Tìm hiểu một số bệnh thường gặp trên cá hồng mỹ (sciaenops ocellatus) nuôi lồng tại xã hải dương, thị xã hương trà, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Thủy Sản

SỐ LIỆU THÔ
TÊN ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu một số bệnh thường gặp trên cá Hồng mỹ
(Sciaenops ocellatus) nuôi lồng tại xã Hải Dương, thị xã Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thức hiện: Nguyễn Trọng Hiếu
Lớp: Cao Đẳng Nuôi trồng Thủy sản 47
Giáo viên hướng dẫn: Th.S. Trần Quang Khánh Vân
Bộ môn: Bệnh học thuỷ sản

HUẾ, 06/2016

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Thủy Sản

BÁO CÁO

TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu một số bệnh thường gặp trên cá Hồng mỹ
(Sciaenops ocellatus) nuôi lồng tại xã Hải Dương, thị xã Hương
Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

xã Hải Dơng và các hộ ng dân ở xã Hải Dơng đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo
nhiều điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập tại địa phơng.
Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, mặc dù đã có rất nhiều cố
gắng, tuy nhiên do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế nên không thể
tránh đợc những thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự quan tâm, góp ý của Quý
thầy cô để báo cáo của em đợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tha Thiờn Hu, thỏng 6 nm 2016
Sinh viờn

Nguyn Trng Hiu

3


DANH MỤC CÁC BẢNG

4


DANH MỤC HÌNH ẢNH

5


MỤC LỤC

6



chẽm, cá đối, cá song... đã trở thành đối tượng nuôi chính.
Năm 2007, Trung tâm Khuyến Ngư Thừa Thiên Huế đã thực hiện thành
công mô hình nuôi thử nghiệm cá Hồng mỹ (Sciaenops ocellatus) thương phẩm
trong lồng nước lợ tại xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế,


mô hình đã được nhân rộng trong nhiều năm qua và đã mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Tuy nhiên, do việc mở rộng diện tích nuôi một cách bừa bãi, chưa có sự quy
hoạch, phân vùng hợp lý, làm theo cảm tính, tự phát, xem nhẹ các vấn đề kỹ
thuật, thời vụ… dẫn đến môi trường nước nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng, đồng
thời do chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu nên tình hình dịch bệnh trên cá
Hồng mỹ xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Do đó việc tìm hiểu tình hình nuôi và
tình hình dịch bệnh trên cá Hồng mỹ là cần thiết cho công tác chăm sóc và
phòng trị bệnh, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của khoa Thủy sản và
Giáo viên hướng dẫn, chúng tôi tiến hành đề tài : “Điều tra tình hình nuôi
thương phẩm cá Hồng mỹ (Sciaenops ocellatus ) nuôi lồng tại xã Hải Dương,
thị xã Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế".
Mục tiêu của đề tài:
- Tìm hiểu được tình hình nuôi và tình hình dịch bệnh trên cá Hồng mỹ
nuôi lồng tại xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Làm quen với công tác nghiên cứu và nâng cao kiến thức thực tế.


PHẦN 2 :TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh học của cá Hồng Mỹ
2.1.1. Hệ thống phân loại
Theo khóa phân loại của Nguyễn Nhật Thi, 2006
Cá Hồng mỹ thuộc:
Giới:

ở phía trước, hơi thấp và hơi lệch phía dưới, môi mỏng, có thể co duỗi được.


2.1.3. Đặc điểm phân bố
− Cá Hồng mỹ (Sciaenops ocellatus) là loài cá rộng muối, rộng nhiệt, phân bố ở

vịnh Mexicô và vùng duyên hải Tây Nam nước Mỹ, phạm vi phân bố rộng, khi
trưởng thành thường di cư đến vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản. Cá
có thể sống trong nước ngọt, nuớc lợ, nước mặn, nhưng thích hợp nhất vẫn là
nước lợ và nước mặn, kích thước cá thể lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh.
− Cá Hồng mỹ lần đầu tiên được nhập vào Việt Nam năm 1999, nhưng sau 4 năm

đã có thể cho sinh sản thành công đối tượng này và đã đáp ứng đuợc phần lớn
nhu cầu con giống phục vụ nuôi nội địa. Cá Hồng mỹ đã được nuôi phổ biến
trong lồng bè ở vùng biển các địa phương: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An.
− Cá Hồng mỹ phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới.
− Cá Hồng mỹ sống và sinh trưởng tốt ở nơi có nhiệt độ từ 10 –30 C, nhiệt độ

thích hợp nhất là từ 18-26 C.
− Khi còn nhỏ, chiều dài khoảng 2,5 cm, cá sống chủ yếu ở khu vực nước lợ cửa

sông và rừng ngập mặn, nơi có độ mặn trên 15 ppt.
− Khi trưởng thành, cá thường sống ở gần đáy và di cư ra vùng nước sâu, nơi có

độ mặn cao và pH ổn định, chất đáy là rạn đá, san hô, đá sỏi hoặc có nền đáy
cứng.
− Cá có thể sống trong nước ngọt, nước lợ, nước mặn, nhưng thích hợp nhất vẫn là

nước lợ và nước mặn, được nuôi nhiều ở Nam Mỹ.
2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng

đạt chiều dài lớn hơn 4mm thì thức ăn ưa thích là Rotifer và còn ăn tiếp tục đến
sau 30 ngày kể từ khi nở. Khi ấu trùng đạt chiều dài 12mm thường ăn Copepoda
như: Tigriopus, Arcatia, Oithoina, Paracalanus,… Sử dụng thức ăn bất kỳ lúc
nào trong ngày nhưng mạnh nhất vào lúc xế chiều.
2.1.6. Đặc điểm sinh sản
− Tuổi thành thục lần đầu của cá là khoảng 2+ – 3+.
− Khối lượng 2 –3 kg.
− Sức sinh sản lần đầu là từ 100.000 –500.000 trứng/ cá cái / lần đẻ.
− Mùa sinh sản của cá hồng mỹ từ cuối tháng 1 tháng 11, tuy nhiên cá đẻ rộ vào

tháng 4 đến tháng 8.
− Cá đẻ vào buổi tối, thường từ 1 – 4 giờ sáng, trùng với khi thuỷ triều lên.
− Bãi đẻ là nơi có độ sâu 18 –37 m, chất đáy là cát hoặc cát san hô, nơi có độ mặn

cao và ổn định.
− Trứng sau khi thụ tinh có đường kính khoảng 0,78 –0,81 mm, đường kính giọt

dầu khoảng 0,15 –0,16 mm.


− Trong điều kiện nhiệt độ 28 –30 0C, độ mặn 33 ppt, sau 15 –17 giờ kể từ khi thụ

tinh trứng sẽ nở ra cá bột.
− Trong tự nhiên cá Hồng mỹ sống thành đàn, phạm vi phân bố rộng, khi trưởng

thành thường di cư đến vùng cửa sông và vùng biển nông để sinh sản.
2.1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cá hồng mỹ
− Nhiệt độ

Nhìn chung cá Hồng mỹ tăng trưởng chậm khi nhiệt độ nước xuống dưới

hiệu quả. Mục tiêu đầy tham vọng của ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam là
sản xuất ra 2 triệu tấn sản phẩm chủ yếu là từ nuôi biển vào năm 2010 đã nhận
được sự hỗ trợ to lớn cả về tài chính cũng như kỹ thuật từ Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn và một số tổ chức quốc tế khác.
− Việt Nam có diện tích đất liền khoảng 330.000km 2 và một vùng biển đặc quyền

kinh tế khoảng trên 1.000.000km2. Khu vực bờ biển nước ta với chiều dài 3.260
km bờ biển chạy dài từ Bắc vào Nam, với nhiều đầm phá nước lợ ven biển, đặc
biệt vùng ven biển miền Trung là một thế mạnh, một tiềm năng hiếm thấy để
phát triển nghề nuôi mặn, lợ. Biển Việt Nam có rất nhiều loài có giá trị kinh tế
để phát triển nghề nuôi cá biển. Việc chọn đối tượng nuôi có ý nghĩa rất quan
trọng trong nghề nuôi cá biển. Đối tượng nuôi phải có giá trị kinh tế cao đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước và ngoài nước, đặc biệt là
phải chủ động nguồn giống cả về số lượng, chất luợng và tính mùa vụ.
− Cá Hồng mỹ là loài được di nhập từ Trung Quốc và được thuần hóa, đối tượng

này đã thể hiện thích ứng tốt với điều kiện môi trường và hệ thống nuôi ở nước
ta, trở thành đối tượng nuôi mới và có triển vọng phát triển tốt.
− Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam nghề nuôi cá Hồng mỹ vẫn còn mới, hiện

đang được nuôi thử nghiệm tại một số địa phương như: Hà Tĩnh, Nam Định,
Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Khánh Hòa, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bình
Thuận ,...và đã đạt được nhiều kết quả cao. Do đó, việc nuôi cá Hồng mỹ đang
được nhân rộng ở Việt Nam.
− Cá Hồng mỹ có giá trị kinh tế cao, dễ nuôi, có tốc độ phát triển tốt, có đặc điểm
sống phù hợp với các vùng nuôi nước lợ, đặc biệt là các ao nuôi tôm sú vùng
triều, được nuôi với nhiều hình thức: nuôi trong ao đất, nuôi lồng .
− Tỉnh Nam Định có 15.576ha nuôi trồng thủy sản trong đó diện tích nuôi mặn, lợ

6.144ha, nuôi nước ngọt 9.432ha. Trong những năm gần đây phong trào nuôi

phí con giống, thức ăn, thuốc, hoá chất, khấu hao lồng bè,... ông thu về hơn 50
triệu đồng tiền lãi.
2.2.3.Tình hình nuôi cá Hồng mỹ ở Thừa Thiên Huế
Trong những năm gần đây, cá Hồng mỹ là một trong những đối tượng nuôi
mới được bà con nông ngư dân đưa vào nuôi trong lồng. Việc sản xuất hàng hoá
theo nhu cầu của thị trường, đa dạng hoá sản phẩm là một chủ trương lớn của
Nhà nước ta nói chung và của tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng giúp cho sản phẩm
sản suất ra được tiêu thụ một cách dễ dàng hơn, giá bán cao hơn. Vì vậy, việc
đưa cá Hồng mỹ vào nuôi là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng
trên một đơn vị diện tích mặt nước, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu thị trường, đa
dạng hoá đối tượng sản phẩm, hạn chế rủi ro để bà con nuôi cá Hồng mỹ đúng
kỹ thuật, đạt năng suất cao. Chính vì vậy, Ở Thừa Thiên Huế, trong năm trở lại
đây số người nuôi cá Hồng mỹ tăng. Người dân đã bước đầu nuôi cá Hồng mỹ ở
một số địa phương ở xã Hải Dương với hình thức nuôi chủ yếu là nuôi lồng. Các
lồng nuôi tại địa phương có thể tích trung bình từ 3-4 m3, mật độ nuôi 300
con/lồng¸ kích cỡ giống thả trung bình từ 6–8cm/con. Lượng cá giống được mua
chủ yếu ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định một số ít được lấy ở địa phương


nhờ việc đánh bắt.
Người dân ở Thừa Thiên Huế chủ yếu nuôi cá Hồng mỹ 1vụ/năm, nuôi
quanh năm và kế tiếp nhau, thu những con to và đạt kích cỡ tốt trước, những con
còn nhỏ chưa đạt kích cỡ thì nuôi tiếp với vụ tiếp theo. Với nguồn thức ăn
chủ yếu là cá tạp, cho ăn 2lần/ngày đối với cá nhỏ mới nuôi dưới 3 tháng , còn
cá nuôi trên 3 tháng thì cho ăn ngày 1 lần, người dân địa phương có thể
chủ động trong việc tìm nguồn thức ăn cho lồng nuôi nhờ vào nghề phụ của
người dân là nghề đáy.
Cá Hồng mỹ là một đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa
phương, cá Hồng mỹ có tốc độ phát triển nhanh, kỹ thuật nuôi không phức tạp,
chi phí không cao, có giá thành sản phẩm cao, là một đối tượng sẽ được phát

mềm…đã được nghiên cứu. Các tác giả Plumb.J.A (1997), Ausstin D.A (1999) đã
nghiên cứu và công bố hàng trăm loài vi khuẩn khác nhau gây bệnh trên động vật
thủy sản. Trong đó tập trung chủ yếu một số giống như: Vibrio ssp, Aeromonas
spp., Pseudomonas spp., Mycobacterium spp., Myxobacteria spp…
2.3.2. Ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu bệnh thủy sản ở nước ta chậm hơn so với các nước trên
thế giới và được bắt đầu từ năm 1960 trở lại đây.
Đặc biệt từ năm 1980, đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về tác nhân
virus, vi khuẩn, nấm…được công bố, các công trình này thúc đẩy nghề nuôi cá
ngày càng phát triển và đi vào ổn định.
Giai đoạn từ năm 1985 đến nay, các nhà khoa học Việt Nam chủ yếu
nghiên cứu về bệnh tôm, về hội chứng lở loét ở cá. Việc nghiên cứu về vi khuẩn,
virus và nấm còn rất hạn chế. Hiện nay chúng ta đang tập trung nghiên cứu để
sản xuất vacxin trong nghề nuôi trồng thủy sản.
Có thể nói rằng với công tác nghiên cứu bệnh ngày càng phát triển, công
nghệ được ứng dụng rộng rãi đã mở ra nhiều thành công mới cho ngành thủy sản
Việt Nam.
2.4. Tình hình dịch bệnh gây ra trên cá Hồng mỹ
Cá Hồng mỹ là đối tượng đã được sinh sản nhân tạo, vì thế có được nguồn
giống cung cấp chủ động cho người nuôi và cũng từ đây nghề nuôi cá hồng mỹ
phát triển mang lại nhiều thành công. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế đó nghề nuôi
cá Hồng mỹ cũng gặp phải những tác hại do dịch bệnh gây ra và gây thiệt hại
lớn cho người nuôi. Tuy nhiên cá Hồng mỹ là một đối tượng nuôi mới nên cũng
chưa phát hiện được nhiều bệnh xảy ra trên đối tượng này, chỉ phát hiện được
một số bệnh như: đĩa cá, ghẻ lở.
2.4.1 Một số bệnh thường gặp trên cá Hồng mỹ
2.4.1.2. Bệnh lở loét do vi khuẩn


− Dấu hiệu thường gặp:

sinh trùng sẽ phá huỷ các mô của ký chủ, tạo dịch nhầy bám trên mang gây khó
khăn cho hô hấp của cá. Khi bị nặng cá có thể chết hàng loạt.
− Nguyên nhân: Do loại vi trùng bánh xe Trichodia sp sống ký sinh trong mang và

da cá.
− Điều trị: Tắm cá với dung dịch Formalin 70-150ppm trong 30-60 phút, sục khí

mạnh hoặc tắm cá với dung dịch formalin 25ppm trong 1-2 ngày kèm sục khí
mạnh .
2.4.1.4. Bệnh trắng da (bệnh tuột nhớt)
- Triệu chứng bệnh lý


− Thời kỳ đầu, đuôi cá có vệt trắng, sau lan dần về phía trước, đến vây lưng và vây

hậu môn rồi cả thân màu trắng, cá mất nhớt và đôi khi bong da, bong vẩy.
− Bệnh nặng cá cắm đầu xuống và sau thời gian ngắn cá chết.

- Phòng bệnh
− Tránh làm xây xát cá khi đánh bắt và vận chuyển cá.
− Không nên nuôi hoặc nhốt cá ở mật độ qúa dầy.
− Giữ môi trường nuôi luôn sạch và thức ăn phong phú.

- Trị bệnh
− Thời gian từ lúc xuất hiện triệu chứng đến lúc chết rất ngắn, việc phát hiện bệnh

sớm rất có ý nghĩa trong chữa trị.
− Ngâm cá trong bột tẩy nồng độ 1g/m3.
− Tắm cá bệnh bằng Streptomycine 25mg/m3 nước trong 30 phút.


− Cần giữ môi trường luôn sạch.
− Mật độ cá nuôi không qúa dầy.

- Trị bệnh
− Dùng Sunphat đồng ngâm cá bệnh nồng độ 0,5-0,7g/m3. Tắm cá bệnh nồng độ

2-5g/m3 trong thời gian 30 phút..Dùng Malachite green: Ngâm cá ờ nồng độ 0,10,2g/m3 trong thời gian dài hay tắm cá 1-2g/m3 trong thời gian 30-60 phút.
2.4.1.7. Bệnh trùng quả dưa (bệnh đốm trắng)
- Triệu chứng bệnh lý
− Thường ký sinh trên da, mang và vây của cá, trùng bám thành các hạt lấm tấm

rất nhỏ (đường kình lớn nhất 1 mm).
− Cá bệnh nổi đầu từng đàn trên mặt nước, bơi lờ đờ yếu ớt. Nếu ở cá trê giống bị

bệnh này thường được gọi là bệnh "treo râu".
- Phòng bệnh
− Tẩy dọn ao kỹ, phơi đáy ao 3-4 ngày để diệt bào nang dưới đáy ao sau mỗi vụ.
− Khi hệ thống ương nuôi có cá bệnh, cần cách lý cá bệnh với cá khỏe.

- Trị bệnh
− Khi trị bệnh cần phải chuyển ao.
− Dùng Malachite green liều lượng 0,1-0,3g/m 3 phun xuống ao cá bệnh hay liều

lượng 1-2g/m3 tắm cá trong 30 phút.
2.4.1. 8. Bệnh xuất huyết
- Triệu chứng bệnh lý
− Cá có hiện tượng xuất huyết, mang nhợt nhạt, mắt cá lồi . Hiện tượng xuất

huyết thấy ở vây và xương nắp mang
− Bệnh xuất hiện vào mùa xuân hè

2.4.1.11. Bệnh viêm ruột ở cá
- Triệu chứng bệnh lý
− Cá kém ăn, bỏ ăn. Bụng cá trương to, có ban đỏ, hậu môn đỏ lồi
− Xoang cơ thể tích dịch, thành ruột bị viêm và chảy máu, trên thành ruột có màu

đỏ, dịch vàng hay hồng chảy ra từ hậu môn. Cá vận động chậm chạp, bơi tách
đàn, chết nhanh.


- Phòng bệnh
− Áp dụng biện pháp phòng chung
− Đảm bảo thức ăn không bị nhiễm khuẩn, nếu là thức ăn tươi cần sát trùng NaCl

2 - 3%
− Dùng thuốc KN - 04 - 12 : 2 - 4 g/kg cá /ngày, cho ăn trong 6 ngày

- Trị bệnh
− Cho Ca(OCl)2 rắc xuống ao với nồng độ 1g/m3 nước để diệt vi khuẩn ngoài môi

trường nước
− Dùng Sunfaguanidin trộn vào thức ăn để diệt vi khuẩn bên trong cơ thể

2.4.1.12. Bệnh thối mang do vi khuẩn
- Triệu chứng bệnh lý
− Cá nổi đầu, tách đàn, kém ăn, màu sắc tối đen, mất vẻ tươi sáng
− Mang rách nát, dính kết, xương nắp mang tụ máu, tiết nhiều dịch nhờn, có

mùi hôi do tơ mang rách nát .
− Bệnh xẩy ra vào mùa hè (MB), mùa khô ở (MT- MN) .


− Các vùng nuôi cá Hồng mỹ ở xã Hải Dương, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên

Huế.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
− Từ ngày14/03/2016 -22/05/2016.

3.2. Nội dung nghiên cứu
− Điều tra tình hình nuôi cá Hồng mỹ tại xã Hải Dương, Thị xã Hương Trà, Thừa

Thiên Huế.
− Điều tra xác định tác nhân, dấu hiệu bệnh lý, tác hại và biện pháp phòng trị một

số bệnh phổ biến trên cá Hồng mỹ.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu nhập thông tin
− Số liệu sơ cấp: thông qua thăm hỏi, trực tiếp phỏng vấn các hộ nuôi cá Hồng mỹ

theo bảng hỏi.
− Số liệu thứ cấp: thông qua các văn bản báo cáo, tài liệu của các xã và huyện.

Ngoài ra còn thu thập từ sách, báo, tạp chí, internet…
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
− Số liệu được sử lý thông qua phương pháp thống kê và phần mềm Microsoft

Excell.


PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Kết quả điều tra tình hình nuôi cá Hồng mỹ tại xã Hải Dương, Thừa
Thiên Huế


13 hộ
Trung bình từ 70-90 con/m2
Trung bình từ 6-8cm

Qua bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy trong 30 hộ ở Hải Dương tham gia
phỏng vấn có 104 lồng nuôi, trung bình mỗi hộ có từ 2 đến 4 lồng nuôi, số hộ
có 2-4 lồng nuôi chiếm 1 tỷ lệ khá lớn (khoảng 80 %). Về độ tuổi có 2 hộ có độ
tuổi trung bình từ 30 - 40 chiếm 6,7 %, 10 hộ ở 41 – 50 tuổi chiếm 50% và trên
50 tuổi có 11 hộ tham gia chiếm 43,3%, mật độ thả nuôi cá Hồng mỹ trung bình
của 30 hộ điều tra dao động từ 70 – 90 con/m2 và kích cỡ giống đạt 6-8 cm.
Cá Hồng mỹ là đối tượng dễ nuôi, tạp ăn, dễ chăm sóc và là đối tượng có
giá trị xuất khẩu cao nên bà con ngư dân đang tiến hành nuôi và tăng diện tích
nuôi. Cá được nuôi ở ven đầm phá với hình thức nuôi chủ yếu là giai và lồng.
Kết quả điều tra tình hình nuôi cá Hồng mỹ tại xã Hải Dương được chúng tôi thể
hiện qua bảng 4.2.


Bảng 4.2. Tình hình nuôi cá Hồng mỹ tại xã Hải Dương
STT

Nội dung

Hải Dương

1

Tổng diện tích

67 ha (tổng diện tích nuôi cá lồng)

gỗ và lưới xanh kích cỡ 3x3x1,5 đặt gập khoảng 0,5m. Đáy giai được đặt cách
nền đáy đầm khoảng 0,02 - 0,03m để thuận lợi cho việc dọn vệ sinh khi giai
(lồng) bị nhiễm bẩn.
Tại tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và tại xã Hải Dương nói riêng, cá Hồng
mỹ được bà con tiến hành đưa vào nuôi để thay thế dần một số đối tượng cá ít có
giá trị về mặt kinh tế như cá rô phi... và hiện nay đang được nhân rộng ở nhiều
vùng khác nhau trong xã. Hiện nay, cá Hồng mỹ là đối tượng có thể giúp bà con
ngư dân phát triển kinh tế gia đình đem lại lợi nhuận rất cao, góp phần giúp ngư
dân làm giàu trên chính địa phương của mình. Nhưng hiện nay, với sự phát triển
ồ ạt thiếu quy hoạch, thiếu đồng bộ, biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh đã tác
động không nhỏ đến quá trình nuôi cá Hồng mỹ, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh.
4.2. Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh trên cá Hồng mỹ nuôi tại xã Hải
Dương
4.2.1. Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá Hồng mỹ
Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh trên cá Hồng mỹ nuôi tại xã Hải
Dương được chúng tôi trình bày qua bảng 4.3.


Bảng 4.3. Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá Hồng mỹ
Hải Dương

Tỷ lệ

Kích cỡ cá bị

(hộ)

(%)

Bệnh



100%

- Môi trường

0%

- Do yếu tố khác

0%

- Do môi trường

100%



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status