Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và thời vụ đến sinh trưởng phát triển, năng suất và hàm lượng hoạt chất phyllanthin của một số giống diệp hạ châu trong điều kiện vụ xuân tại gia lâm hà nội - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO

TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

TẠ THỊ PHƯỢNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ THỜI VỤ ĐẾN
SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG
HOẠT CHẤT PHYLLANTHIN CỦA MỘT SỐ GIỐNG DIỆP HẠ
CHÂU TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01 Người hướng dẫn khoa học: TS. NINH THỊ PHÍP
HÀ NỘI - 2011
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………


Học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi được bố trí thí nghiệm trong
vườn cây thuốc của trạm. Sự giúp đỡ quý báu đó là cơ sở cho việc hoàn thành
luận văn này.
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày chân thành cảm ơn và xin được ghi nhận
những sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thành
viên với sự giúp đỡ này.
Tác giả luận văn

Tạ Thị Phượng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
1. MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 21
3.4.2 Các chỉ tiêu năng suất 23
3.4.3 Chỉ tiêu chất lượng 23
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của
cây Diệp hạ châu 25
4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển
của cây Diệp hạ châu 25
4.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây
diệp hạ châu 27
4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng trưởng số lá/thân
chính của cây diệp hạ châu 30
4.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến chỉ số diện tích lá của cây diệp hạ châu 33
4.1.5 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng tích lũy chất khô của hai loài
diệp hạ châu 36
4.1.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát
triển tại thời điểm thu hoạch 39
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

v

4.1.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh trên cây
diệp hạ châu 41
4.1.8 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất dược liệu diệp hạ châu 43
4.2 Ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và hàm
lượng hoạt chất Phyllathin của cây Diệp hạ châu 46
4.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng của cây diệp hạ
châu 46


Bảng 4.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái hình thành số lá/thân chính hai
loài diệp hạ châu 31

Bảng 4.4. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá hai loài diệp hạ châu 34

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng tích lũy chất khô ở thân lá hai
loài diệp hạ châu 37

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của hai loài
diệp hạ châu 40

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh trên hai loài diệp
hạ châu 42

Bảng 4.8. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất dược liệu hai loài diệp hạ châu 44

Bảng 4.9. Ảnh hưởng của thời vụ đến thời gian sinh trưởng của hai loài diệp hạ châu 47

Bảng 4.10. Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái tăng trưởngchiều cao cây hai loài diệp
hạ châu 49

Bảng 4.11. Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái hình thành số lá/thân chính hai loài
Diệp hạ châu 51

Bảng 4.12. Ảnh hưởng của thời vụ đến chỉ số diện tích lá hai loài Diệp hạ châu 54

Bảng 4.13. Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng tích lũy chất khô ở thân lá hai loài
Diệp hạ châu 56


Hình 4.5: Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất của hai loài diệp hạ châu 45

Hình 4.6: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng tăng trưởng chiều cao cây 2 loài
diệp hạ châu 50

Hình 4.7: Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái ra lá/thân chính của diệp hạ châu 52

Hình 4.8: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chỉ số diện tích lá của hai loài diệp hạ
châu qua các thời kỳ 54

Hình 4.9: Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng tích lũy chất khô hai loài diệp hạ châu 56

Hình 4.10: Ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất hai loài diệp hạ châu 62

Hình 4.11: Sắc ký đồ định tính dược liệu diệp hạ châu đắng và chó đẻ răng cưa 64

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

1

1. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây thuốc có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Không
chỉ được sử dụng trực tiếp mà nó còn là nguồn nguyên liệu vô vùng quý giá cung
cấp cho sản xuất và bào chế thuốc nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Với lợi thế về vị trí địa lý, đa dạng địa hình đã tạo cho Việt Nam điều kiện
đa dạng về vùng khí hậu và đất đai, do đó chúng ta có nguồn tài nguyên sinh vật rất
phong phú, có nhiều loài động thực vật được sử dụng để làm thuốc.
Hiện nay đời sống con người được nâng cao, nhu cầu chăm sóc sức khỏe
con người cũng ngày càng tăng lên, mặt khác sự xuất hiện và diễn biến phức tạp

kiện vụ xuân tại Gia Lâm - Hà Nội.
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển, mức độ
nhiễm sâu bệnh và năng suất của 2 loài diệp hạ châu
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng phát triển, mức độ nhiễm
sâu bệnh và năng suất của 2 loài diệp hạ châu
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ đến hàm lượng hoạt chất Phyllanthin của 2
loài diệp hạ châu Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

3

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm thực vật học của chi Phyllanthus và hai
loài nghiên cứu
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố chi Phyllanthus L.
Chi Phyllanthus L. Thuộc họ Thầu dầu (Euphorbicaceae), bộ Thầu dầu
(Euphorbiales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta). [1], [2].
Họ Thầu dầu, với khoảng 283 chi và 7300 loài, phân bố rộng rãi khắp thế
giới, tập trung o ở Brazil và Ấn Độ, Mã Lai [32], [8]. Ở Việt Nam, họ Thầu dầu
có 79 chi và 459 loài. Riêng chi Phyllanthus, ở nước ta có tổng số 53 loài đã biết
đến, trong đó có 47 loài được dân gian gọi là diệp hạ châu như: diệp hạ châu
Phú Quốc, diệp hạ châu Trừng, diệp hạ châu Ấn có 7 loài đã được dân gian sử
dụng làm thuốc từ lâu đời, trong đó có 4 loài được sử dụng làm thuốc chữa bệnh

- Kiranelia: thân bụi, lá mọc cách, có lá kèm. Cụm hoa dạng bó ở nách lá.
Lá đài có 5 – 6. Đĩa mật tồn tại. Nhị 5 tự do hoặc dính, bao phấn 2 ô, mở dọc.
Bầu 3 ô, quả nạc. Ở Việt Nam phân chi này chỉ có một loài.
- Cicca: cây thân gỗ và thân bụi. Lá đơn, mọc cách, có lá kèm. Hoa thành
bó ở nách lá hoặc ở trên những cành không có lá. Lá đài thường 4 ít khi 5 – 6.
Cánh tràng không tồn tại. Nhị 4, tự do hặc dính liền. Bầu 3 ô hoặc 5 ô. Quả nang
hoặc quả nạc. Ở Việt Nam phân chi này tồn tại 6 loài.
- Phyllanthodendron: lá đài kéo dài ở đỉnh, gần như có gờ ở mặt lưng,
không có đĩa mật thực sự hay nói cách khác chính xác hơn các lưỡi daì, hẹp mọc
xen kẽ với các thùy của đài loài như là những tuyến; vòi nhụy thường dày và
không chia thành rãnh. Phân chi này ở Việt Nam có 8 loài
- Phyllanthus: hoa đực có 3 nhị, bao phấn không hoặc có trung đới ngắn ở
đỉnh. Lá đài không có gờ ở mặt lưng và không kéo dài ở đỉnh. Hoa cái có vòi
nhụy tự do và dính ở các mức độ khác nhau, vòi nhụy phân chia hoặc phân chia
nhưng không dày, có khía ở mặt trên. Ở Việt Nam phân chi này có 16 loài
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

5

- Eriococcus: hoa đực có 4 đài, hai nhị bé và không cuống. Hoa cái có 4 –
6 đài. Ở Việt Nam phân chi này có 13 loài.
2.1.3 Đặc điểm thực vật 2 loài nghiên cứu
2.1.3.1 Loài diệp hạ châu thân xanh (Phyllanthus amarus Schum. & Thonn)
Cây thảo, cao 10 – 40 cm, ít phân cành, màu lục. Lá mọc so le, xếp hai
dãy đều trên cành trông như một lá kép lông chim, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, hai
mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới mốc. Hoa đơn tính mọc ở kẽ lá,
không có cánh hoa, màu lục nhạt, hoa đực có cuống ngắn xếp ở dưới hoa cái,
hoa cái có cuống dài. Quả nang, hình cầu, nhẵn, hơi dẹt, chia thành 3 mảnh vỏ,
mỗi mảnh vỏ có 2 van chứa 2 hạt. Hạt hình tam giác, đường kính 1mm, có cạnh
dọc và vân ngang. Mùa hoa tháng 4 – 6, mùa quả tháng 7 – 9. [9].

gọi là diệp hạ châu, diệp hòe thái, Lão nha châu, Prak phle (campuchia) được
mô tả là một loại cỏ, mọc hàng năm, cao khoảng 30cm, mọc thẳng đứng, mang
cành, thường có màu đỏ. Lá mọc so le, lưỡng hệ, trông loài như lá kép, phiến lá
thuôn, dài 5 – 15 mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép lá nguyên nhưng
hơi có răng cưa rất nhỏ, mặt dưới màu xanh lơ, không có cuống hay có cuống rất
ngắn. Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ, màu nâu đỏ, đơn tính, hoa đực hoa cái cùng gốc,
hoa đực ở đầu cành, hoa cái ở gốc cành. Hoa không có cuống hoặc có cuống rất
ngắn. Đường kính quả có thể đạt tới 2mm, treo lủng lẳng dưới lá do đó có tên
diệp hạ châu, hạt 3 cạnh, hình trứng, màu nâu nhạt, có vân ngang.
Về phân bố, chó đẻ răng cưa mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta cũng
như khắp các nước vùng nhiệt đới.
Người ta dùng toàn cây để làm thuốc. Mùa thu hái quanh năm nhưng tốt
nhất là vào mùa hạ
2.2 Thành phần hóa học
2.2.1 Loà diệp hạ châu thân xanh
Trong lá Phyllanthus amarus Schum.& Thonn chứa một chất đắng là
Phyllanthin, không có quinin hoặc alcaloid khác. Lá khô chứa các chất đắng
hypophyllanthin (0,05%) và phyllanthin (0,35%) gây độc đối với cá và ếch.
Ngoài ra, trong cây có chứa niranthin, nitetralin và phyteralin. [6]
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

7

Người ta còn phát hiện trong cây có các lignan, flavonoid và các alkaloid
kiểu securinin: niuroidin, isobubbialin, epibubbialin, chất amariinic acid, một
loại ellgitannin, cùng với elaeocarpusin, geraniiic acid B và repandusinnic acid
A I-O-galloyl-2,4-dehydrohexahydroxydyphenoyl – glucopyranose. [30], [31],
[34].
Foo-Ly đã tách được, 1,6-digalloylglucopyranosid, amariin geranniin,
corilagin, cũng như rutin, quercetin-3-O-glucopyranosid từ phân đoạn phân cực

enzyme polymerase DNA nội sinh của virus viêm gan B. [9]
2.3 Tác dụng dược lý, sử dụng và hiệu quả kinh tế
2.3.1 Loài diệp hạ châu thân xanh
2.3.1.1 Tác dụng dược lý
Cây diệp hạ châu đắng có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát
trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, lợi tiểu, thông sữa. [3]
Cao diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ gan trên chuột cống trắng được
gây nhiễm độc gan bằng carbon tetraclorid. Trong mô hình gây xơ gan thực
nghiệm trên chuột cống trắng, thuốc có tác dụng làm giảm hàm lượng colagen
trong máu và làm giảm mức độ xơ gan ở động vật điều trị so với đối chứng.
Thuốc có tác dụng lợi tiểu, chống oxy hóa và tỏ ra có mức độ an toàn cao trong
thử nghiệm về độc tính. Các liguan phyllanthin và hypo phyllanthin trong diệp
hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ tế bào gan chuột cống trắng chống lại tác dụng
độc hại tế bào gây bởi carbon tetraclorid và galactosamin.
Diệp hạ châu đắng ức chế DNA polymerase virus viêm gan B và virus
viêm gan khác. Trong thời gian nghiên cứu lâm sàng sơ bộ, những người mang
virus viêm gan B được điều trị với liều hàng ngày 200 mg cao toàn cây Diệp hạ
châu đắng (bỏ rễ) trong 30 ngày. Kết quả, 22/37 (59%) bệnh nhân được điều trị
đã mất kháng nguyên bề mặt của viêm gan B trong khi chỉ 1/23 (4%) bệnh nhân
đối chứng có hiện tượng này. Một số đối tượng được theo dõi 9 tháng không có
trường hợp nào kháng nguyên bề mặt xuất hiện trở lại. Không thấy có hoặc chỉ
có ít tác dụng gây độc.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

9

Toàn cây diệp hạ châu đắng có tác dụng gây hạ đường máu, hạ áp và lợi
tiểu ở người. Cây cũng có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm.
Ba hoạt chất từ diệp hạ châu đắng có tác dụng ức chế aldos reductase là
acid elargic, brefolin carboxylat và ethylbrevifolin; acid elargic có tác dụng

chất này của cây. Tác dụng lợi tiểu của cây này là do có tỷ lệ Kali cao [23], [6].
Dân gian thường sử dụng cây này làm thuốc thông tiểu, thông sữa điều kinh và
thông kinh trục ứ.
Ở Ấn Độ, người ta dùng toàn cây làm thuốc lợi tiểu [35] trong bệnh phù,
bệnh lậu và những rối loạn của đường niệu sinh dục. Nước sắc các chồi non
dùng để trị lang; rễ tươi làm thuốc trị vàng da; lá dùng làm thuốc trị tiêu hóa,
dịch lá dùng để đắp vết lở loét. Người ta còn dùng lá và rễ phơi khô nghiền
thành bột, trộn với nước vo gạo dùng làm thuốc chữa các vết sưng phù và loét
[6]. Ở Tây Ấn, diệp hạ châu đắng còn được dùng để trị giun cho tre em.
Theo cuốn cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, ở Thái Lan, Diệp
hạ châu được sử dụng làm thuốc trị vàng da. Ở Peru, nhân dân uống nước sắc
phần phía trên mặt đất của cây để làm thuốc lợi tiểu, trị sỏi mật và sỏi thận. Ở
một số nước Nam Mỹ, diệp hạ châu đắng được dùng trị sốt rét, sỏi thận, sỏi
bàng quang, các rối loạn về tiết niệu nói chung và còn có tác dụng gây sẩy thai.
Ở Haiti, nhân dân uống nước sắc diệp hạ châu đắng và tắm với nước ngâm lá để
trị sốt. Từ đảo Hải Nam đến Indonesia, nhân dân dùng nước sắc hoặc nước hãm
diệp hạ châu đắng làm thuốc lợi tiểu trị bệnh thận và gan, bệnh hoa liễu, đau
bụng làm thuốc long đờm cho trẻ em, hạ sốt, điều kinh và trị tiêu chảy. Nước sắc
toàn cây là thuốc bổ dạ dày. Lá giã nát làm thuốc trị dung giật và bệnh ngoài da.
Ở Papua – Niu Ghine, nước hãm toàn cây để trị đau đầu, hoặc trị nhức nửa đầu.
Các thầy thuốc cổ truyền ở Tanzania dùng cao nước thân lá của cây diệp hạ châu
đắng trị bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Ở Nigieria cao nước cây
khô dược sử dụng để trị tiêu chảy, lá nhai nuốt nước trị ho kéo dài, và sắc uống
làm đỡ đau dạ dày. Nhân dân bờ biển Nga uống nước sắc lá để làm đẻ dễ trong
trường hợp đẻ khó, trị vàng da, nôn, đau bụng, đau gian sườn, đau mình mẩy
kèm theo sốt và phù, đánh trống ngực, bệnh lậu, bệnh về da. [3]
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

11


12

Điều này gợi ý rằng cao nước cây chó đẻ có thể có ích trong việc điều trị nhiều
loại tế bào ung thư ở người mà không có tác dụng phụ độc trên các tế bào bình
thường. [21]
Các tác giả Yang CM. và cs. cho biết, các cao chiết với aceton, ethanol và
methanol của Chó đẻ răng cưa có tác dụng ức chế sự nhiễm HSV – 2 (virus
Herpes simplex – 2) thông qua việc làm rối loạn giai đoạn đầu của sự nhiễm
virus và thông qua việc làm giảm tính gây nhiễm virus. [12]
2.3.2.2 Giá trị sử dụng
Trong dân gian, chó đẻ răng cưa thường được sử dụng chữa đau yết hầu,
viêm họng, đinh râu, mụn nhọn, viêm da thần kinh, lở ngứa, sản hậu ứ huyết, trẻ
em tưa lưỡi, chàm má, rắn cắn.
Dân gian Trung Quốc dùng chó đẻ răng cưa để chữa viêm thận, phù
thũng, viêm niệu đạo và sỏi niệu đạo, viêm ruột, lỵ, viêm kết mạc, viêm gan, trẻ
em cam tích, suy dinh dưỡng
Người Ấn Độ dùng toàn cây làm thuốc lợi tiểu chữa bệnh phù thũng, trị
bệnh lậu và những rối loạn đường niệu sinh dục và làm ruốc cá cho trẻ em mất
ngủ. [21]
Ở Campuchia, người ta dùng cây sắc uống, dùng riêng hoặc phối hợp với
những vị thuốc khác trị các bệnh về gan, trị kiết lỵ, sốt rét.
Ở Thái Lan, cây được dùng để trị các bệnh về dạ dày, bệnh hoa liễu, vàng
da, trĩ và lỵ. Cây non dùng làm thuốc chữa ho cho trẻ em.
2.4 Một số bài thuốc có sử dụng diệp hạ châu
2.4.1 Loài diệp hạ châu thân xanh
Trị vàng da, sốt, đau mắt, rắn cắn: diệp hạ châu đắng 20 – 40g cây tươi,
giã lấy nước hoặc 6 – 8g, sắc uống
Trị mụn nhọn, lở ngứa: cả cây diệp hạ châu giã đắp hoặc lấy nước cốt bôi
Trị viêm gan do virus B: diệp hạ châu đắng 10g, nghệ vàng 5g, sắc nước 3
lần, lần đầu với 3 bát nước lấy 1 bát thuốc. Lần thứ hai và ba với 2 bát nước,

(Phyllanthus amarus L.) sau khi thu xong gieo ngay (gieo tươi) ở trên nền đất,
nền cát và cả trong đĩa petri đều có tỷ lệ nảy mầm cao hơn hạt thu xong phơi
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

14

khô, bảo quản trong 30 ngày ở tất cả các thời điểm theo dõi, sau 25 ngày, tỷ lệ
nảy mầm cao hơn là 12%.
Nghiên cứu cũng khẳng định axit humic có tác dụng làm tăng tỷ lệ nảy
mầm của hạt. Với 3 nồng độ nghiên cứu là 0,004%; 0,008%; 0,012% thì nồng
độ 0,012% có tỷ lệ nảy mầm cao nhất.
Ngoài nhân loài hữu tính, loài này cũng có khả năng nhân loài vô tính
bằng các đoạn hom giữa thân hoặc giữa cành với đoạn cắt từ 5 – 7 cm, trên nền
cát, tưới đủ ẩm cho tỷ lệ cây loài đạt 80%.
Tuy nhiên hình thức nhân loài hữu tính bằng hạt phơi khô bảo quản ở kho
đặc dụng rồi đưa dùng dần mặc dù tỷ lệ nảy mầm thấp nhưng thường được áp
dụng trong việc sản xuất dược liệu đại trà. [22]
Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra quy trình trồng trọt chính
thức cho các loài này tại Việt Nam.
Theo nghiên cứu phát triển Dược liệu và Đông dược ở Việt Nam – Viện
Dược liệu, trên cây Diệp hạ châu (Phyllanthus amarus) có 8 loài sâu hại của 6 họ
thuộc 5 bộ côn trùng khác nhau. Đó là: Cào cào, Rệp muội, Bọ xít xanh, Sâu
xanh, Sâu đo, Sâu cuốn lá thuộc bộ cánh vảy có mức độ gây hại cao nhất trong
giai đoạn sinh trưởng mạnh của cây (tháng 4, tháng 5).
Có tổng số 3 loại bệnh gây hại: Lở cổ rễ, vàng lá sinh lý, phấn trắng, trong
đó bệnh phấn trắng gây hại ở mức độ phổ biến cao. Bệnh xuất hiện từ tháng 9
đến tháng 12 hàng năm trên diện tích vụ đông muộn.
Phòng trừ sâu cuốn lá bằng biện pháp thủ công cho thấy: Hiệu quả phòng
trừ đạt 81,1% ở 10 ngày sau khi tiến hành bắt sâu 2 lần (thích hợp với diện tích
sản xuất không quá lớn). Khi sử dụng thuốc hóa học Sherpa 50EC trong phòng

Thuốc LIVBILNIC – sản phẩm của công ty Cổ phần TRAPHACO – với
thành phần Diệp hạ châu (Phyllsnthus urinaria L.). Có tác dụng bảo vệ gan,
chống viêm gan, viêm gan siêu vi, viêm gan mãn tính do rượu và hóa chất. Đặc
biệt trong bệnh viêm gan siêu vi B, LIVBILNIC có tác dụng cải thiện các chức
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

16

năng gan, chuyển HbsAg (+) thành HbsAg (-) với tỷ lệ đáng kể. LIVBILNIC
còn tác dụng lên hệ miễn dịch cơ thể bằng cách sản xuất ra kháng thể chống
kháng nguyên HbsAg. Ngoài ra việc sử dụng LIVBILNIC cũng cải thiện đáng
kể các triệu chứng viêm gan siêu vi như đau bụng, mệt mỏi, trướng bụng, chán
ăn, tiêu chảy. Sản phẩm an toàn cao khi sử dụng, hoàn toàn không gây tác dụng
không mong muốn. Lộ trình điều trị kéo dài từ 3 – 6 tháng. [29]
Hiện nay Viện Dược liệu và Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây
thuốc Hà Nội – Viện Dược liệu đang sản xuất và chế biến loại trà túi lọc mang
nhãn hiệu “Trà Diệp hạ châu”. Sản phẩm được chế biến từ thân, lá của cây Diệp
hạ châu đắng (Phyllanthus amarus Schum. Et Thonn.) và cam thảo bắc. Thành
phần Diệp hạ châu 8g, cam thảo 2g. Đóng hộp 20 túi, giá bán 20.000VNĐ/hộP.
Tác dụng bảo vệ gan, chống lại virus viêm gan B, trị đầy bụng, khó tiêu do chức
năng gan kém. Hiện nay sản phẩm này đã được bày bán tại các nhà thuốc trên cả
nước và được người tiêu dùng đón nhận.
Tại Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội – Viện
Dược liệu, cây diệp hạ châu (P. amarus) sau khi trồng khoảng 3 tháng có thể thu
hoạch. Cây thường được thu vào buổi sáng, dùng liềm cắt sát gốc. Sau khi thu
toàn bộ cây được chặt thành đoạn dài 5 – 10 cm, đem phơi dưới ánh nắng mặt
trời khoảng 3 – 4 nắng cho khô kiệt. Sản phẩm được đóng bao và bán cho các cơ
sở sản xuất hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Giá bán giao động từ 60.000
– 150.000VNĐ/1kg
2.7 Một số nghiên cứu xác định mật độ trồng đối với cây dược liệu

Theo nghiên cứu của Ngô Quốc Luật – Viện Dược liệu cho hay mật độ trồng
đối với dược liệu ích mẫu là 25 vạn cây/ha cho năng suất cao nhất.
Khi tiến hành nghiên cứu về mật độ cây sâm ngọc linh TS. Nguyễn Văn
Thuận – Viện Dược liệu cho hay mật độ trồng tốt nhất cho năng suất cao nhất là
16,6 vạn cây/ha.
Theo nghiên cứu của Nghiêm Tiến Chung – Viện Dược liệu về cây Bạch
truật thì với mật độ 25 vạn cây/ha cho năng suất thực thu cao nhất

Trích đoạn Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng của cây diệp hạ Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái tăng trưởngchiều cao cây diệp Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái tăng trưởng số lá/thân chính của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status