1
Kết quả Nghiên cứu tuyển chọn và lai tạo ngựa địa phơng
Bắc Hà với ngựa đực lai 50% Cabacdin
Nguyễn Đức Chuyên, Đặng Đình Hanh, Vũ Văn Tý, Tạ Văn Cần
The results of selection and hybridization between Bac Ha local horse and
hybrid horse with 50% of Cabacdin horse
The results of crossing between male hybrid horse with 50% of Cabacdin horse
and female local horse showed that the body weight of hybrid horse was
significantly higher than selected local horse and unselected local horse. Regard
to body weight at different ages, the body weight of male hybrid horse was
higher than that of selected local horse and unselected local horse. At day old,
body weight of hybrid horse increased by 15.8% and 18.88% with male,
respectively, and 14.18% and 18.51% with female. At 12 months of age, it
increased by 7.67% and 9.72% with male and 9.19% and 10.54% with female in
comparison with selected local horse and unselected local horse. The average
reproduction rate of two years was 63.65% which increased by 14.95% in
comparison with local horse.
1/Đặt vấn đề
Ngựa là vật nuôi truyền thống ở miền núi. Con ngựa cung cấp sức kéo phục vụ
cho nông nghiệp, vận tải hàng hoá, là phơng tiện đi lại ở vùng cao; Phục vụ thể thao
và du lịch; Nhiều chế phẩm sinh học từ ngựa đã đợc chuyển giao có hiệu quả trong
sản xuất: Nông nghiệp- Y học - Quốc phòng; Ngựa có mặt trên lĩnh vực văn hóa, thể
thao, du lịch, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc.
Giống ngựa Việt Nam (VN) có khả năng: Chịu đựng kham khổ, chống chịu
bệnh tật tốt, khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, thích ứng tốt với điều kiện chăn
-ở 5 xã, đặc trng cho 3 vùng sinh thái khác nhau của huyện Bắc Hà:
-2 xã Vùng thợng (Xã Tả Văn Ch, xã Lùng Phình), cách trung tâm huyện 25 km
-2 xã Vùng Trung (Xã Lầu Thí Ngài, xã Thải Giàng Phố), cách trung tâm huyện 5 km
-1 xã Vùng hạ (xã Nậm Mòn), cách trung tâm huyện 15 km
*Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 6/2005 đến tháng 6/2008.
2.2. Nội dung nghiên cứu:
tra thực trạng đàn ngựa của huyện Bắc Hà:
- Số lợng và sự phân bố đàn ngựa; Cơ cấu đàn ngựa; Tập quán chăn nuôi ngựa.
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh trởng của đàn ngựa
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh sản của đàn ngựa,
2.2.2. Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo ngựa địa phơng Bắc Hà với ngựa đựclai 50%
Cabacdin:
- Xây dựng 3 điểm chọn lọc ( 3 đực chọn lọc x 60 cái chọn lọc)
- Xây dựng 10 điểm lai tạo (10 đực lai 50% cabacdin x 200 cái chọn lọc
2.3. Phơng pháp nghiên cứu.
2.3.1.Phơng pháp điều tra:
-Sử dụng phơng pháp phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân theo bảng câu hỏi
- Kết hợp kế thừa số liệu theo dõi thống kê của huyện.
-Tỷ lệ đẻ = số ngựa cái đẻ / số ngựa cái trong độ tuổi sinh sản / năm
2.3.2. Phơng pháp nghiên cứu sinh trởng:
-Khối lợng sơ sinh đợc cân trực tiếp bằng cân treo.
-Khối lợng từ 6 trên 36 tháng tuổi đợc cân bằng cân điện tử Ruddweigh
- Để xác định tốc độ tăng trọng tuyệt đối và tơng đối chúng tôi dùng công thức:
+ Sinh trởng tuyệt đối đợc tính theo công thức:
P
ck
P
đk
ngựa cái),
+ Xã Tả Văn Ch (Vùng thợng, gồm: 2 ngựa đực lai + 40 ngựa cái và)
- Ngựa con sinh ra sau chọn lọc và lai tạo đợc theo dõi về tỷ lệ nuôi sống, khối
lợng qua các giai đoạn tuổi.
- Thí nghiệm đợc bố trí nh sau:
Nhóm thí nghiệm Ngựa đực lai 50% Cabacdin
Ngựa đực VN chọn lọc
-Ngựa cái chọn lọc (con)
-Phơng thức nuôi dỡng
-Yếu tố thí nghiệm
200
Chăn thả tự nhiên
Lai tạo
60
Chăn thả tự nhiên
Chọn lọc, nhân thuần
*Phơng pháp xử lý số liệu: Sau đợt khảo sát, các số liệu thu thập đợc tính
toán trên chơng trình SPSS 15.0 for Windows.
3.Kết quả và thảo luận
Điều tra thực trạng đàn ngựa của huyện Bắc Hà
lợng và sự phân bố:
Tốc độ tăng đàn ngựa bình quân ở huyện Bắc Hà trong 4 năm từ 2001 đến 2005
khá cao 3,41% (4.492/3.952 con). Trong đó: Năm 2002 tăng 2,96% (4069/3952 con);
2003 tăng 7,00% (4354/4069 con); 2004 tăng 1,58% (4423/4354 con); 2005 tăng
1,56% (4492/4423 con). Sự tăng đàn do nhu cầu thực tiễn sản xuất, đồng thời có sự ảnh
hởng của nghị quyết chuyên đề phát triển chăn nuôi của huyện vào 2003.
Đàn ngựa phân bố ở 21 xã và thị trấn. Trong đó 5 xã điều tra có số ngựa chiếm
T
Xã điều tra
Số
ngựa
điều
tra
Tổng
số
<12
12-36
>36
Tổng
số
<12
12-36
>36
1
Nậm mòn 72 115 21 14 80 37 15 6 16
2
Thải Giàng Phố 62 99 15 14 70 33 14 5 14
phơng tiện giao thông chính để cỡi và thồ hàng, bởi vậy ngời dân Bắc hà đang lựa
chọn phơng thức nuôi ngựa cái để thồ hàng kết hợp sinh sản.
So sánh với kết quả điều tra của Đặng Đình Hanh và cộng sự (2003) tại Trùng
Khánh (Cao Bằng) và Hoàng Su Phì (Hà Giang) thì thấy: Tỷ lệ ngựa cái > 36 tháng
tuổi ở Bắc Hà tơng đơng với ở Trùng Khánh (52,87% so với 52,21%), nhng cao
hơn so với Hoàng Su Phì (35,16%).
3.1.3. Tập quán chăn nuôi ngựa ở địa phơng
*Phơng thức và kỹ thuật chăn nuôi : Phơng thức chăn nuôi chủ yếu là quảng
canh, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên. Nguồn thức ăn sử dụng chủ yếu là cỏ tự nhiên,
lá rừng, có bổ sung ngô hạt, cám, thóc, sắn. Những ngày làm việc ngựa đợc bổ sung
từ 1-2 kg ngô hoặc thóc, sắn. Ngựa đợc chăn thả từ 10 giờ đến 15 giờ, còn lại phần
lớn thời gian ngựa bị nhốt trong chuồng hoặc đi làm. Những ngày nhốt không chăn thả,
cắt cỏ cho ăn tại chuồng từ 15 20 kg cỏ. Ngời dân cũng đã tận dụng phế phụ phẩm
từ nông nghiệp (lá ngô) làm thức ăn cho ngựa nhng cha nhiều.
*Về chuồng trại : Hầu nh các hộ đã làm chuồng nhốt ngựa, một số ít hộ làm
chuồng ngựa cách nhà, còn phần lớn chuồng thờng đợc làm ngay liền với đầu nhà
hoặc ngay hiên cửa nhà, nền chuồng đợc lát gỗ.
*Công tác giống: Đàn ngựa đợc phối giống tự do cha chú ý đến chọn lọc và
theo dõi phối giống.
*Sử dụng ngựa: Ngựa là phơng tiện chủ yếu để vận chuyển hàng hoá và đi lại
của ngời dân miền núi rất hữu hiệu.
*Công tác thú y : Nhìn chung dịch bệnh trên đàn ngựa sảy ra ít, chủ yếu là bệnh
nhiệt thán sảy ra năm 1990 và năm 1998 ở một số xã, đến nay dịch bệnh này đã không
sảy ra trong những năm gần đây, hàng năm đàn ngựa ở những xã đã sảy ra dịch đợc
tiêm phòng định kỳ bệnh nhiệt thán, còn những xã khác hầu nh là không tiêm.
3.1.4. Khả năng sinh trởng của đàn ngựa Bắc Hà
Chúng tôi đã tiến hành điều tra về khả năng sinh trởng của đàn ngựa nuôi tại huyện
Bắc Hà - Lào Cai với tổng số ngựa điều tra là 609 con, kết quả thu đợc thể hiện ở bảng 2:
Bảng 2 : Khối lợng của ngựa Bắc Hà qua các giai đoạn tuổi
Ngựa đực Ngựa cái So sánh
6 35
78,21
0,93
45
77,49
0,82
1,10 1,42
12 9
110,44
1,64
20
109,05
1,18
0,64 0,58
24 9
152,65
3,45
22
150,25
223
176,15
3,89
4,80 2,72
So sánh với ngựa Việt Nam cho thấy ngựa ở Bắc Hà có khối lợng cao hơn (từ
176,15 180,95 kg so với 160 170 kg), Nhng nhỏ hơn rất nhiều so với ngựa Cabacdin
(450 550 kg) và ngựa lai 25% máu Cabacdin (240 260 kg), Minh Ngọc-2000.
Theo Lê Viết Ly (1999), ngựa Việt Nam có khối lợng sơ sinh là 20 21 kg,
khối lợng trởng thành là 160 170 kg. Nh vậy ngựa Bắc Hà có khối lợng sơ sinh
nhỏ hơn, nhng khối lợng trởng thành có cao hơn.
Đặng Đình Hanh và cộng sự (2003) đã điều tra đàn ngựa ở huyện Hoàng Su Phì
(Hà Giang) và Trùng khánh (Cao Bằng) cho thấy: Ngựa ở Bắc Hà có khối lợng cao
hơn so với 180,95 kg so với 173,3 kg (Hoàng Su Phì) và 179 kg (Trùng Khánh) ở con
đực, 176,15 so với 160 kg (Hoàng Su Phì) và 170 kg (Trùng Khánh) ở con cái).
Bảng 3: Một số chỉ tiêu sinh sản của đàn ngựa cái Bắc Hà
Chỉ tiêu n (con)
X
SD
-Tuổi phối giống lần đầu (tháng) 42
25,8 3,15
-Tuổi đẻ lứa đầu (tháng) 25
37,5 2.24
-Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (tháng) 150
17,5 0,74
-Tỷ lệ đẻ (%) 157
48,7 1,35
tôi thấy rằng yếu tố giống, kỹ thuật phát hiện động dục và tổ chức phối giống, tỷ lệ đực cái
ghép đàn phù hợp đã tác động làm tăng tỷ lệ sinh sản cho đàn ngựa cái chọn lọc.
. Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của đàn ngựa lai và chọn lọc
Bảng 5: Tỷ lệ nuôi sống của ngựa con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi.
Ngựa lai Ngựa chọn lọc
Chỉ tiêu
(tháng tuổi)
n (con)
Nuôi sống
(con)
Tỷ lệ
(%)
n (con)
Nuôi sống
(con)
Tỷ lệ
(%)
Sơ sinh 256 256 100,0 75 75 100,0
3 213 209 98,1 62 62 100,0
6 147 141 95,9 32 31 96,8
12 116 109 93,9 21 20 95,3
Trên đàn ngựa lai tạo và chọn lọc sinh ra, chúng tôi đã theo dõi về tỷ lệ nuôi sống của
đàn ngựa con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, kết quả đợc thể hiện qua bảng 5:
Tỷ lệ nuôi sống ở giai đoạn sơ sinh đạt 100% ở cả ngựa lai và ngựa chọn lọc.
Nhng đến giai đoạn 3 tháng tuổi tỷ lệ nuôi sống của đàn ngựa lai là 98,1%, đến 6 tháng
tuổi đạt 95,9%, 12 tháng tuổi đạt 93,9%. Còn ở ngựa chọn lọc tỷ lệ này có cao hơn, ở giai
đoạn 3 tháng tuổi là 100%, giai đoạn 6 tháng tuổi đạt 96,8%, giai đoạn 12 tháng tuổi là
x
S.L
(kg)
Tỷ lệ
(%)
SS 133 21,90
a
0,10
41 18,91
b
0,45
2,99
15,81
6 78 83,63
a
0,43
17 79,65
b
1,00
14,18
6 69 82,30
a
0,74
15 78,47
c
1,27
3,83
4,88
Cái
12 51 120,55
a
1,07
10 110,40
b
1,78
10,15
chọn lọc
/ Ngựa
đại trà
SS 21,90
a
18,91
b
18,42
b
115,81
118,89
102,66
6 83,63
a
79,65
c
78,21
c
104,99
106,93
118,51
103,79
6 82,30
a
78,47
d
77,49
d
104,88
106,21
101,26
Cái
12 120,55
a
110,40
b
109,05
b
109,19
326,39
342,11
305,28
200,44
193,5
199
207,83
273,69
259,94
270,55
256,55
0
50
100
150
200
250
300
350
0 - 6 >6 - 12 0 - 12
Đực lai
Đực CL
Cái lai
Cái CL
gr/con/ngày
Giai
đoạn
tuổi
Biểu đồ 2: sinh trởng tuyệt đối của ngựa lai và ngựa chọn lọc
x8
SS 147
76,05
0,62
54,72
0,60
62,49
0,48
6 78 101,67
1,48
90,37
1,32
100,53
0,91
1,34
91,37
1,34
99,63
1,30
Ngựa
lai
Cái
12 51 107,50
2,14
100,62
1,75
108,35
1,81
SS 42 68,10
0,33
52,32
1,24
SS 37 67,58
0,34
51,80
0,19
56,64
0,17
6 15 89,83
0,90
71,73
0,46
94,28
0,67
Ngựa
chọn
lọc
bình quân trong 2 năm 14,9% (63,65%/48,7%), rút ngắn khoảng cách lứa đẻ 2,07
tháng (15,43/17,5 tháng) so với đàn ngựa không chọn lọc trong đại trà sản xuất.
3. Trong điều kiện chăn nuôi tại hộ gia đình nông dân huyện Bắc Hà, đàn ngựa
lai có khối lợng tăng hơn so với ngựa chọn lọc, khi sơ sinh tăng 15,81% ở ngựa đực,
14,18% ở ngựa cái; Đến 12 tháng tuổi ngựa đực tăng 7,67%, ngựa cái tăng 9,19%.
5.2. Đề nghị :
- Phối hợp với địa phơng theo dõi đánh giá tiếp khả năng sinh trởng, sinh sản
của con lai ở các giai đoạn tuổi.
- Nghiên cứu chế độ chăm sóc, nuôi dỡng, quản lý đối với ngựa lai trong hộ
gia đình nông dân huyện Bắc Hà.
Tài liệu tham khảo
1. Đặng Đình Hanh và CS (2003), Báo cáo kết quả thực hiện đề tài độc lập cấp nhà
nớc:
cứu chọn lọc và lai tạo giống ngựa địa phơng với giống ngựa
Cabardin phục vụ dân sinh và quốc phòng.
2. Lê Viết Ly (1999). Bảo tồn quỹ gen giống vật nuôi, Nhà xuất bản nông nghiệp
3. Minh Ngọc (2000), Con ngựa với dân miền núi, Chuyên san chăn nuôi gia súc ăn
cỏ, Hội chăn nuôi Việt Nam , 2000.
9
Số liệu thống kê, Phòng thống kê huyện Bắc Hà, 2005. Tóm tắt
Kết quả sử dụng ngựa đực lai 50% Cabacdin để phối giống với ngựa địa phơng
huyện Bắc Hà cho thấy: Khối lợng ngựa lai tăng hơn so với ngựa nội sinh ra sau chọn
lọc và ngựa đại trà: Sơ sinh ngựa đực tăng 15,81% và 18,89%, ngựa cái tăng 14,18% và