KẾT QUẢ NGHIÊN cứu, TUYỂN CHỌN bộ GIỐNG đậu RỒNG TRIỂN VỌNG từ NGÂN HÀNG GEN cây TRỒNG QUỐC GIA - Pdf 14

- 1 -

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, TUYỂN CHỌN BỘ GIỐNG ĐẬU RỒNG
TRIỂN VỌNG TỪ NGÂN HÀNG GEN CÂY TRỒNG QUỐC GIA
1
Lê Khả Tường,
1
Nguyễn Hữu Hải

I. MỞ ĐẦU
Đậu rồng (Psophocarpus tetragonolobus DC) thuộc họ đậu Febaceae, họ phụ
Papilionaceae có nguồn gốc ở Đông Nam Á và Papua New Guinea. Cây đậu rồng được trồng
tập trung ở các quốc gia nóng ẩm cận xích đạo như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thái Lan,
Philipine, Ấn Độ, Bangladesh, Myanma và Sri Lanka. Đậu rồng cũng được coi là cây “siêu
thị” bởi nó mang những đặc trưng về giá trị sử dụng của nhiều loại cây thực phẩm khác như
đậu Hà Lan, đậu đũa, rau bina, đậu tương, khoai tây. Quả non đậu rồng chứa nhiều khoáng
chất, vitamin và các axit amin thiết yếu, đây là bộ phận được sử dụng chủ yếu của cây đậu
rồng. Trong 100g quả non đậu rồng chứa: 90g nước; năng lượng 27 kcal; 2,6g protein; chất
béo 0.5g; carbon hydrat 4,9g; chất xơ 1,9g; Ca 64 mg; Mg 34 mg; P 37mg; Fe 0,8 mg;
VitaminA 332 IU; Thiamin 0,21mg; riboflavin 0,1 mg; Niacin 0,8 mg, ascorbic acid 15mg
(Rubatzky, V.E.& Yamaguchi, M, 1997. Đậu rồng có giá trị dinh dưỡng tương đối cao, được
xem là nguồn cung cấp protein chủ yếu cho người nghèo ở các nước Á – Phi. Hầu hết các bộ
phận của cây đều có thể sử dụng được: Lá, hoa, quả, hạt, củ. Vì vậy trên thế giới, ở một số
nước như: Papua New Guinea, Sri Lanka, Thái Lan, Ghana…người dân sử dụng quả non của
cây đậu rồng để ăn trực tiếp hoặc nấu chín. Mặc dù sử dụng quả non là chủ yếu nhưng theo
tiến sĩ Sahu hạt đậu rồng có hàm lượng chất béo và sodium thấp sử dụng làm nguyên liệu chế
biến bột cho người già và trẻ nhỏ là nguồn cung cấp protein, các vitamin và khoáng chất,
amino acid.
Ở nước ta đậu rồng, còn được gọi là đậu khế, thường được trồng chủ yếu ở các tỉnh ở
trung du miền núi và cao nguyên. Quả non và hạt có hàm lượng dinh dưỡng cao. Người dân
trồng đậu rồng quanh nhà hoặc trên nương rẫy vừa để lấy quả non và hạt vừa sử dụng, thân lá

2

-Phân bón (kg/ha): Phân chuồng 10.000; 60N + 90P
2
O
5
+ 60K
2
O
-Thời vụ: 15/6/2012.
-Tuyển chọn bộ giống triển vọng được thực hiện trên cơ sở đánh giá các đặc điểm
nông sinh học theo biểu mẫu của Viện Tài nguyên di truyền Quốc tế với 30 chỉ tiêu được mô
tả đánh giá.
-Xử lý số liệu trên chương trình Excel.
III.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Phân bố các giống theo vùng sinh thái
Bảng 1. Sự phân bố của các giống đậu rồng trong tập đoàn
TT
Vùng sinh thái
Địa phƣơng
Số mẫu giống
Tổng số (%)
1
Tây bắc
Điện Biên
3
3,8
Hoà Bình
1
1,3

1,3
4
Nam trung bộ
Bình Thuận
3
3,8
Ninh Thuận
3
3,8
5
Nam Bộ
An Giang
1
1,3
Bến Tre
1
1,3
Các mẫu giống đậu rồng trong tập đoàn được phân bố ở 5 vùng sinh thái: Tây bắc,
Đông bắc, Bắc trung bộ, Nam trung bộ và Nam bộ. Tại các vùng sinh thái này, cây đậu rồng
được trồng ở độ cao 200-1500m so với mực nước biển. Sự đa dạng của các giống đậu rồng tập
trung nhiều ở Lạng Sơn, Sơn La, Thanh Hoá và Lai Châu (Bảng 1)
2. Đánh giá đặc điểm hình thái nông sinh học
Cây đậu rồng là cây leo nhiệt đới có thể sống lâu năm nhưng thường được trồng như
cây hàng năm, phản ứng ánh sáng ngày ngắn, trong điều kiện thuân lợi cây có thể vươn cao 3-
4m. Lá cây đậu rồng thuộc loại lá kép, lá chét có hình tam giác. Hoa mọc thành cụm, từ nách
lá chét giáp với thân, mỗi cụm có từ 3-6 hoa màu tím hoặc trắng. Quả đậu rồng thuộc loại quả
giáp có bốn cánh, có chiều dài trung bình 20cm. Rễ phình to thành củ có đường kính 2-4 cm,
dài 8-12 cm, củ hình trụ. Kết quả mô tả đánh giá các chỉ tiêu định tính cho thấy (Bảng 2):

Bảng 2. Tính trạng định tính của các giống trong tập đoàn

Nhỏ
7
8,75
4404, 9314, 9321, T2611
Trung
bình
70
87,5
4472, 6527, 9311, TT12
Lớn
3
3,75
9326, 9356, T2470
3
Dạng lá
Ô van
2
2,5
9856,12949
Tam giác
78
97,5
4404, 6527, 8009, 9310, TT11
Ôvan mác
0
0

Mác
0
0

Tím ánh
xanh
0
0

Tím
0
0

Khác
0
0

6
Màu cánh
hoa
Trắng
3
3,75
9320, 9326, TT5
Tím
77
96,25
4472, 9317, T2469, TT4
Khác
0
0

7
Màu quả

9
Màu cánh
quả
Xanh
80
100
4404, 6847, 9312, 12333, T1786
Tím
0
0

Khác
0
0

10
Cấu trúc bề
mặt quả
Nhẵn
57
71,25
6527, 9315, 9317, T1786, T5200,
TT10
Trung
bình
23
28,75
4404, 6847, 9312, T2067,TT14,TT15
Xù xì
0


Thấp
80
100
4404, 6527, 9315, 12948, T2742,
TT7
Trung
bình
0
0

Cao
0
0

13
Màu hạt
Kem
9
11,25
9320, 9321, T9302, T4679
Nâu vàng
35
43,75
4404, 6847, 9323, T5199, TT1, TT2
Nâu
27
33,75
8008, 9318, 9319, T5599, TT3
Đen

100
4404, 6847, 9313, T2470
Khác
0
0

16
Hình dạng
hạt
Tròn
1
1,25
9318
Ô van
75
93,75
6847, 9317, 9858, 12947, T3902,
TT4
Khác
(dài)
4
6,25
12333, T2067, T2469, T2742
17
Bề mặt hạt
Trơn
80
100
4527,8008,9314, T5200, TT1, TT2
Nhăn

đậm hơn.
- 5 -
- Màu sắc hoa: Các mẫu giống đều có màu đài hoa là màu xanh. Màu cánh hoa có 2 màu:
Tím và trắng. Trong đó 77 mẫu giống có hoa màu tím chiếm 96,25%, chỉ có 3 mẫu giống có
hoa màu trắng.
- Đặc điểm bên ngoài quả cũng góp phần trong việc đánh giá chất lượng quả thương phẩm.
Các mẫu giống trong thí nghiệm đều có màu quả, cánh quả màu xanh ( xanh nhạt) và quả
không có vết đốm (do đặc trưng giống, sâu bệnh). Có 57 mẫu giống có cấu trúc bề mặt quả
nhẵn còn lại là trung bình không có mẫu giống nào có bề mặt xù xì.
- Dạng quả: Các mẫu giống trong tập đoàn có 38 mẫu giống có dạng hinh vuông, 31 mẫu
giống có dạng nửa dẹt, 11 mẫu giống có dạng det ở cạnh.
- Cây đậu rồng có tỷ lệ rụng quả thấp, độ rụng quả của cây tập trung vào thời điểm khi quả
được hình thành từ 4-5 ngày sau ra hoa. Độ rụng quả thấp là một lợi thế đối với cây trồng này,
số quả trên cây sẽ ổn định góp phần vào ổn định năng suất.
- Màu hạt: Phần lớn các mẫu giống trong thí nghiệm tập đoàn có màu nâu vàng: 35 mẫu
giống chiếm 43,75%, tiếp đó là màu nâu với 27 mẫu giống chiếm 33,75, các màu còn lại là:
kem với 9 mẫu giống, nâu đen với 3 mẫu giống, xám 6 mẫu giống.
- Hình dạng hạt: Các mẫu giống chủ yếu có dạng ôvan ( 75 mẫu giống, 93,75%), còn lai có
1 mẫu giống dạng tròn, 4 mẫu giống dạng tròn dài.
- Đốm trên hạt, màu rốn hạt, bề mặt hạt đều không có sự biến động. Hạt của các mẫu giống
đều nhẵn, không có đốm và màu rốn màu đen.
- Phản ứng ánh sáng: Đây là cây trồng có phản ứng mạnh với ánh sáng ngày ngắn nên thời
gian trong điều kiện tự nhiên khá dài( từ 8-9 tháng). Vì vâỵ thời vụ gieo trồng có ý nghĩa
quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm theo mục đích sử dụng.
Như vậy, các đặc điểm về sinh trưởng, thân cây, lá, màu sắc hoa, màu quả, độ rụng quả,
đốm hạt, màu rốn, hình dạng hạt, bề mặt hạt không biến động hoặc biến động rất ít. Chỉ có
dạng lát cắt của quả, màu hạt có biến động nhiều.
3. Năng suất và các yếu tố của năng suất của các giống trong tập đoàn
Các tính trạng định lượng cũng có biến động khá cao, đặc biệt là tính trạng số quả/cây.
Kích thước quả cũng biểu hiện biến động tương đối cao (CV% =10,4), giống có quả dài nhất

đăng ký)
Lớn
nhất
Nhỏ
nhất
Trung
bình
1
Số quả non/cây
34,2
11,7
16,4
29,9
9311, 9317
2
Khối lượng quả non (g)
11,1
3,6
6,6
19,83
9320
3
Số quả chín/cây
32,5
9,6
14,3
34,6
9311, 9317
4
Chiều dài quả (cm)

2885,3
5448,1
35,8
9311
9
Năng suất thực thu quả non (
tấn/ha)
9,07
0,87
3,8
42,73
9317
10
Năng suất thực thu hạt ( tạ/ha)
25,2
5,26
10,7
39,3
9311, 9324

4. Kết quả tuyển chọn bộ giống triển vọng
Trong khuôn khổ đề tài, cây đậu rồng khai thác sử dụng quả non làm rau vì vậy các
giống có năng suất quả non khá có khả năng phục vụ sản xuất là mục tiêu chọn lọc giống. Năng
suất cá thể phụ thuộc vào số quả trên cây và khối lượng quả vì vậy hệ số biến dộng khá cao
(CV%= 38,4). Giống SĐK 9317 có năng suất cá thể cao nhất 277,9g và giống ĐKT T2067có
năng suất cá thể thấp nhất 45,6g, năng suất cá thể trung bình trong tập đoàn 108g.Năng suất thực
thu: là năng suất thực tế trên ô thí nghiệm. Năng suất thực thu có hệ số biến động lớn
(CV%=42,73). Giống SĐK 9317 có năng suất thực thu lớn nhất 9,07 tấn/ha, năng suất thấp nhất
là 0,87tấn/ha được xác định là giống ĐKT T2067 . Năng suất thực thu trung bình là 3,8 tấn/ha
Đối với hạt, năng suất cá thể phụ thuộc vào số hạt trên cây và khối lượng 100 hạt. Năng

Năng suất thực
thu
(tấn/ha)
1
T0216
8008
204,06
12,24
7,24
2

9311
206,31
12,38
7,82
3

9315
168,35
10,10
6,02
4

9317
277,85
16,67
9,07
5

9318

172,83
10,37
5,64
Tham sô
thống kê
tập đoàn
Min
277,85
16,67
9,07
Max
45,60
2,74
0,87
Trung bình
108,89
6,53
3,80

IV. KẾT LUẬN
1.Tập đoàn đậu rồng 80 giống hiện có tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia là những
giống có nguồn gốc nhập nội, địa phương, bản địa, có sự đa dạng cao về hình thái, sinh
trưởng, phát triển, chống chịu.
2.Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá tập đoàn đã tuyển chọn được 10 giống đậu rồng
triển vọng, thích ứng với điều kiện vùng Trung du, miền núi, là cơ sở vật chất quan trọng cho
công tác tuyển chọn giống phục vụ sản xuất.
3.Cần tiến hành khảo nghiệm rộng bộ giống đậu rồng triển vọng để chọn ra các giống
tốt đưa vào sản xuất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status