Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 1
Hình thái, Tập quán sinh hoạt, bệnh tật của loài nhím bờm
trong môi trờng nuôi nhốt
Võ Văn Sự, Nguyễn Hữu Khôi, Phùng Quang Trờng, Hà Văn Muồn,
Nguyễn Tuấn Thành , Phạm Ngọc Tuân, Nguyễn Sức Mạnh, Vơng Tuấn Thực,
Mai Văn Y, Bùi C, Nguyễn Gia Tôn
Bộ môn Đa dạng Sinh học và Động vật quý hiếm
Lời mở đầu
Nhím Bờm là một loài vật gặm nhấm, sống hoang d dọc ở các vùng đồi núi ở nhiều nơi
trong nớc ta, thờng hay phá phách nơng rẫy ngô, sắn, thịt ngon, đặc biệt là dạ dày
đợc biết có tác dụng chữa bệnh dạ dày (?), nên nhím thờng bị săn bắt, đánh bẫy.
Khoảng 10 năm gần đây, phong trào ăn thịt thú rừng nổi lên ở nớc ta, thì nhím cũng là
một đối tợng bị săn bắt nhiều.
Việc thuần hoá nhím bờm đợc bắt đầu từ năm 1989, và bây giờ đ trở thành phong trào.
Tuy vậy, những nghiên cứu về tập tính, giải phẩu, hình thái của nó lại rất ít. Tiểu đề tài:
Hình thái, giải phẩu, tập quán sinh hoạt, bệnh tật của loài nhím bờm trong môi trờng
nuôi nhốt nhằm tìm hiểu sâu hơn về hình thái, tập tính của nhím trong môi trờng nuôi
nhân tạo.
Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nớc và trong nớc
Theo Quỹ Động vật hoang d Nam Phi - African Wildlife Foundation, tại Nam Phi cũng
có loài nhím bờm (Crested porcupine). Đó là một trong những loại gặm nhấm to (thân dài
30 inch, ~ 75 cm) và nặng nhất Châu Phi (44 bảng, ~ 20 kg), tuy nhiên khá khác nhau về
kích thớc. Đầu hơi tròn, mũi ngắn, mắt và tai nhỏ. Chân nhím bờm ngắn, khoẻ. Bàn chân
có 5 ngón và đuợc bọc bằng các móng sắc, khoẻ mạnh. Lông tất nhiên cũng nh của các
loài nhím khác: sắc nhọn, chia thành các đoạn đen, nâu, hơi vàng và trắng. Lông lng, hai
do lông nhím đâm vào họng.
Nghiên cứu nhím ở Việt Nam
Theo Lê Hiền Hào (1973), nhím Bờm có tên khoa học là Acanthion subcristatum
(swinhoc), tiếng la tinh có nghĩa là: Quill pig (lợn lông) mặc dù nó chẳng phải là lợn,
tiếng Anh là Porcupine, tên tiếng Thái: Tô Mển, tiếng Giao: Điền dạy. Loài nhím Bờm có
ở một số nớc nh Nêpan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc
(ở tỉnh Thiểm Tây và các tỉnh phía nam lu vực sông Trờng Giang và có cả ở đảo Hải
Nam).
Nhím là loài thú phổ biến gặp ở các địa phơng thuộc vùng núi và trung du trừ đồng bằng
ở miền Bắc Việt Nam. Nhím cũng thờng gặp trên các đảo gần bờ ở phía Đông Bắc Bộ.
Vật mẫu của nhím đ su tầm đợc ở hầu hết các tỉnh: Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn,
Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La, Nghĩa Lộ, Hoà Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
ở Nam Hà cũng gặp nhím nhng chỉ phát hiện ở gần đồi núi tiếp giáp với tỉnh Hoà Bình
(Theo Lê Hiền Hoà, 1973).
Nhím Bờm là loại lớn nhất trong bộ gặm nhấm, nặng trung bình từ 15 - 20kg, thân và đuôi
dài từ 80- 90cm. Hình dáng nặng nề, mình tròn đầu to, mõm ngắn có 4 răng cửa dẹt và rất
sắc, mắt nhỏ, tai nhỏ, chân ngắn (4 chi) 2 chi sau ngắn hơn 2 chi trớc, móng chân nhọn
sắc để bới rễ, bới củ cây rừng và đào hang trú ẩn.
Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 3
- Lông trên lng biến thành gai cứng, nhọn nhất là nửa lng phía sau, có khúc trắng, khúc
đen mọc thành chùm từ 3 - 4 cái.
Khi gặp kẻ thù thì nhím rung đuôi, những lông chuông này tạo thành một tiếng kêu lách
cách, lè xè để doạ nạt kẻ thù và thông báo với những con vật cùng đàn những tín hiệu
Phơng pháp
1. Các đặc điểm về tập tính đợc nghiên cứu bằng quan sát
2. Giải phẩu
3. Số liệu đợc xử lý theo các phuơng pháp phân tích thống kê
Kết quả và thảo luận
Hình thái 4
Phần Nghiên cứu về Dinh dỡng và Thức ăn Vật nuôiPhần lớn màu lông của nhím trắng - đen, tuy nhiên cũng có nhím lông trắng tuyền. Tại
trại nhím Tuân Hoà có 1 cá thể nh vậy, và đợc Sở thú TP Hồ Chí Minh trả giá là 30
triệu. Tại Lai châu cũng có 4 con nh thế.
Kích thớc
Một số khảo sát về kích thớc nh sau:
(đơn vị: cm)
Tuần tuổi
Dài chi trớc Dài chi sau Dài thân
Đực Cái Đực Cái Đực Cái
1 25 24 23 22 160 158
2 32 31 29 28 214 212
3 40 38 36 35 272 258
4 50 49 43 41 341 329
5 56 54 49 48 356 349
6 71 67 64 62 376 368
7 75 72 69 67 383 378
yên tĩnh, hơn nữa có bộ lông sẵn sàng đâm vào đối thủ, vào ngời nên họ thờng xa lánh
nhím, không sờ mó, chỉ dùng các công cụ nh roi, chổi, để điều chỉnh, bao bì gai để bắt.
ở những chủ hộ nuôi nhím này, chuồng nhím thờng đợc đặt chỗ kín, thậm chí rất ít ánh
sáng. Đại diện cho những cơ sở nuôi nhím nh thế này nh là: Trại nhím gia đình ông Tôn
(Hoà Bình) và đa phần các hộ chăn nuôi nhím tại thị x Sơn La.
- Thờng xuyên tiếp xúc và thân thiện
Một số cơ sở nh Trại nhím Tuân Hoà, Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây bắc, Trại thú
Ba Vì (hiện nay), một số trại nhím của dân Thị x Sơn La có cách nhìn khác hơn về nhím.
Họ tiếp xúc, bắt, gọi và tắm cho nhím. ở những nơi này, đôi con nhím còn lân đến với
ngời, mỗi khi họ cho ăn Tiếp xúc thân thiện nhất là Trại nhím Tuân Hoà và sau đó là
Trung tâm Khoa học và Sản xuất, Tây Bắc.
Tập tính giao tiếp giữa chúng với nhau- với ngời và với loài vật khác
a. Tính bầy đàn / gia đình máu mủ.
Với nhím con của con khác
Đa số nhím đực chỉ chấp nhận ở cùng những nhím con ruột của nó và sẵn sàng cắn thậm
chí cắn chết - con của con nhím khác.
Với nhím cùng lứa tuổi trong trờng hợp nhốt thành đàn
Tại Trại thú thuộc Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, chúng tôi đ thử nuôi thả
8 cặp nhím vốn trớc đó đợc nuôi tách. Kết quả là chúng đánh nhau liên tục và mi sau
10 ngày mới quen nhau. Nhím cũng rất hay cắn lông nhau.
Nhím đực với nhím đực
Chúng rất hay dễ đánh nhau và cắn chết nhau nếu sổng ra. Tại Trung tâm Khoa học và Sản
xuất Tây bắc đ chứng kiến hai đực giống bị đối thủ cắn chết.
Ghép đôi đực / cái
Đa phần việc ghép đôi đực - cái diễn ra suôn sẽ.
b. Với ngời: Có sự khác biệt khá lớn về tính giao tiếp của nhím ở các đàn nhím.
Nhút nhát: Nhiều con nhím khá nhút nhát, thậm chí khi có tiếng động mạnh có khi còn lăn
đùng ra đất. Khó tiếp cận, luôn luôn lẩn trốn. Khi tiếp xúc với kẻ thù nhím luôn xù lông tỏ
vẻ thái độ tự vệ. Trớc lúc chạy trốn nhím thờng dẫm chân mạnh và thờng rung lông
đuôi tạo nên nh tiếng chuông. Khi buộc phải tấn công nhím thờng lao rất nhanh và
Vì về giờ giấc ngủ vào ban ngày. Kết quả cho thấy ban ngày nhím tập trung ngủ từ 11 giờ
sáng đến 3 giờ chiều. Nh vậy ngời chăn nuôi không nên có những hoạt động làm mất
giấc ngủ của nhím trong buổi tra.
b. ăn - uống
Không cho uống: Trại nhím Tuân Hoà (Củ Chi), Trung tâm khoa học và sản xuất Tây Bắc
không cho nhím uống nớc, bù lại thức ăn phần lớn là củ quả và lá nhiều nớc.
Cho uống: Các trại chăn nuôi khác đều cho uống. Nhím rất hay uống nớc và đi tiểu
nhiều lần trong ngày. Phân và nớc tiểu rất hôi và có hiện tợng lạ là ít ruồi nhặng trong
nơi ở của nhím. Máng uống của nhím cũng nên bền, nặng để chúng nó không làm vỡ và
hất đổ nớc. Tại vờn cây giống Yên Nghĩa, 2 bát con đợc đúc gắn vào một phiến bê tông
dùng cho nhím uống
Ăn: Sau khi sinh 5- ngày nhím con đ tập ăn. Nhím thờng nhặt nhạnh tất cả các loại thức
ăn rơi vi trên nền.
Là loài gậm nhắm, nên nhím ăn đủ thứ thức ăn, gặm cả xơng, thân cây khô mà ngời ta
đa vào chuồng.
Giờ cho ăn và lợng thức ăn
Một thí nghiệm đ đợc tiến hành cho 5 con nhím ăn sắn tơi trong 3 ngày liên tục, cho
thấy nhím ăn ngày (23%) ít hơn ban đêm (77%). Tơng tự, một thí nghiệm khác đ đợc
tiến hành cho 6 con nhím ăn ngô hạt đ ngậm nớc trong 3 ngày liên tục, cho thấy nhím ăn
ngày ít hơn ban đêm (47 / 53 %).
Tại Trại Nhím Tuân - Hoà
Nhím đợc cho ăn làm 2 lần: 8 giờ sáng và 5 giờ chiều với số lợng thức ăn buổi tối nhiều
hơn ban ngày.
Các loại thức ăn dành cho nhím
Tại Trại thú Ba Vì:
Nhím tiêu thụ thức ăn khá đa dạng. Đ thí nghiệm cho thấy:
Ăn nhiều (>80): Bí đỏ, chuối tây quả, củ dong riềng, đậu tơng, đu đủ quả, khoai lang củ,
khoai tây, lạc củ, mía cây, ngô hạt, sắn củ tơi, sắn dây củ, xu hào củ, cây chuối, cây ngô,
quả sung, quả vả, khoai sọ, táo quả, quả roi, quả ổi, xơng động vật, sắn lát khô, cám gạo
Những quan sát trên 15 nhím sinh sản ở Trung tâm Khoa học và sản xuất Tây bắc, cho
thấy nhím động dục có hiện tợng: Lông dựng, đái nhiều, phá chuồng, quấn quýt con đực,
đi lại nhiều.
Nhìn chung phát hiện động dục không dễ dàng đối với ngời nuôi nhím, vì thờng xẩy ra
ban đêm và đòi hỏi ngời chăn nuôi phải quan sát kỹ kết hợp với việc theo dõi qua sổ sách.
Chu kỳ động dục
Chu kỳ xuất hiện chất nhầy là 30-32 ngày. Nh vậy thời gian tái động dục là 30-32 ngày.
Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 9
Giao phối Sự biểu hiện của đực / cái trong giao phối
Đ xảy ra trờng hợp, đực nhốt riêng và cái nhốt riêng, khi phát hiện nhím cái có động
dục, nhím đực đ cắn đứt cả lới sắt chuồng nó, và nhảy vào ở chung với nhím cái. Cơ chế
gọi đực theo các chuyên gia sinh học là con cái phát ra mùi (!).
Tại Trại Thú Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba vì, cũng nh Trung tâm Khoa học
và Sản xuất Tây Bắc, quan sát những cặp nhím giao phối ban ngày, chúng tôi đều thấy, khi
muốn giao phối con đực tiến sát con cái, thậm chí ép con cái và khi giao phối con đực
nhảy chồm lên con cái hệt nh bò - lợn. Lúc phối nhím cái nằm ệp xuống và chổng đít
lên.
Thời gian diễn ra một lần phối
Thờng nhím giao phối lúc vắng ngời. Tuy nhiên tại Trung tâm KH và SX Tây bắc chúng
tôi đ mục kích đợc hoạt động này của nhím. Lúc 4.30 ngày 8-5-2004, con nhím đực
có tên Mờng La với con nhím cái số 3 trong 3 lần trong 3 mấy.
Tại một số đàn nhím của các hộ nuôi nhím tại Sơn La, ngời nuôi đ nhiều lần chứng kiến
nhím giao phối diễn ra ngay trớc mắt họ.
Thông thờng sau thời gian phối giống nhiều lông nhỏ của nhím rơi rớt lại trên sàn
ve hàng ngày nhím của mình, những hiện tợng chửa đợc ghi nhận: Bụng to ra 2 bên
hông, ăn khoẻ, tăng trọng nhanh, và hay nằm sấp, duỗi chân.
Những hiện tợng trên thờng đợc phát hiện trớc lúc đẻ trung bình là 51,93,39, sớm
nhất là 63 ngày và muộn nhất là 36 ngày.
Nh vậy, để có thể đoán đợc con vật có chửa hay cha cần phải ghi chép ngày ghép đực
và quan sát kỹ sự biến đổi kích thớc của vòng bụng, mức độ ăn.
Thời gian mang thai
Vì việc xác định hiện tợng động dục, phối giống, chửa rất khó, cho nên nhím đực thờng
đợc nhốt rất lâu với con nhím cái nh phần trên đ nói.
Tuy nhiên trong một trờng hợp duy nhất, mà chúng ta có số liệu chắc chắn về ngày phối
và ngày đẻ: Con nhím đực có tên Mờng La (đợc mua từ Mờng La, Sơn La) của ông
Thái là một con đực rất đặc biệt. (Xem phần Giao phối): Sau 94 ngày con nhím cái này
đ đẻ bình thờng vào lúc 10 giờ 30 ngày 8-8-2004.
Tại Trại Nhím ông Tuân Hoà (ngời đầu tiên nuôi nhím), chủ nhân đ quan sát đợc 11
trờng hợp nhím có biểu hiện phối giống và cam đoan rằng sau khoảng 90 sau sẽ đẻ.
Tuy nhiên chúng tôi cha có đợc một công trình nghiên cứu khoa học nào nói đến
phơng pháp nghiên cứu xác định đặc điểm này. Nhng từ các quan sát đ trình bày ở trên,
chúng tôi cho rằng số ngày mang thai khoảng 90-95 ngày là có cơ sở để tin đợc nh
nhiều ngời chăn nuôi đ nghiệm.
Báo cáo khoa học Viện Chăn Nuôi 2006 11
Một nghiên cứu ở Châu phi cho rằng Nhím Bờm Châu Phi có số ngày mang thai là 112
ngày (The SOUTH AFRICAN PORCUPINE Page African Porcupine). Một số tác giả cho
rằng thời gian mang thai là 5 tuần thì chắc không đúng.
Thời điểm đẻ
12
Phần Nghiên cứu về Dinh dỡng và Thức ăn Vật nuôiSố ca đẻ qua các tháng
Trên 158 ca đẻ tại đàn nhím Trại nhím Tuân Hoà, Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây
bắc, Trại thú Ba Vì, Vờn cây giống Yên nghĩa, ta thấy, các ca đẻ đợc phân bố đều
trong tháng, trừ 2 tháng cuối năm, có tỉ lệ là 5,06 và 4,43 %.
Tháng 1 2 3 4 5 6
Số ca đẻ
17 14 17 16 14 13
Tỉ lệ
10.76 8.86 10.76 10.13 8.86 8.23
Tháng 7
8 9 10 11 12 Tổng
Số ca đẻ
11
16 11 16 8 7 158
Tỉ lệ 6.96
10.13 6.96 10.13 5.06 4.43 100
Khả năng cho thịt
Đ khảo sát 2 nhím, kết quả nh sau:
Nhím 1 Nhím 2
Khối lợng các bộ phận Giá trị (kg)
Tỉ lệ (%) Giá trị (kg)
Chúng tôi không phát hiện một bệnh tật nào
Tại Trại nhím ông Mai Văn Y (Đắc lắc)
Không có bệnh tật gì đáng kể.
Những biểu hiện này cùng đúng với các thông báo mà thông tin đại chúng.
Kết luận và kiến nghị
Kết luận
Nhím đực / cái thờng hm hại nhím con của con khác. Nhím trởng thành đợc nhốt với
nhau có thể đánh nhau.
+ Nhím đợc nuôi theo hai hình thức: kín - cách ly và mở - tiếp xúc thân thiện.
+ Nhìn chung nếu nuôi theo hình thức mở tiếp xúc thân thiện và tiếp xúc với nhím một
cách có khoa học và từ nhỏ, chúng ta có thể bắt, gọi, ôm, lùa nhím vào rọ và làm giảm
bớt đi bản tính nhát của chúng.
+ Đực có thể ghép với cái theo cặp hoặc một đực với nhiều cái. Nhìn chung có thể ghép
đực với cái bất kỳ, tuy nhiên có một đôi trờng hợp con đực chỉ chấp nhận một nhím cái
cụ thể.
+ Nhím chủ yếu ăn và sinh hoạt vào ban đêm. Tuy nhiên trong môi trờng nhân tạo hoạt
động giao phối, sinh đẻ cũng xuất hiện cả ban ngày.
+ Uống: Tại Trại nhím Tuân Hoà nhím không đợc cho uống, vì cho rằng thức ăn chủ yếu
là của quả và rau. Tuy nhiên tất cả các trại nhím khác đều cho uống nớc.
+ Lợng thức ăn tiêu thụ vào ban ngày chiếm 47%, ban đêm chiếm 53%.
+ Thức ăn của nhím khá đa dạng: 80 loài cây cỏ củ quả thông thờng. Tuy nhiên hầu hết
các khẩu phần hàng ngày khá đơn điệu, có nơi chỉ cho ăn 3-4 loại thức ăn trong một thời
gian dài.
+ Nhím động dục có những biểu hiện: nh tiết chất nhờn lẫn máu với khối lợng 150-
200cc. Các hiện tợng kèm theo nh xù lông, đái nhiều, quấn quýt con đực, phá chuồng.
Thời gian động dục kéo dài 2-3 ngày.
+ Chu kỳ động dục là 30-32 ngày.
+ Đực cái giao phối với nhau theo cách thức nh các loài bò, lợn : con đực nhảy lên con
http://ndis.nrel.colostate.edu/contacts.html
http://www.vista.gov.vn/tindientu/Nongthondoimoi/2004/s21/bt.htm (2004) Nuụi nhớm sinh sn
Kim Oanh (2005). Nuụi dng v chm súc nhớm. (Theo KHNN). Bỏo nụng thụn s 117 ra ngy 14/6/2005
Lê Hiền Hào (1973). Thú Kinh tế Miền bắc Việt nam (1973) NXB Khoa học và Kỹ thuật (1973).
Nguyn Hi Lý (2004). Kinh nghim nuụi nhớm ca anh Phũng. Bỏo nụng nghip s 258. (27/12/2004)
Nguyễn Hữu Khôi (2003). Bớc đầu Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của Nhím bờm (acanthion
Subcristatuom) trong điều kiện nuôi nhốt. Luận Văn thạc sỹ khoa học. Bộ Giáo Dục và Đào tạo. Trờng Đại
học S phạm 1 Hà nội. 2003.
Nguyễn Lân Hùng, Nguyễn Ngọc Mai, Trơng Khắc Trĩ, Lê Xuân Cơng, Vơng Ngọc Long (2005). Kỹ
thuật nuôi nhím, Cừu và Bò thịt. NXB nông nghiệp (Trung tâm SEDEC Bình thuận) (2005).
Rebecca Bodzick. Erethizon dorsatum Common Porcupine, North American Porcupine
http://animaldiversity.ummz.umich.edu/site/about/overview.html
The SOUTH AFRICAN PORCUPINE Page African Porcupine
http://www.vista.gov.vn/tindientu/Nongthondoimoi/2004/s21/bt.htm Nuôi nhím sinh sản