912) và
qua nhiều nước ở châu Mỹ, đến nước Anh (1913) và năm 1917 trở lại Phá. Người đã chứng kiến cuộc chiến
tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), quan sát, tìm hiểu về chủ nghĩa tư bản, đế quốc, chính sách thực dân ở các
thuộc địa, cuộc sống của nhân dân các thuộc địa. Bản thân tham gia lao động và đấu tranh trong hàng ngũ giai
cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc đủ các màu da.
- Đây là thời kỳ kết hợp nguyên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn trong hoạt động của Nguyễn Ái Quốc.
Người đã khảo sát một số cuộc cách mạng tiêu biểu đã có trên thế giới như cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp.
Qua đó, Người rút ra những kết luận quan trọng trong nhận thức và hành động:
+ “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị
bóc lột. Mà chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”.
+ Tìm ra hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách mạng không giải phóng được công
nông và quần chúng lao động. Cách mạng tư sản là “những cuộc cách mạng không đến nơi”, không triệt để. Và
như vậy, “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền
giao cho dân chúng số nhiều…Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.
- Cuối năm 1917, Người trở lại Pháp. Tại đây, Người lập ra Hội những người Việt Nam yêu nước với tờ
báo Việt Nam hồn để tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước cho Việt kiều ở Pháp. Trong lúc đó, Cách mạng
Tháng Mười Nga bùng nổ. Với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt, Người hướng tới và chịu ảnh hưởng sâu sắc của
cuộc cách mạng vĩ đại đó.
- Đầu năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất ở Pháp lúc đó.
Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản lần đầu năm 1925 tại Pari.
- Từ tháng 6-1923 đến cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu và hoạt động ở Liên Xô, dự Hội
nghị quốc tế nông dân (10-1923), Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và nhiều đại hội quốc tế quan trọng
khác. Người viết nhiều bài đăng trên các báo của Liên Xô, của Quốc tế Cộng sản… Đây là những năm tháng
Người có dịp đi sâu nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga, nghiên cứu xây dựng lý
luận và tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc. Tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc đã hình
thành về cơ bản.
- Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người tham gia sáng lập
Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức.
- Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, hạt nhân là Cộng sản
đoàn, xuất bản báo Thanh niên, huấn luyện cán bộ, viết tác phẩm Đường cách mệnh (xuất bản năm 1927). Đây
là bước chuẩn bị về mặt tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng và xây dựng hệ thống tổ chức trong nước, chuẩn bị tích cực
cho việc thành lập Đảng.
- Hệ thống quan điểm và lý luận về cách mạng Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc được thể hiện khá hoàn
chỉnh qua các tác phẩm, bài viết của Người trong chặng đường hoạt động từ năm 1921 đến 1927. Nội dung hệ
thống quan điểm đó là:
+ Vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân. Từ đó xác định: chủ nghĩa thực dân là kẻ thù
chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, là kẻ thù trực tiếp của nhân dân các nước
thuộc địa.
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
13
+ Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cách mạng của thời đại – cách mạng vô sản. Giải phóng
dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
+ Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở các nước tư bản (“chính
quốc”) có quan hệ khăng khít với nhau. Phải thực hiện liên minh chiến đấu giữa các lực lượng cách mạng ở
thuộc địa và “chính quốc”. Cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc”, mà có
tính chủ động, độc lập và có thể thành công trước.
14
- Giai cấp công nhân đã tổ chức đấu tranh ngay từ khi ra đời. Trước chiến tranh thế giới thứ nhất phong
trào diễn ra với những hình thức sơ khai như bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh cai ký, đưa đơn
phản kháng rồi tiến dần lên bãi công.
+ Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào đã có những bước phát triển mới. Từ năm 1919-1925, đã
nổ ra 25 cuộc bãi công, diễn ra trên quy mô lớn hơn và dài hơn.
+ Từ năm 1926-1929, phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự ra đời và hoạt động của Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong hai năm 1926-1927, mỗi năm có hàng chục cuộc đấu tranh. Trong hai
năm 1928-1929 nổ ra hơn 40 cuộc đấu tranh. Các cuộc đấu tranh đã kết hợp giữa khẩu hiệu kinh tế với khẩu
hiệu chính trị và vượt ra khỏi phạm vi của một nhà máy, đồn điền, thể hiện rõ rệt tinh thần đoàn kết giai cấp, ý
thức tổ chức của công nhân.
Tóm lại, phong trào công nhân đang phát triển mạnh mẽ, ngày càng quy tụ và dẫn đầu phong trào yêu
nước nói chung.
3. Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
Trước sự phát triển của các phong trào yêu nước, đặc biệt là phong trào công nhân cuối những năm 20 -
thế kỷ XX, những người lãnh đạo trong kỳ bộ Bắc Kỳ nhận ra sự cấp thiết phải thành lập một Đảng Cộng sản
thay cho Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, để tiếp tục đưa phong trào giải phóng dân tộc tiến lên. Yêu cầu
khách quan đó đã tác động vào các tổ chức tiền cộng sản, dẫn đến cuộc đấu tranh nội bộ và sự phân hoá tích cực
trong các tổ chức này, hình thành nên các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
Tháng 3-1929, một số phần tử tiên tiến họp ở số nhà 5Đ, phố Hàm Long (Hà Nội) để thành lập chi bộ
cộng sản đầu tiên, gồm 7 đảng viên, do Trần Văn Cung làm bí thư.
- Tháng 9-1929, tại Đại hội I của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ (do
Ngô Gia Tự dẫn đầu) đưa ra đề nghị giải tán tổ chức Thanh niên và thành lập Đảng Cộng sản. Nhưng đề nghị đó
không được chấp nhận, nên Đoàn đã rút khỏi Đại hội về nước.
- Đêm 17-6-1929, 20 đại biểu của Kỳ bộ Bắc Kỳ đã họp tại 312 phố Khâm Thiên tuyên bố thành lập
Đông Dương Cộng sản đảng. Hội nghị đã thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ và quyết định xuất bản báo Búa liềm
làm cơ quan ngôn luận của Đảng.
- Trước ảnh hưởng sâu rộng của Đông Dương Cộng sản đảng, Tổng bộ Thanh niên và Kỳ bộ Nam kỳ đã
quyết định thành lập An Nam Cộng sản đảng vào tháng 8-1929, xuất bản báo Đỏ làm cơ quan ngôn luận của
liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Người chủ động triệu tập đại biểu của hai nhóm Đông
Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng.
- Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã họp ở bán đảo Cửu
Long, Hương Cảng (Trung Quốc) bắt đầu vào ngày 6-1-1930
2
. Hội nghị nhất trí với đề nghị của Nguyễn Ái
Quốc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi
thảo. Đó là Cương lĩnh và điều lệ đầu tiên của Đảng.
2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
- Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “chủ trương làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
- Nhiệm vụ cụ thể của cách mạng là:
+ Về chính trị: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn
toàn độc lập”, “Dựng ra chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông”.
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, t1, tr 614
2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 1998, t2, tr 19
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
16
+ Về kinh tế: Tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc để giao cho chính phủ công nông
binh quản lý; thu hết ruộng đất của đế quốc làm của công và chia cho dân nghèo; mở mang công nghiệp và nông
nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm tám giờ.
+ Về văn hoá – xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo
hướng công nông hoá.
Những nhiệm vụ trên bao gồm hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến,
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt cuộc
khủng hoảng về đường lối cứu nước, là cơ sở dẫn đến những thắng lợi và những bước nhảy vọt lớn trong lịch sử
dân tộc những năm sau này.
- Với sự ra đời của Đảng, cách mạng Việt Nam đã trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới. Từ
đây, giai cấp công nhân, nhân dân lao động Việt Nam tham gia vào phong trào cách mạng thế giới một cách tự
giác và có tổ chức.
•
••
• Kết luận
- Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cũng là lúc Việt Nam Quốc dân Đảng tan rã, cùng với sự
thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái, sứ mệnh lịch sử của giai cấp tư sản kết thúc. Ngọn cờ phản đế, phản
phong được chuyển sang tay giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản trở thành người nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng
Việt Nam.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm lịch sử của cuộc đấu tranh dân tộc và giải quyết yêu cầu
của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Câu hỏi ôn tập
1. Đặc điểm nổi bật của thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ảnh hưởng tới cách mạng
Việt Nam?
2. Hậu quả của công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam?
3. Thái độ chính trị và khả năng cách mạng của mỗi giai cấp trong xã hội Việt Nam thuộc địa?
4. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX?
5. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX?
6. Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị tư
sản ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến đầu năm 1930?
7. Hệ thống quan điểm cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1920 – 1930?
5. Lê Mậu Hn, Các cơng lĩnh cách mạng của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.
6. Lê Mậu Hn, Đảng Cộng sản Việt Nam các Đại hội và Hội nghị Trung ơng, Nxb Chính trị Quốc
gia, HN, 2005.
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
19
Chương II
ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945) I. Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1935
1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930. Luận cương chính trị của Đảng
a. Nội dung Hội nghị
Tháng 4-1930, Trần Phú từ Liên Xô trở về nước hoạt động, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung
ương lâm thời. Đồng chí được phân công cùng Ban thường vụ Trung ương chuẩn bị cho kỳ họp thứ nhất và dự thảo
bản Luận cương chính trị.
Từ ngày 14 đến ngày 31-10-1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã được tiến hành
tại Hương Cảng (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Trần Phú. Nội dung hội nghị gồm những điểm chính sau:
- Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Thông qua Nghị quyết “Về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng” và Điều
lệ Đảng.
- Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm 6 uỷ viên
3
và cử đồng chí Trần Phú làm
Tổng bí thư.
+ Về quan hệ quốc tế: cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới có liên hệ chặt chẽ với nhau; giai
cấp vô sản Đông Dương phải có quan hệ đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô
sản Pháp.
+ Về vai trò của Đảng: điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có
một Đảng Cộng sản với một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng và
trải qua tranh đấu mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm
nền tảng.
- Nhận xét Luận cương:
+ Có thể thấy, Luận cương chính trị khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược cách mạng
mà Chánh cương vắt tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu như: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; mục tiêu chiến
lược của cách mạng; mối quan hệ quốc tế Ngoài ra, còn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của cách mạng Việt
Nam như: đề cập đến vấn đề thời cơ cách mạng, cụ thể bước tiến của cách mạng bằng bỏ qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, chỉ rõ nội dung xây dựng Đảng.
+ Tuy nhiên, Luận cương chưa phân tích và làm rõ được tính chất và đặc điểm của cách mạng ở một xã
hội Việt Nam thuộc địa, trong đó mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp xâm
lược, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu, nặng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng ruộng
đất; đánh giá không đúng vai trò cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc,
cường điệu mặt hạn chế của họ, chưa thấy được khả năng phân hoá và lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ
trong cách mạng giải phóng dân tộc, cho nên không đề ra liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh
chống đế quốc, tay sai.
- Nguyên nhân của những hạn chế:
+ Do nhận thức giáo điều và máy móc về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng
thuộc địa.
+ Không hiểu biết đầy đủ về tình hình và đặc điểm của xã hội, dân tộc, giai cấp ở Đông Dương.
+ Bị tác động trực tiếp của khuynh hướng “tả” của Quốc tế cộng sản và một số Đảng Cộng sản lúc đó.
2. Phong trào cách mạng Việt Nam những năm 1930-1935
a. Hoàn cảnh lịch sử
- Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 tàn phá kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa, chấm dứt thời kỳ ổn
định tạm thời của chủ nghĩa tư bản.
- Để cứu vãn tình hình, giai cấp tư sản trút gánh nặng này lên vai nhân dân các nước thuộc địa, làm cho
Từ tháng 5 đến tháng 9-1930
- Đây là thời kỳ phong trào phát triển thành cao trào.
+ Ngày 1-5, Đảng chủ trương phát động quần chúng đấu tranh trên phạm vi cả nước. Từ những cuộc
đấu tranh ban đầu đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ, phong trào tiến lên đấu tranh chính trị, nhiều cuộc biểu tình
có lực lượng tự vệ vũ trang bảo vệ. Phong trào đã lôi cuốn nhiều tầng lớp khác nhau tham gia. Công hội, Nông
hội, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội phụ nữ tiếp tục phát triển và phát huy vai trò của mình.
+ Riêng trong tháng 5-1930, trong cả nước có 16 cuộc đấu tranh của công nhân, 34 cuộc đấu tranh của
nông dân, 4 cuộc đấu tranh của học sinh và dân nghèo thành thị.
+ Từ tháng 6 đến tháng 8-1930 đã nổ ra 121 cuộc đấu tranh, trong đó có 22 cuộc của công nhân, 95
cuộc của nông dân.
- Phong trào cách mạng nổ ra sôi nổi và quyết liệt nhất ở Nghệ An và Hà Tĩnh với nhiều cuộc đấu tranh
quy mô lớn của nông dân dưới hình thức biểu tình có vũ trang tự vệ, kéo đến các huyện lỵ, đốt sổ sách, phá nhà
lao như: cuộc biểu tình của 3.000 nông dân Nam Đàn (30-8-1930); cuộc biểu tình của 20.000 của nông dân
Thanh Chương (1-9-1930); 3.000 nông dân Can Lộc (7-9-1930)
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
22
+ Tháng 9-1930, phong trào cách mạng phát triển đến đỉnh cao với những hình thức đấu tranh quyết
liệt. Quần chúng có vũ trang tự vệ tiến hành biểu tình thị uy, tiến công vào cơ quan chính quyền địch ở địa
phương.
+ Ngày 12-9-1930, cuộc biểu tình của 8.000 nông dân Hưng Nguyên bị Đế quốc Pháp và tay sai đàn áp
dã man (máy bay ném bom làm chết 171 người) như lửa đổ thêm dầu làm phong trào cách mạng bùng lên dữ
dội.
+ Trước sức mạnh của quần chúng, bộ máy chính quyền thực dân tay sai nhiều nơi bị tê liệt ở cấp huyện
và tan rã ở cấp xã. Cách mạng đã giành quyền làm chủ ở một số nơi. Các tổ chức Đảng ở những địa phương này
chủ động lãnh đạo các Ban Chấp hành nông hội đứng ra quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Các “khu đỏ” tự do
hình thành ở nhiều vùng nông thôn của Nghệ An, Hà Tĩnh như: Thanh Chương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Diễn
Châu, Can Lộc, Thạch Hà trong đó hình thành một chính quyền cách mạng của nông dân theo hình thức các
uỷ ban tự quản kiểu Xô-viết.
đúng về vấn đề đoàn kết dân tộc, về vai trò của hội phản đế đồng minh trong cách mạng ở thuộc địa. Tuy nhiên,
tư tưởng của chỉ thị mặc dù phù hợp với tình hình nhưng vẫn chưa thành tư tưởng chủ đạo của Ban Chấp hành
Trung ương lúc đó và ngày 9-12-1930, Ban thường vụ Trung ương lại quay lại nhấn mạnh chủ trương đấu tranh
giai cấp và phê phán quan điểm đặt vấn đề dân tộc lên hàng đầu của Hội nghị hợp nhất.
Từ đầu năm 1931, sự khủng bố của kẻ thù ngày càng dữ dội. Phong trào đấu tranh của quần chúng ngày
càng khó khăn và giảm sút dần. Tư tưởng hoang mang dao động đã xuất hiện trong quần chúng và cả một số
đảng viên. Xứ ủy Trung kỳ đã không nhận rõ nên đã đề ra chủ trương “thanh trừ trí, phú, địa, hào, đào tận gốc
trốc tận rễ” ra khỏi Đảng. làm cho Đảng và phong trào cách mạng càng thêm khó khăn.
Sự khủng bố ác liệt của kẻ địch làm cho phần lớn các cơ sở tổ chức của Đảng và quần chúng bị tan vỡ.
Lực lượng của Đảng bị tổn thất nặng nề. Xôviết và phong trào quần chúng dần lắng xuống.
- Ý nghĩa:
+ Khẳng định đường lối cách mạng do Đảng ta đề ra là đúng đắn.
+ Giai cấp công nhân đã thực hiện quyền lãnh đạo đối với cách mạng thông qua Đảng tiền phong của
mình.
+ Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, liên minh chiến đấu giữa công nhân- nông dân được thiết lập trên
thực tế.
+ Là cuộc tổng diễn tập lần thứ nhất của Đảng và quần chúng cách mạng về khởi nghĩa giành chính
quyền.
- Kinh nghiệm:
+ Trong mỗi thời kỳ cách mạng, phải biết căn cứ vào thực tế tình hình thế giới và trong nước, biết so
sánh lực lượng mà xác định mục tiêu cụ thể, trước mắt.
+ Khi chưa có tình thế cách mạng trực tiếp, phải biết sử dụng những hình thức và phương pháp cách
mạng thích hợp, không nhất thiết là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền.
+ Kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.
+ Trong đấu tranh phải kết hợp giữa phong trào cách mạng ở nông thôn và thành thị; kết hợp phong trào
đấu tranh của công nhân với phong trào của nông dân; xây dựng liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
+ Coi trọng công tác xây dựng Đảng, làm cho đảng viên thấm nhuần lập trường, quan điểm của giai cấp
công nhân; coi trọng nguyên tắc tổ chức và phương pháp làm việc; coi trọng khắc phục những khuynh hướng
“tả”, “hữu” xa rời lập trường, quan điểm, nguyên tắc tổ chức và đường lối đúng đắn của Đảng.
năm 1935 hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục. Đây là cơ sở để Đảng ta tiến tới Đại hội lần thứ nhất
của Đảng.
- Ý nghĩa
+ Đứng vững trong bão táp cách mạng và khủng bố trắng của kẻ thù, Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh cách mạng,
phát huy truyền thống bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam.
+ Thắng lợi về khôi phục hệ thống tổ chức và phong trào những năm 1932-1935 đã chuẩn bị cơ sở cho
phong trào cách mạng 1936-1939.
- Kinh nghiệm
+ Trong cuộc đọ sức quyết liệt với đế quốc, thực dân, sự hy sinh, tổn thất, thậm chí có lúc thất bại là
không tránh khỏi, nhưng phải kịp thời rút ra những kinh nghiệm sâu sắc của thời kỳ đã qua, giữ vững lòng tin
vào tiền đồ cách mạng, chống tâm lý bi quan, dao động, nêu cao khí tiết người cộng sản trước kẻ thù.
+ Khi so sánh lực lượng không có lợi cho cách mạng, Đảng phải đề ra chủ trương, khẩu hiệu, hình thức
tổ chức và đấu tranh thích hợp, giữ vững tổ chức bí mật, giữ vững mối liên hệ với quần chúng, tận dụng mọi khả
năng hợp pháp, nửa hợp pháp, tiếp tục lãnh đạo quần chúng đòi quyền dân sinh, dân chủ để khôi phục phong
trào, chuẩn bị cho bước phát triển mới của cách mạng.
3. Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng (3-1935)
a. Hoàn cảnh lịch sử
- Hệ thống tổ chức của Đảng được xây dựng và chắp nối lại
- Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng quyết định triệu tập đại hội Đảng
Đại học Thủy lợi - Đề cương bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Anh Cường, Vũ Kiến Quốc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Trần Thị Ngọc Thúy
25
- Đại hội họp ở Ma Cao (Trung Quốc), 13 đại biểu
b. Nội dung
- Nhận định tình hình:
+ Khẳng định thắng lợi của cuộc đấu tranh để khôi phục phong trào cách mạng và hệ thống tổ chức Đảng
+ Lực lượng Đảng chưa phát triển mạnh ở các vùng tập trung công nghiệp, công nhân gia nhập Đảng còn ít
+ Hệ thống tổ chức Đảng chưa thật thống nhất, sự liên hệ giữa các cấp bộ của Đảng chưa chặt chẽ v.v…
- Đề ra ba nhiệm vụ trước mắt: