Một số nhìn nhận về các Thoả thuận Thương mại Tự do Song phương
(FTAs) & các Thoả thuận Thương mại khu vực (RTAs)
Một thoả thuận thương mại tự do giữa các nước đang phát triển có thể giúp
tăng cường hợp tác khu vực giữa các nước này. Tuy nhiên một thoả thuận
thương mại tự do giữa một nước có trình độ phát triển cao với các nước đang
phát triển lại có thể gây ra tác động tiêu cực đối với người tiêu dùng, nông dân
và nhiều ngành khác nhau của khối nước đang phát triển.
Thông thường, các thoả thuận thương mại khu vực (RTAs) Nam – Nam (như
ASEAN, SADC, Mercosur và Caricom) là các thoả thuận giữa các nước láng giềng
có trình độ phát triển tương đối đồng đều. Trong khi đó, các thoả thuận thương mại
tự do song phương (FTAs) Bắc – Nam là các thoả thuận, theo đó một nước có trình
độ phát triển kinh tế vượt trội có thể thông qua hàng hoá và các doanh nghiệp của
mình thống lĩnh nền kinh tế của nước đang phát triển.
Tồn tại nhiều phương thức tiếp cận khác nhau đối với RTAs, cho dù đó là RTAs
Bắc – Nam hay là RTAs Nam – Nam, đặc biệt là đối với các khía cạnh liên quan
đến phát triển.
Số lượng RTAs đang tăng lên chóng mặt: hiện có 366 RTAs đã được thông báo tại
WTO, 214 RTAs đang còn hiệu lực và dự kiến sẽ có 400 RTAs vào năm 2010.
Những thế hệ RTAs ra đời sau ngày càng mở rộng phạm vi điều tiết của chúng
sang các lĩnh vực phi thương mại mới như đầu tư, cạnh tranh và sở hữu trí tuệ (IP).
Nhưng đồng thời một số khía cạnh của tự do hoá thương mại lại không được đưa
vào trong RTAs này. Ví dụ hiện hữu nhất là lĩnh vực trợ cấp nông nghiệp.
Các khía cạnh như đầu tư và sở hữu trí tuệ đem lại nhiều lợi ích cho các nước phát
triển được đưa vào RTAs (kể cả khi chúng bị loại trừ khỏi chương trình nghị sự
trong WTO), trong khi những khía cạnh đem lại nhiều lợi ích nhất cho các nước
đang phát triển như việc loại bỏ trợ cấp nông nghiệp thì lại bị lờ đi một cách có chủ
ý.
Sự bùng nổ của RTAs cũng phần nào cho thấy quan hệ mâu thuẫn giữa hệ thống
thương mại đa phương với nguyên tắc chủ đạo “không phân biệt đối xử” và RTAs
dựa trên nguyên lý phân biệt đối xử.
Trong RTAs Bắc – Nam, các nước đang phát triển bị hạn chế tiếp cận thị trường ở
những lĩnh vực có lợi nhất bởi sự né tránh từ phía các nước phát triển. Đáng chú ý
là vấn đề loại bỏ trợ cấp nông nghiệp đã không được đưa vào bàn đàm phán trong
FTAs Bắc – Nam với Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản và do vậy rào cản thương mại quan
trọng nhất đối với các nước đang phát triển chẳng hề nào lung lay.
Trong các FTA với Hoa Kỳ, những kết quả đạt được từ thương mại hàng dệt may
cũng bị hạn chế bởi nhiều rào cản thuế quan không được loại bỏ ngay tức thì và
những điều kiện giống kiểu quy tắc “yarn forward” (đối tác thương mại phải sử
dụng sợi do họ tự sản xuất hoặc được sản xuất tại Hoa Kỳ) cũng như những quy tắc
xuất xứ nghiêm ngặt khác. Tương tự như vậy, có rất ít lợi ích “WTO +” đạt được từ
tiến trình tự do hoá dịch vụ lao động trong FTAs với Hoa Kỳ. Ngược lại, các đối
tác đang phát triển bị yêu cầu mở cửa thị trường cực độ, vượt xa khỏi khuôn khổ
cam kết về hàng hoá và dịch vụ trong WTO. Những linh hoạt trong WTO như
nguyên tắc có đi có lại không đầy đủ và duy trì các mức thuế quan công nghiệp
không ràng buộc đều bị loại bỏ hầu hết hoặc hoàn toàn.
Trong lĩnh vực dịch vụ, Hoa Kỳ đề xuất sử dụng phương thức tiếp cận “chọn - bỏ”
trong FTAs. Phương pháp này có nhiều mặt hạn chế hơn so với phương pháp tiếp
cận “chọn - cho” trong WTO. Nhiều linh hoạt khác đối với các nước đang phát
triển trong GATS/WTO cũng bị loại bỏ.
Phương thức hiện diện thương mại trong thương mại dịch vụ cũng xuất hiện trong
chương đầu tư của FTAs với Hoa Kỳ, dẫn đến việc các cam kết dịch vụ này bị đặt
dưới cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nước sở tại, theo đó các nước
đang phát triển có nghĩa vụ pháp lý phải bồi thường thiệt hại khi tịch thu tài sản của
nhà đầu tư, bao gồm tịch thu gián tiếp – ám chỉ các quy định của chính phủ khiến
cho nhà đầu tư mất đi những khoản lợi nhuận của mình trong tương lai.
Thông qua FTAs các nước đang phát triển cũng phải mở cửa thị trường trong lĩnh
vực mua sắm chính phủ. Đối với một số nước thị trường này chiếm tới hơn 20%
GDP. Chương mua sắm chính phủ trong FTAs vượt xa khỏi khuôn khổ các đề xuất
trong WTO. Những đề xuất này vốn chỉ bao trùm các khía cạnh minh bạch hoá chứ
chưa đả động gì đến khía cạnh tiếp cận thị trường. Ngay cả khi mua sắm chính phủ
nông nghiệp – lĩnh vực nhạy cảm liên quan trực tiếp đến công ăn việc làm của
nhiều nông dân thuộc thế giới thứ ba). Trong nhiều trường hợp, các nước đang phát
triển bị yêu cầu phải thực thi các cam kết chỉ để duy trì mức độ tiếp cận thị trường
hiện hành của mình. Một nghiên cứu đánh giá tác động cho thấy Columbia trong
FTA với Hoa Kỳ có thể bị giảm 57% thu nhập và mất 35% công ăn việc làm trong
9 phân ngành nông nghiệp.
Về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, các nước phát triển đưa ra những điều khoản rất chặt chẽ
về sở hữu trí tuệ trong FTAs bởi được vận động hành lang mạnh mẽ từ những
ngành như dược phẩm, công nghệ sinh học, phim ảnh và công nghệ thông tin. Một
số FTAs không chỉ yêu cầu các nước đang phát triển thực thi các cam kết về sở hữu
trí tuệ vượt xa khỏi khuôn khổ Hiệp định TRIPS mà còn phải thông qua một loạt
các Hiệp định của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO).
Các phiên đàm phán trong vòng Đôha về RTAs chủ yếu tập trung vào hai loại vấn
đề: những vấn đề quy trình thủ tục (nhằm tăng cường tính minh bạch của RTAs và
cải thiện cách thức xem xét đánh giá và giám sát RTAs trong WTO) và những vấn
đề hệ thống (làm rõ và cải thiện những quy tắc hiện hành trong WTO về RTAs).
Đối với các vấn đề quy trình thủ tục, tồn tại một số vướng mắc sau: (1) thiếu một
quy trình giám sát hiệu quả RTAs trong WTO; (2) thiếu một báo cáo đánh giá về
tính đồng nhất của RTAs hiện hành; (3) nhiều RTA thậm chí chưa thông báo
WTO; và (4) thiếu tính minh bạch trong RTAs. Đối với các vấn đề hệ thống, tồn tại
một số vướng mắc sau: (1) Tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về Điều XXIV
GATT và Điều V GATS (liên quan đến RTAs); (2) Tồn tại nhiều khúc mắc về tính
mạch lạc giữa bản thân các quy tắc trong RTAs và giữa những quy tắc này với các
điều khoản khác trong WTO (ví dụ, thiếu định nghĩa rõ ràng về khái niệm “hầu hết
toàn bộ thương mại” trong Điều XXIV GATT); và (3) Tồn tại những xung đột và
trái ngược về mặt thể chế giữa RTAs và hệ thống thương mại đa phương.
Theo thông tin từ các quan chức của WTO, Đại hội đồng WTO đã thông qua cơ
chế minh bạch dành cho RTAs vào ngày 14/12/2006, theo đó làm rõ các điều
khoản về minh bạch hoá của RTAs hiện hành và thiết lập các hướng dẫn và yêu cầu
Ban Thư ký WTO chuẩn bị báo cáo về tất cả RTAs đã được thông báo. Tuy nhiên,