trao đổi thông tin và kinh nghiệm BVTV - Số 5/2007
Một số kết quả nghiên cứu sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật
giai đoạn 2001-2005
Nguyễn Văn Vấn
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Một trong những mục tiêu của ngành
BVTV là tăng cường sử dụng các chế
phẩm sinh học có thể thay thế thuốc hoá
học phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng.
Các chế phẩm sinh học BVTV khi được
sử dụng rộng rãi sẽ an toàn với người,
sinh vật có ích, môi trường và góp phần
tích cực vào chiến lược quản lý dịch hại
tổng hợp trong nền nông nghiệp sinh thái
bền vững ở Việt Nam.
Chúng ta đã thực hiện nhiều đề tài, dự
án trong nước và Hợp tác quốc tế gắn
liền với những thành tựu công nghệ sinh
học bao gồm: Đề tài cấp Nhà nước
KC.08-14 giai đoạn 1990-1995, đề tài
KHCN 02-07 giai đoạn 1996-2000. Dự
án hợp tác quốc tế “
Cải tiến công tác
BVTV ở Việt Nam
”
do tổ chức Bánh mỳ
thế giới – Cộng hoà liên bang Đức tài
trợ. Gần đây nhất (2001-2005), đề tài
- 02 quy trình công nghệ và 01 pilot
sản xuất chế phẩm
NPV, NPV-Bt,
trừ
sâu hại rau màu.
- 04 quy trình công nghệ và 02 pilot sản
xuất các chế phẩm
Bt (Bacillus
thuringiensis)
trừ sâu hại cây trồng.
- 04 quy trình công nghệ và 02 pilot
sản xuất các chế phẩm nấm côn trùng
Beauveria & Metarhizium
trừ sâu hại
cây trồng.
- Quy trình công nghệ và pilot sản
xuất chế phẩm nấm đối kháng
Trichoderma
trừ bệnh hại cây trồng.
- Quy trình công nghệ và pilot sản
xuất chế phẩm tuyến trùng có ích
Biostar
trừ sâu hại cây trồng.
- Quy trình công nghệ và pilot sản xuất
chế phẩm hoá sinh
Momosertatin
trừ sâu
hại rau.
Các chế phẩm được sản xuất đã tiến
Bt (Bacillus
thuringiensis, kurstaki)
trừ sâu hại rau là
sản phẩm của đề tài do Viện Công
nghiệp thực phẩm thực hiện. Tên thương
mại:
+
Firibiotox
– P 16.000 IU/mg bột
+
Firibiotox
–
C
3 tỷ bào tử/ml dịch
cô đặc.
Số đăng ký 02/03 SRN ngày
12/02/2003
- Hai chế phẩm nấm trừ côn trùng
Metarhizium anisopliae
và
Beauveria
bassiana
là sản phẩm của đề tài do Viện
Lúa đồng bằng sông Cửu Long thực hiện.
Tên thương mại:
+
Ometar-1,2x10
9
chế phẩm dạng sữa cung cấp cho các địa
phương.
5. Đã chuyển giao được 2 công nghệ
sản xuất chế phẩm
NPV
và
Trichoderma
cho các đơn vị có khả năng tiếp nhận
đang tiếp tục phát huy tác dụng
6. Xây dựng được 7 mô hình ứng
dụng các chế phẩm sinh học phòng trừ
sâu bệnh hại cây trồng trên diện tích 264
ha tại một số tỉnh được các địa phương
đánh giá cao.
7. Đào tạo tăng cường năng lực:
- Đào tạo được 3 nghiên cứu sinh, 5
cán bộ trên đại học, 30 sinh viên đại học
thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học Bảo
vệ thực vật.
- Tập huấn được 4.087 lượt người về
kỹ thuật sử dụng các chế phẩm sinh học
trong hệ thống tổng hợp phòng trừ sâu
bệnh hại cây trồng nhằm nâng cao nhận
thức cho nông dân và tuyên truyền phổ
biến mở rộng phạm vi ứng dụng.
- Đã cử 4 cán bộ kỹ thuật đi tập
huấn nâng cao trình độ chuyên môn
về công nghệ sản xuất chế phẩm Bt và
nấm côn trùng
Metarhizium và
bassiana,
1 giải thưởng hội
thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Cần Thơ năm
2003. đề tài nghiệm thu cấp Nhà nước
đạt loại xuất sắc, được Bộ khoa học và
công nghệ tặng Bằng khen (Quyết định
số 2799/QĐ-BKHCN, ngày 25/12/2006).
Một số hạn chế và giải pháp khắc
phục
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu
nhưng hoạt động nghiên cứu, sản xuất và
sử dụng chế phẩm sinh học bảo vệ thực
vật còn có những hạn chế như: Công nghệ
sản xuất ở một số chế phẩm còn đơn giản,
thủ công nên chi phí cao, dẫn tới giá thành
sản phẩm còn cao.
Để khắc phục những hạn chế trên, rất
cần sự áp dụng đồng bộ các giải pháp về
cơ chế, chính sách, về đào tạo đội ngũ
cán bộ khoa học và chuyên gia có năng
lực và kinh nghiệm. Đầu tư trang thiết bị
kết hợp với những giải pháp về vốn, hỗ
trợ giá thành sản phẩm và tuyên truyền
huấn luyện nâng cao nhận thức của nông
dân là lực lượng ứng dụng sản phẩm của
công nghệ, đây là yếu tố quyết định đến
đầu ra cho sự tồn tại và phát triển của
công nghệ
.