MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Phần I:
MỞ ĐẦU
1. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
11
1
Hiện nay sản xuất nông nghiệp ở nước ta vẫn là mặt trận rộng lớn nhất và
thu hút được nhiều lực lượng lao động nhất.
Trong xu thế hội nhập, nông dân ta đã có nhiều cố gắng để xóa đói giảm
nghèo và từng bước đưa nông thôn vươn lên tiến kịp với các nước trong khu vực
và các nước trên thế giới.
Để làm được điều đó, chúng ta phải đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ
thuật trong sản xuất đến tay người dân, giúp họ hiểu và làm theo. Và một trong
những nghề đang được người dân khắp nơi trong đất nước ta quan tâm đó là “
Nghề nuôi nhím”. Theo giáo sư Nguyễn Lân Hùng “Chỉ trong một thời gian
ngắn sau khi chúng tôi xuất bản “Hướng dẫn kỹ thuật nuôi nhím”, phong trào
nuôi nhím đã rầm rộ trên khắp các tỉnh thành. Đâu chỉ có miền núi mà cả đồng
bằng, thành thị cũng có người nuôi nhím.”.
Ngày 10/5/2009 Hội nuôi nhím được thành lập tại Trung tâm khoa học và
sản xuất Tây Bắc (thuộc Viện lâm nghiệp Việt Nam).
Nhím Bờm là một loài gặm nhấm, sống hoang dã dọc các vùng đồi núi và
nhiều nơi trong nước ta. Thịt nhím ngon được chế biến thành các món ăn hấp
dẫn. Ngoài ra các bộ phận khác của nhím cũng được sử dụng vào nhiều việc, đặc
biệt là dạ dày nhím được biết có tác dụng chữa bệnh đau dạ dày.
Tuy nhiên cho đến nay các tài liệu công trình nghiên cứu về nhím chưa
nhiều, và không phải người dân nào muốn nuôi nhím cũng có điều kiện tiếp cận,
hiểu được những kỹ thuật chăn nuôi và cách phòng trị bệnh cho nhím.
Nhằm tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề : trong môi trường nhân tạo nhím
phản ứng ra sao, sinh sản, sinh trưởng và bệnh tật có gì đặc biệt, để giúp cho
ngắn có bốn răng cửa dẹp và rất sắc, mắt nhỏ, tai nhỏ, chân ngắn.
Trên lưng lông biến thành gai cứng, nhọn nhất là ở nửa lưng phía sau (có
hai loại lông cứng : một loại dài nhỏ và một loại to ngắn), lông biến thành những
tiêm tròn to cứng dài từ 10-30 cm và nhọn có khúc trắng, khúc đen mọc thành
chùm từ 3-4 cái.
Ở vùng bụng lông nhím biến thành những sợi cứng có màu đen. Sau gáy
có một dải lông trắng dựng ngược như cái mào, xung quanh cổ viền lông trắng,
đuôi ngắn có những sợi lông phía đầu phình ra hình cốc rỗng ruột màu trắng, khi
cần thiết chúng rung đuôi những “lông chuông” này tạo thành những tiếng kêu
“lách cách” hay “xè xè” để dọa nạt kẻ thù hoặc khi chúng phát tín hiệu giao tiếp
với nhau.
2.2. ĐẶC ĐIẺM SINH LÝ SINH SẢN
2.2.1. Cấu tạo cơ quan sinh dục
• Cấu tạo bên ngoài
4
44
4
- Lúc nhỏ: lỗ sinh dục con đực có “gai”, và con cái không có . Để phân
biệt chúng ta có thể vật ngửa nhím con và vạch “lỗ sinh dục” để xem.
- Lúc trưởng thành: Con đực có dương vật và dịch hoàn nhô ra phía bụng,
cách lỗ hậu môn 2-3 cm. Con cái có “lỗ sinh dục” cách lỗ hậu môn 2-3 cm.
• Cấu tạo bên trong
Cũng như các loài động vật có vú khác, cấu tạo bên trong của nhím Bờm
cũng bao gồm:
- Âm đạo (Vagina) : âm đạo là một ống tròn, âm đạo là cơ quan giao cấu,
nơi tinh dịch được phóng ra và đọng lại ở đó và chuyển tiếp vào tử cung. Ngoài
ra âm đạo còn là nơi để thai ra ngoài khi sinh đẻ và còn là ống thải các chất dịch
tử cung.
- Tử cung (Uterus): tử cung nằm ở trong xoang chậu, phía trên là trực
tràng, phía dưới là bàng quang. Đó là nơi làm tổ của hợp tử, ở đây hợp tử phát
2.2.2. Sự thành thục về tính và thể vóc của nhím Bờm
2.2.2.1. Sự thành thục về tính
- Một cơ thể động vật được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục
đã phát triển căn bản hoàn thiện, dưới tác động của thần kinh và thể dịch con vật
xuất hiện những phản xạ sinh dục. Khi đó con cái bên trong buồng trứng có
những noãn bao chín và tế bào trứng rụng còn con đực có tinh trùng trong dịch
hoàn và có hiện tượng phóng tinh.
Sự thành thục về tính ở động vật được xuất hiện sớm hơn so với sự hoàn
thiện về thể vóc. Ở con cái trong thời kỳ này chu kỳ tính được hình thành và
được đặc trưng bằng những thay đổi bên trong và những phản ứng hành vi bên
ngoài luân phiên một cách có quy luật theo đặc tính của từng loài. Sự thành thục
về tính mang một ý nghĩa rất lớn, là điều kiện rất lớn cho bản năng làm mẹ của
động vật cái.
Tùy thuộc vào loài động vật khác nhau mà thời gian thành thục về tính là
khác nhau.
Tuổi thành thục về tính của nhím khoảng 10 tháng tuổi.
6
66
6
Tuổi thành thục về tính của động vật đến sớm nhưng thành thục về thể
vóc lại muộn hơn. Cho nên để đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển của cơ
thể mẹ , đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển ở thế hệ sau nên cho gia con
vật phối giống khi con vật đã thành thục về tính và thể vóc. Không nên cho phối
ngay sau khi con vật thành thục về tính vì: cơ thể con cái chưa hoàn thiện về thể
vóc cơ quan sinh sản (bộ máy sinh dục hẹp) sẽ dẫn đến đẻ khó và con đẻ ra sẽ
nhỏ và yếu. Con đực dịch hoàn hoạt động mạnh khi chưa hoàn thiện về thể vóc
sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sinh dục, làm suy giảm đến khả năng giao phối.
- Theo Nguyễn Lân Hùng (Nghề nuôi nhím. 2009): Tuổi thành thục của
nhím cái thường sớm hơn nhím đực. Vì vậy nên chọn nhím đực già tuổi hơn
nhím cái là từ 3-5 tháng tuổi hoặc hơn nữa.
đến lần thải trứng sau là một chu kỳ.
Chu kỳ tính là một hiện tượng sinh vật có quy luật đặc trưng của cơ thể
cái, nó tạo ra hàng loạt điều kiện cần thiết để tiến hành giao phối, thụ tinh và
phát triển của bào thai.
Một chu kỳ tính được chia làm 4 giai đoạn: trước động dục ,động dục, sau
động dục, yên tĩnh.
2.2.3.1. Giai đoạn trước động dục
Là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ đến lần động dục tiếp theo. Lúc này
trên bề mặt buồng trứng có noãn bao thành thục nổi lên, kích thước buồng trứng
tăng, tế bào vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung tăng lên để đón
trứng rụng. Đường sinh dục xung huyết, nhu động tử cung tăng, mạch quản
màng nhầy tử cung tăng lên, dịch nhầy âm đạo tăng, niêm dịch tử cung tiết ra,
tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào trong đường sinh dục con cái thuận lợi
để thụ tinh.
2.2.3.2. Giai đoạn động dục
Các kích thích bên ngoài như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, mùa vụ…
tác động lên vở não, kích thích này truyền đến tuyến yên, làm tuyến yên tiết
8
88
8
FSH ( Folliculin Stimulin Hormone ). Hormone này tác động lên buồng
trứng làm cho bao noãn phát dục, thành thục, khi đó tế bào hạt trong thượng
bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn. Lúc này nhím
đang hưng phấn mạnh mẽ.
* Biểu hiện động dục ở nhím cái:
Theo Võ Văn Sự và đồng nghiệp: Những ngày động dục nhím cái tiết ra chất
nhờn lẫn máu, với khối lượng ước tính 150-200 cc. Khi nhím cọ vào nền chuồng
hoặc máng ăn, chất nhờn sẽ đuợc đẩy ra và dính vào nơi nằm. Một vài ngày chất
nhờn này khô đi nhím lại trở lại bình thường.
- Nhím cái nuôi nhốt lâu có biểu hiện động dục kém. Mỗi lần động dục
Sau khi tinh trùng được đưa vào buồng sinh dục cái nhờ vào đặc tính vận
động ngược dòng, đặc tính ưa vật lạ của tinh trùng, cùng với sự hấp dẫn của
chất nữ tố Fertilizin và dịch tiết trong đường sinh dục cái tinh trùng vận động lên
vị trí thích hợp là 1/3 phía trước ống dẫn trứng.
2.3.2. Giai đoạn tinh trùng đi vào trứng
Giai đoạn phá vỡ màng phóng xạ: thể đỉnh của tinh trùng tiết ra men
Hyaluronidaza phân giai axit Hyaluronic( là chất keo gắn các tế bào màng
phóng xạ), tạo ra một cửa mở cho tinh trùng tiến vào. Men này không đặc trưng
cho loài.
Giai đoạn phá màng trong suốt: đầu tinh trùng tiết ra men Zonalizin phá
huỷ màng trong suốt (men này đặc trưng cho loài), sau đó vài chục tinh trùng
khoẻ mạnh qua màng trong suốt tiếp cận với màng noãn hoàng.
Giai đoạn phá màng noãn hoàng: đầu tinh trùng tiết ra men
Muraminidaza, phân giải một điểm của màng noãn hoàng, sau đó chỉ có một
tinh trùng có sức sống cao nhất xuyên qua màng noãn hoàng đầu lọt vào phía
trong kết hợp với nhân của tế bào trứng để đồng hoá và dị hoá hai loại tế bào,
còn phần đuôi và thân tinh trùng được nguyên sinh chất của tế bào trứng đồng
hoá và tiêu tan.
10
1010
10
2.3.3. Sự đồng hoá giữa trứng và tinh trùng
Đầu tinh trùng hút dịch tế bào chất của trứng để tăng kích thước tương
ứng của nhân tế bào trứng. sau đó nhân của tế bào tinh trùng và nhân của tế bào
trứng đồng hoá lẫn nhau tạo ra hợp tử lưỡng bội 2n. Hợp tử di chuyển về sừng
tử cung, bám chắc vào niêm mạc tử cung để phát triển thành phôi. Giữa phôi và
cơ thể mẹ liên hệ với nhau qua nhau thai.
2.4. QUÁ TRÌNH MANG THAI
* Khái niệm:
Có thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu
2.5.1. Các thời kỳ của quá trình sinh đẻ
* Thời kỳ mở cổ tử cung: Được tính từ khi cổ tử cung có cơn co bóp đầu
tiên đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn.
* Thời kỳ đẻ: Được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn cho tới khi thai
cuối cùng được đẩy ra ngoài.
* Thời kỳ bong nhau thai: Tính từ khi sổ bào thai cuối cùng đến khi toàn
bộ nhau thai con được đẩy ra ngoài.
Quá trình sinh đẻ được điều tiết bởi cơ chế thần kinh thể dịch. Đến ngày
đẻ dưới sự tác động của hormone Corticorseroid do vỏ tuyến thượng thận tiết ra
làm nhau thai sản sinh ra PGF2α(Postaglandin F2α), nó có tác dụng phá hủy thể
vàng nên hàm lượng Progesteron trong máu giảm xuống thấp. Đồng thời nhau
thai tăng tiết Relaxin, làm giãn dây chằng xoang chậu và mở cổ tử cung, tăng
tiết Ostrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ.
Khác với nhiều động vật khác, nhím tự đẻ và tự lo liệu, ta không phải can
thiệp vào.Con mẹ xử lý rất khéo mọi tình huống.
2.6. SINH LÝ TI ẾT SỮA CỦA NHÍM CÁI
Sữa là thức ăn vô cùng quý giá của nhím con. Nó không những là
nguồn cung cấp chất dinh dưỡng duy nhất cho nhím con sinh trưởng và phát
12
1212
12
triển mà còn là nguồn cung cấp lượng kháng thể để chống lại bệnh tật trong
giai đoạn đầu.
Bất kỳ một loài động vật có vú nào, sinh lý tiết sữa đều phải diễn ra qua 2
quá trình:
2.6.1. Quá trình tổng hợp sữa
Sữa được tạo ra ở các tế bào thượng bì của bao tuyến. Các tế bào này thu
nhận những chất nhất định trong máu tổng hợp thành sữa và thải vào xoang bao
tuyến.
Quá trình tổng hợp sữa được điều tiết bằng cơ chế thần kinh và thể dịch:
* Thể dịch: Khi nhím con bú, tạo ra một kích thích truyền lên vỏ não.
Khi đó tuyến yên tiết ra Oxytoxin gây co bóp cơ trơn bầu vú co bóp đẩy sữa
ra ngoài.
2.7. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT CỦA NHÍM CÁI
Hiệu quả chăn nuôi nhím được đánh giá bằng số con cai sữa/cái/năm.
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, hiệu quả phối giống, số
con đẻ ra còn sống, số lứa đẻ/cái/năm.Vì vậy việc cải tiến, nâng cao số lượng
con cai sữa là một biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Đồng
thời phải giảm khoảng cách giữa hai lứa đẻ bằng cách giảm thời gian chờ
phối sau cai sữa.
Có thể đánh giá khả năng sinh sản của nhím theo các chỉ tiêu sau:
2.7.1. Số con đẻ/lứa
- Là một tính trạng quan trọng để đánh giá khả năng sinh sản của nhím
cái. Nó phụ thuộc vào số lượng trứng rụng, tỷ lệ thụ thai, nuôi thai của nhím mẹ
và kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi.
2.7.2. Khối lượng sơ sinh /lứa
- Được tính bằng trọng lượng của tổng số con đẻ ra còn sống và phát dục
hoàn toàn khi chưa bú sữa đầu. Chỉ tiêu này nói lên khả năng nuôi dưỡng thai
của nhím mẹ, kỹ thuật chăm sóc quản lý nhím mẹ sinh sản. Nhìn chung trọng
lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng của nhím con càng nhanh, khối
lượng cai sữa càng cao.
14
1414
14
2.7.3. Số con cai sữa/lứa
- Là số con được nuôi sống đến khi cai sữa. Thời gian cai sữa dài hay
ngắn phụ thuộc vào kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi. Thường thì thời
gian nuôi con của nhím mẹ là từ 45-60 ngày.
2.7.4. Trọng lượng cai sữa /lứa
- Phụ thuộc vào thời gian cai sữa, kỹ thuật chăm sóc của người chăn nuôi,
Nhím động dục lần đầu thể vóc chưa phát triển hoàn chỉnh nên phối giống
lần đầu không đạt hiệu quả cao
2.8.3. Đực giống
Đực giống có vai trò quan trọng trong việc chọn giống và nhân giống.
Đây là nhân tố quyết định tới năng suất sinh sản . Do đó việc lựa chọn đực giống
là rất quan trọng.
2.8.4. Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ có liên quan đến số con cai sữa/cái/năm. Đây là tính
trạng tổng hợp bao gồm: thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian sau cai
sữa đến thụ thai lứa sau. Trong đó thời gian có chửa dao động từ 90-95 ngày.
Để rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ta chỉ có thể rút thời gian nuôi con và chờ phối
giống bằng cách tách nhím con sớm và chăm sóc nhím mẹ hợp lý.
2.8.5. Yếu tố dinh dưỡng
Là yếu tố quan trọng thứ hai sau giống. Là tiền đề cho giống phát huy hết
tiềm năng sinh sản của mình. Điều quan trọng là đối với nhím sắp bước vào sinh
sản và nhím đang mang thai là cần đủ nhu cầu dinh dưỡng cần thiết để có kết
quả sinh sản tốt.
2.8.6. Các yếu tố khác
Nhím là động vật hoang dã, khả năng thích ứng cao nhưng khi nuôi chúng
người chăn nuôi cũng phải chú ý đến khâu chăm sóc. Chuồng trại phải hợp vệ
sinh, được giữ ấm vào mùa đông, mát mẻ vào mùa hè, không được để nước bẩn
lưu cữu lâu ngày. Định kỳ hàng quý quét vôi lại toàn bộ khu vực chuồng nuôi và
16
1616
16
phun thuốc diệt khuẩn.Giữ được vệ khoẻ mạnh, phát huy được hết tiềm năng
vốn có của nó, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.
2.9. KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN Ở NHÍM BỜM
• Các cơ thể sống có khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng này khác
nhau ở các loài, các cá thể khác nhau.
sinh có những động tác mạnh làm con vật hoảng sợ trượt ngã gây vỡ mạch máu
ở thành tử cung, gây phản xạ co bóp ở cổ tử cung dẫn đến sẩy thai.
+ Sẩy thai do gia súc mẹ bị bệnh:
Tất cả các quá trình bệnh lý xảy ra ở cơ thể nói chung hay xảy ra ở cục bộ
các cơ quan nói riêng đều là nguyên nhân gây sẩy thai.
Nếu con mẹ bị bệnh ở hệ tuần hoàn sẽ gây rối loạn tuần hoàn giữa nhau
thai mẹ và màng thai con, làm bào thai thiếu dinh dưỡng và chết.
Nếu con mẹ bị bệnh ở hệ hô hấp dẫn đến bào thai thiếu oxi.
Nếu con mẹ bị bệnh ở gan, thận thì bào thai sẽ trúng độc.
Nếu con mẹ bị bệnh ở hệ tiêu hoá, con mẹ bị tiêu chảy, cổ tử cung cũng
co bóp và hậu quả là bào thai bị đẩy ra ngoài.
+ Sẩy thai do bệnh của bào thai
Bào thai phát triển không bình thường bị dị hình hay quái thai.
Dây rốn dị dạng phát triển quá dài hay quá ngắn.
Nhau thai dị dạng quá ngắn hoặc quá dài.
Dịch thai quá nhiều hay quá ít.
2.10.2. Bệnh ngoại khoa (tổn thương cơ giới hở)
18
1818
18
* Khái niệm: vết thương là sự tổn thương cơ giới hở của da, của mỗi loại
này là khác nhau.
- Các dạng vết thương:
+ Vết thương đâm:được gây ra bởi vật nhỏ dài nhọn, tác động theo chiều
dọc. Những vật đâm với đầu nhọn rất dễ dàng tách các mô bào. Vết thương đâm
có khi rất sâu xuyên vào xoang giải phẫu, cơ quan nội tạng , mạch máu.
+ Vết thương đụng dập: do tác động đến mô bào bằng các vật tù như vật
nuôi bị đánh đập bằng gậy gộc, vật nuôi húc đá nhau hay tự ngã… Vết thương
này được ghi nhận bởi sự rách da hay dập cơ, dập dây thần kinh. Hiện tượng
chảy máu trong vết thương này là không đáng kể. Sự dau xuất hiện mạnh vào
tính chất bệnh lý khác nhau.
Bệnh ở đường tiêu hoá ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng phát triển
ở vật nuôi.
- Nguyên nhân gây bệnh
+ Do thức ăn: ăn phải những thức ăn kém phẩm chất bị ôi mốc lâu ngày.
+ Do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng: trong khẩu phần ăn thiếu những
nguyên tố vi lượng như khoáng, vitamin kéo dài; chuồng trại không đúng kỹ
thuật như nền chuồng không có độ dốc nên khó vệ sinh, nước, thức ăn, phân tích
lại trong chuồng tiềm ẩn những yếu tố gây bệnh; việc thay đổi giờ ăn đột ngột
cũng ảnh hưởng tới quá trình bệnh.
- Triệu chứng bệnh
+ Con vật mệt mỏi ủ rũ giảm ăn, giảm vận động
+ Con vật ỉa chảy nặng, hàm lượng nước trong phân nhiều
+ Khi ỉa chảy nhiều lần làm cơ thể mất nước và điện giải dẫn đến con vật
giảm trọng lượng nhanh.
* Bệnh đường hô hấp
20
2020
20
- Khái niệm: Bệnh ở đường hô hấp có thể xảy ra ở đường hô hấp trên như
ở mũi, thanh quản, khí quản hoặc có thể xảy ra ở đường hô hấp dưới như ở phế
nang, phế quản.
Bệnh ở đường hô hấp cũng ảnh hưỏng tới quá trình sinh trưởng phát triển
của vật nuôi. Trên thực tế bệnh ở đường hô hấp chiếm một tỷ lệ cao trong các
bệnh nội khoa, thường hay gặp ở những cơ sở có môi trường chăn nuôi kém.
- Nguyên nhân gây bệnh
+ Do tổn thương cơ giới: do vật nhọn đâm vào
+ Do bị nhiễm lạnh: làm co mạch quản dẫn đến tuần hoàn trong hệ thống
hô hấp giảm gay ứ huyết hoặc phù.
+ Do chăm sóc nuôi dưỡng: dinh dưỡng không đảm bảo sẽ dẫn đến
Nhím bờm Châu Phi có số ngày mang thai là 112 ngày. Một lứa có thể đẻ
từ 1 đến 4 con. Nhím con phát triển nhanh và mở mắt luôn ngay sau khi đẻ ra.
Hai tuần sau lông bắt đầu cứng. nhím con bú mẹ từ 6-8 tuần và tập ăn cây cỏ sau
tuổi này.
Tuổi thọ của nhím khá cao, có con sống đến 20 năm.
• Nhím Bắc Mỹ
Nhím bắc Mỹ có mặt ở hầu hết ở các vùng Bắc Mỹ từ Alaska đến
Labrado.Là một loà gặm nhấm đông nhất ở Canada sau Hải ly. Nhím nặng từ 3-
7 kg. Bàn chân trước có 4 ngón và chân sau có 5 ngón. Nhím cái có hai hàng vú,
nhưng đã bắt gặp những cá thể có 3 hàng vú.
Thức ăn mùa hè là các loại lá cây và cỏ lùm. Mùa đông chúng ăn lớp vỏ
bên trong của cây. Chúng rất thích ăn muối và ăn cả xương.
Sinh sản xảy ra vào đầu mùa đông. Nhím cái thuộc loài động dục nhiều
lần và chu kỳ động dục 25- 30. Thời gian động dục kéo dài từ 8-12 gìờ. Nhím
đực thường đánh nhau để tranh dành nhím cái. Trước khi giao phối con đực
thường ve vãn và vãi nước tiểu và con cái, nhím cái khi muốn giao phối thì nước
22
2222
22
tiểu của nó cũng nặng mùi. Sau khi giao phối nhím cái xua đuổi nhím đực.Thời
gian có chửa là 205-217 ngày và con sinh ra vào tháng 4- tháng 6.
Nhím thường đẻ một hoặc đẻ đôi. Nhím sơ sinh nặng 0.5 kg. Sau khi đẻ
10 ngày nhím con mới mở mắt. Sau 2 tuần nhím con có thể ăn thức ăn cứng.
Nhím đạt độ thành thục từ 16-24 tháng tuổi.
2.11.2. Tình hình nghiên cứu nhím ở Việt Nam
Theo Lê Hiền Hào (1973) đã nghiên cứu được một số đặc điểm về hình
thái như: cấu tạo bộ răng 1.0.1.3/1.0.1.3=20, cân nặng trung bình từ 15-20 kg,
thân và đuôi dài từ 80-90 cm, hình dáng nặng nề, mình tròn, đầu to, mõm ngắn
có 4 răng cửa dẹp và rất sắc, mắt nhỏ, tai nhỏ, chân ngắn.
Việc nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng của nhím luôn
* Theo Nguyễn Lân Hùng :
Tuổi thành thục về tính ở nhím cái thường sớm hơn nhím đực, nhím con
thành thục sau khoảng 1 năm. Chu kỳ động dục là trong vòng 1 tháng. Thời gian
mang thai là gần 3 tháng. Số con đẻ ra trên lứa từ 1-3 con trung bình là 2 con.
Tăng trọng trung bình là 1kg/tháng.
Nhím hầu như không có dịch bệnh, bộ lông dày của nhím góp phần cản
trở ruồi muỗi tấn công. Do đó chúng không mắc các bệnh truyền nhiễm.
* Tóm lại: Các tài liệu thu thập được đến nay cho thấy các nước vùng
Bắc Mỹ và Nam Phi mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mang tính điều tra,
phân loại, miêu tả ngoại hình, tập tính và một số đặc điểm sinh học khác như đời
sống tình dục, nguồn thức ăn… mà chưa có những thử nghiệm nhiều trong điều
kiện nhân tạo nuôi dưỡng.
Ở Việt Nam, cũng đã có những công trình nghiên cứu về nhím và đã được
phổ biến cho người dân. Tuy nhiên những thông tin đó chưa nhiều. Qua các
thông tin, chúng tôi thấy toát lên một điều là có thể nuôi được nhím ít bệnh tật.
Nhưng cách thức nuôi dưỡng, chăm sóc là khá khác nhau.
24
2424
24
Phần III.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đàn nhím Bờm được nuôi trong điều kiện nuôi nhốt.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành tại Trại thú Ba Vì – Trung tâm NC Bò và Đồng
cỏ Ba Vì – Hà Nội.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
- Từ 10/1/2010- 5/5/2010