VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠO VẬT LIỆU KHỞI ĐẦU CHO CÔNG TÁC
CHỌN TẠO GIỐNG CHÈ BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỘT BIẾN
TS. Nguyễn Văn Toàn, TS. Nguyễn Thị Minh Phương,
ThS. Phùng Lệ Quyên, KS. Chử Ngọc Oánh
Viện KHKT Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
SUMMARY
The research results on creating starting materials for the tea breeding by
mutation methods
When treated with physics agents on germinated tea seeds, ungerminated seeds, and cutting stems,
the higher dose of treatment was, the less servive rate, plants height, number of leaf, and stem diameter
both in the nursery and the field were. Treated cutting stems were impacted larger than treated seeds.
When increasing treated dosage the mutation frequency is increased. When applying chemical treatment
on seeds and cutting stems, there was little effect on survival rate and growth of tea plants as well as
the morphological changes. The effect of different levels of treatment does was not significant.
From the source materials, 100 individuals were created under mutagens and sexual hybrids
selected with mutations (including physics agent treated seeds:50 individuals were selected; 30
individuals of high quality tea varieties were selected by the hybrid isolated mutant clones each; 20
individuals were selected from the isolated mutant clones with free pollination. Since then 12 most
outstanding individuals were chosen with precious characteristics such as good quality green tea
individuals: ĐBK2, ĐBK1, ĐBTtd205, ĐBTtd208; good quality black tea individuals: ĐBP17, ĐBTL219,
ĐBPL278, ĐBTtd405; and high yield individuals: ĐBK2, ĐBTL252, ĐBT5, ĐBK1.
Keywords: Material, tea, mutation, breeding.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Đến nay Việt Nam có diện tích trên 130
nghìn ha chè. Năng suất chè bình quân 7,3 tấn
búp/ha tương đương năng suất bình quân chè thế
giới. Giá bình quân khoảng 1.378 USD/tấn, chỉ
nguồn biến dị rất phong phú.
Do vậy, chúng tôi đã tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu tạo nguồn vật liệu khởi đầu cho
công tác chọn tạo giống chè bằng phương pháp
đột biến” để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
- Hạt và hom của 4 giống chè: Kim Tuyên,
Phúc Vân Tiên, Shan Chất Tiền, Trung Du.
- Các cá thể được tạo ra từ tác nhân gây đột
biến và bằng phương pháp lai hữu tính.
- Các dòng chè được chọn tạo ra bằng
phương pháp gây đột biến từ giai đoạn trước
606
Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất
gồm
các dòng: TRI777-0.8,
TRI777-2.0,
TRI777-4.0, TRI777-5.0, TRI777-3.5.2 TRI777-
3.5.1, PH1-1.0, PH1-2.0, PH1-5.0, PH1-5.1,
PH1-5.2, PH1 (Đ/C), TRI777 (Đ/C).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập mẫu
- Đối với mẫu hạt: Thu quả vào tháng 10 -
11, chọn hạt tốt theo phương pháp trọng lượng
(thả vào nước, lấy hạt chìm, bỏ hạt nổi). Tạo hạt
đang nảy mầm bằng cách ủ trong cát ẩm dày
20cm, độ ẩm cát 70 - 75%.
- Đối với mẫu hom giống: Thu mẫu vào
cách ly từng hoa riêng biệt.
- Phương pháp chọn lọc dựa trên cơ sở đánh
giá các chỉ tiêu hình thái, sinh trưởng và phát
triển của cây
chè con.
- Các thí nghiệm về so sánh và khảo
nghiệm giống được bố trí theo khối ngẫu nhiên
đầy đủ (RCB).
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Thu thập và xử lý số liệu theo phương
pháp thống kê sinh học thông dụng và phân
tích phương sai trên phần mềm Excel và
IRRISTAT 5.0.
- Đánh giá sự đa dạng di truyền xử lý theo
phần mềm NTSYSpc 2.1
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng tác nhân vật lý đến sinh
trưởng của
cây chè con khi xử lý trên hạt và
hom chè
3.1.1. Trên hạt nảy mầm
Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng của cây
chè con sau khi trồng 3 tuổi (bảng 1) cho thấy: Ở
các CT1, CT2 và CT3I tác nhân vật lý có tác
động kích thích sự sinh trưởng chiều rộng tán, từ
CT4 đến CT5 khi liều lượng tăng thì có chiều
rộng tán lại nhỏ đi.
Bảng 1. Ảnh hưởng của tác nhân vật lý đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và tần số đột biến
của các giống chè xử lý trên hạt nảy mầm (3 tuổi)
Phúc Vân Tiên Kim Tuyên Trung Du Shan
(cm)
Tần số
đột biến
(%)
CT1 92,5 80,5 10 81,9 85,6 12 85,7 67,5 10 85,2 83,7 20
CT2 91,5 81,6 12 83,2 87,0 12 87,1 68,3 6 87,1 84,5 20
CT3 90,7 82,3 10 78,7 83,5 18 86,5 65,5 6 82,1 85,8 22
CT4 90,5 79,5 10 79,2 81,5 20 81,0 58,3 8 84,5 80,4 22
CT5 85,3 73,2 12 75,5 80,6 14 82,5 55,7 12 78,2 76,8 22
CT6 83,7 72,1 18 71,3 78,5 16 81,6 57,0 20 78,6 77,5 18
CT7 82,3 70,5 58 70,6 75,0 32 82,0 53,5 24 78,0 78,1 26
Đ/C 88,5 74,9 10 75,8 80,1 18 83,0 58,1 6 81,3 77,5 12
Trung bình 88,13 76,83 13,7 77,03 81,48 8,2 83,68 60,49 10,8 81,88 80,54 10,9
CV (%) 9,4 8,3 4,3 8,5 9,5 2,6 7,4 8,5 2,2 8,3 7,5 3,8
LSD
.05
2,3 3,3 10 2,5 3,3 12 3,1 3,5 10 3,7 3,4 20
Ghi chú: CT1 - 0,5Kr; CT2 - 1,0Kr; CT3 - 1,5Kr; CT4 - 2,0Kr; CT5 - 2,5Kr; CT6 - 3,0Kr; CT7 - 3,5Kr, CT Đ/C- Không
xử lý.
607
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Điều đó cũng khẳng định
rằng khi chiếu xạ
với liều lượng nhỏ 0,5 - 2,0Kr thì có tác động
kích thích sự sinh trưởng chiều rộng tán, khi tăng
liều lượng lên thì có tác động ngược lại. Như vậy
muốn tạo cho cây chè sinh trưởng khoẻ chỉ nên
xử lý tiagma ở liều lượng nhỏ hơn 2,0Kr sẽ tác
động tích cực đến sự sinh trưởng của cây như:
Chiều cao, chiều rộng cũng n
biến%
Cao
cây
(cm)
Rộng
tán
(cm)
Tần
số đột
biến%
Cao
cây
(cm)
Rộng
tán
(cm)
Tần số
đột
biến
(%)
Cao cây
(cm)
Rộng
tán
(cm)
Tần số
đột
biến
(%)
CT1 90,5 a 73,5 ab 14 79,9 a 72,6 ab 12 84,5 ab 62,5 ab 14 84,6 ab 82,7 ab 10
cây càng giảm.
Theo dõi
sự biến đổi hình thái khi xử lý tác
nhân vật lý trên hạt chúng tôi có một số nhận xét,
Trên tất cả các giống đều có những biến đổi sau:
- Biến đổi về hình thái lá: Lá trứng, hình
elip, thuôn dài, hình không xác định, chóp lá chia
đôi, răng cưa sắc, lá mọc đối, biến dạng mép lá
ăn sâu vào gân chính, chóp lá hình trái tim nhưng
sự biến đổi chủ yếu xảy ra ở các lá gần gốc.
- Màu sắc: Khảm lá màu xanh vàng ở mép
lá, búp tím, tím hồng, có cây bạch tạng cả cây
, có
cây tím cả cây.
- Có hiện tượng đa phôi ở hầu hết các công
thức thí nghiệm.
- Khi trồng ra đồi chúng tôi quan sát thấy có
hiện tượng màu sắc hoa biến đổi; từ màu trắng sữa
sang màu phớt hồng khi xử lý vật lý trên hạt giống
Phúc Vân Tiên chưa nẩy mầm ở liều xạ 1,5Kr.
3.1.3. Trên hom chè
Trong giai đoạn vườn ươm xử lý tác nhân
vật lý trên hom chè ảnh hưởng nhiều đến khả
năng sinh trưởng của
các giống. Khi xử lý ở
liều lượng càng cao thì chiều cao cây, số lá,
đường kính thân càng giảm. Trên tất cả các
giống khi xử lý với liều lượng trên 3Kr ảnh
hưởng nhiều đến tỷ lệ sống, khả năng sinh
trưởng của các giống.
(cm)
ĐK gốc
(cm)
Tỷ lệ
sống
CT1 70,2 0,71 83,3 46,8 0,63 90,2 40,8 0,63 80,6 48,4 0,65 70,8
CT2 63,4 0,72 73,3 42,8 0,63 61,1 38,6 0,53 72,1 42,0 0,49 60,0
CT3 67,0 0,66 66,7 43,0 0,60 60,0 32,3 0,62 63,2 39,0 0,66 45,8
CT4 60,4 0,57 46,7 35,2 0,51 45,7 28,7 0,40 45,7 38,0 0,54 44,4
CT5 59,5 0,52 33,3 25,6 0,42 28,7 23,8 0,35 20,3 33,7 0,45 37,6
Đ/C 65,1 0,61 90,5 50,5 0,60 85,6 65,7 0,71 85,7 50,5 0,65 78,2
CV (%) 8,3 10,7 8,6 11,1 11,5 10,6 11,6
LSD
.05
3,2 4,1 3,6 5,9 3,1 5,1 4,5
Ghi chú: CT1 - 1,0Kr; CT2 - 1,5Kr; CT3 - 2,0Kr; CT4 - 2,5Kr; CT5 - 3,0Kr; CT6 - 3,5Kr; CT7 - 4,0Kr;
CT8 - 4,5Kr; Ct9 - 5,0Kr, CT Đ/C: Không xử lý.
Đánh giá sinh trưởng của các cá thể sau
trồng 12 tháng cho thấy:
Trong các giống xử lý thì giống Phúc Vân
Tiên các cá thể sinh trưởng khoẻ nhất, chiều
cao cây trên cả 5 công thức đều sinh trưởng
khoẻ đạt cao nhất ở CT1, các CT còn lại tương
đương đối chứng, dao động từ 59,5 - 70,2cm.
Các giống Trung Du, Kim Tuyên và Shan sinh
trưởng tương đương nhau dao động từ 25,6 -
48,4cm nhưng các công thức xử lý đều sinh
trưởng kém hơn so với đối chứng, trong đó các
công thức từ CT1
- CT3 sinh trưởng khoẻ hơn
(cm)
Tỷ lệ
sống
Cao
cây
(cm)
ĐK
gốc
(cm)
Tỷ
lệ sống
CT1 63,2 0,86 76,08 72,0 0,96 62,50 57,4 0,85 100,0 48,6 0,68 27,91
CT2 56,4 0,77 79,76 64,6 0,88 49,02 53,0 0,75 100,0 55,2 0,63 27,21
CT3 72,2 0,82 73,33 62,0 0,73 61,62 83,0 0,92 89,47 46,0 0,58 10,32
CT4 65,8 0,86 54,90 58,4 0,71 55,56 80,6 0,91 82,46 50,0 0,85 54,55
CT5 60,2 0,79 63,44 63,6 0,79 54,70 76,0 0,88 78,43 48,2 0,58 74,64
CT6 67,2 0,90 78,57 59,4 0,85 53,70 49,8 0,84 54,39 51,0 0,73 70,63
CT7 69,6 0,86 75,86 62,8 0,82 55,26 68,0 0,88 65,15 52,0 0,77 47,29
CT8 61,6 0,85 67,78 69,6 0,76 57,50 61,0 0,58 54,55 66,4 0,88 78,52
CT9 - - - 58,7 0,75 58,73 - - - 45,2 0,61 33,33
CT10 60,3 0,82 58,25 61,3 0,77 55,44 - - - 47,0 1,04 100
Đ/C 73,8 1,07 86,11 60,6 0,81 66,67 51,4 0,69 85,18 58,6 0,75 57,58
CV (%) 8,5 10,6 10,5 7,6 8,5 9,1 9,3 8,6 9,7 9,6 8,5 10,1
LSD
.05
3,0 0,13 4,0 2,6 0,10 5,1 2,2 0,12 3,8 2,6 0,15 3,9
Ghi chú: CT1 - 5 phần vạn; CT2 - 50 phần vạn; CT3 - 100 phần vạn; CT4 - 150 phần vạn; CT5 - 200
phần vạn; CT6 - 250 phần vạn; CT7 - 300 phần vạn; CT8 - 350 phần vạn; CT9 - 400 phần vạn; CT10 -
450 phần vạn; CT Đ/C - Không xử lý.
609
ĐK
gốc
(cm)
Tỷ lệ
sống
Cao
cây
(cm)
ĐK gốc
(cm)
Tỷ lệ
sống
Cao
cây
(cm)
ĐK
gốc
(cm)
Tỷ lệ
sống
Cao
cây
(cm)
ĐK gốc
(cm)
Tỷ lệ
sống
CT1 67,0 0,90 64,71 81,6 0,82 55,88 76,2 0,94 77,08 69,2 0,96 92,38
CT2 75,6 0,67 73,96 70,4 0,85 64,52 69,0 0,90 70,83 73,4 0,94 81,58
CT3 58,4 0,67 70,37 71,2 0,97 82,29 80,4 0,89 82,22 64,2 0,74 72,97
giống Phúc Vân Tiên. Trong từng giống các chỉ tiêu
sinh trưởng không tuân theo quy luật nhất định.
Theo dõi sự biến đổi hình thái trên tất cả các
giống khi xử lý hóa học đều có một số nhận xét:
- Biến đổi về hình thái lá: Dưới tác nhân hóa
học các
cá thể sau khi trồng đều có biến đổi hình
thái lá thành hình dạng không xác định, có một
số cá thể không có răng cưa, lá mọc đối, biến
dạng mép lá ăn sâu vào gân chính, có hiện tượng
cây phân cành sớm, cây chung gốc, nhưng sự
biến đổi chủ yếu xảy ra ở các lá gần gốc.
- Màu sắc: Có hiện tượng khảm lá, mép lá có
màu xanh vàng xen kẽ, hoặc khảm cả lá, có hiện
bạch tạng lá gần gân chính, búp tím, phớt tím.
- Trên tất cả các giống đều có hiện tượng đa
phôi ở hầu hết các công thức xử lý trên hạt nảy
mầm
, còn trên hạt chưa nảy mầm hiện tượng này
chỉ có ở CT1 - CT3.
Từ các kết quả trên đi đến nhận xét: Khi xử
lý tác nhân hóa học lên hạt chè chưa nảy mầm
không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, sự sinh trưởng
của các cá thể, nhưng có ảnh hưởng đến hìn
h
dạng lá, hình dạng cây và màu sắc lá, búp.
610
Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất
3.2.3
. Trên hom
(cm)
ĐK
gốc
(cm)
Tỷ lệ
sống
I 82,0 0,76 89,06 53,8 0,60 77,78 33,0 0,52 41,18 44,0 0,70 43,48
II 77,6 0,76 88,89 47,8 0,56 64,81 34,4 0,58 41,67 47,8 0,60 45,00
III 76,0 0,81 81,48 47,4 0,59 71,93 36,8 0,57 30,30 51,8 0,62 25,00
IV 74,0 0,84 86,67 45,8 0,57 87,50 33,6 0,43 36,11 47,0 0,61 39,58
V 77,4 0,68 76,47 51,4 0,79 82,05 41,2 0,50 38,89 35,6 0,50 47,92
VI 76,6 0,61 70,08 46,6 0,70 66,67 40,8 0,52 36,11 36,0 0,53 72,55
VII 74,2 0,67 79,63 49,8 0,67 82,35 37,4 0,63 36,36 48,4 0,57 71,21
VIII 77,8 0,71 88,89 45,8 0,65 64,58 38,4 0,59 72,50 49,0 0,59 68,42
IX 74,6 0,76 77,78 45,2 0,62 72,92 37,0 0,60 55,26 50,0 0,57 79,17
X 74,4 0,62 78,33 41,4 0,67 86,67 36,4 0,60 44,44 42,8 0,60 69,33
XI 71,4 0,59 68,25 45,6 0,56 86,67 45,8 0,65 58,33 50,2 0,55 58,89
Đ/C 73,5 0,65 95,00 45,6 0,61 93,5 50,7 0,55 92,3 46,5 0,61 82,51
CV (%) 9,5 11,5 9,5 8,6 10,5 12,1 11,3 10,6 6,7 6,6 7,9 10,1
LSD
.05
3,0 0,13 4,2 2,8 0,14 5,3 3,2 0,11 3,1 2,3 0,13 3,9
Ghi chú: I - 5 phần vạn; II - 50 phần vạn; III - 100 phần vạn; IV - 150 phần vạn; V - 200 phần vạn; VI - 250
phần vạn, VII - 300 phần vạn, VIII - 350 phần vạn, IX - 400 phần vạn, X - 450 phần vạn, XI - 500 phần vạn,
CTĐ/C không xử lý.
Khi xử lý tác nhân hóa học trên hom chè cho
thấy các cá thể sau khi xử lý đều sinh trưởng
khoẻ trong giai đoạn vườn ươm: Đối với giống
chè Shan ở các công thức xử lý liều lượng thấp từ
CT1 - CT5 có chiều cao cây và số lá tương
chất lượng chúng tôi đã chọn ra được 50 cá thể
có nhiều đặc điểm quí trong đó gồm 19 cá thể
được chọn lọc xử lý trên giống Phúc Vân Tiên,
10 cá thể chọn lọc xử lý trên giống Trung Du,
13 cá thể chọn lọc xử lý trên giống Kim Tuyên
và 8 cá thể trên giống chè Shan.
Đánh giá sơ bộ sản lượng của các cá thể
chọn lọc cho
thấy:
- Về số lượng búp trên cây có dòng ĐBT5,
ĐBP18 có số búp trên cây lớn nhất (đạt trên 400
búp/cây), sau đó đến các dòng ĐBK2, ĐBP12,
ĐBP8, ĐBS4 đạt trên 300 búp/cây.
611
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- Về sản lượng cho thấy
, dòng ĐBK2,
ĐBP12 có sản lượng búp cao nhất đạt trên 200
g/cây, sau đó đến các dòng ĐBP5, ĐBP17,
ĐBP18, ĐBT5, ĐBK1, ĐBT2 có sản lượng trên
150 g/cây.
Đánh giá chất lượng chè xanh thông qua thử
nếm cảm quan cho thấy: Điểm thử nếm cảm quan
đều đạt loại khá trên 16,3 điểm tương đương
hoặc cao hơn đối chứng, trong đó điển hình là
các cá thể ĐBK2, ĐBK1,
ĐBT5, ĐBP17, ĐBS2
có số điểm cao nhất đạt trên 17 điểm.
Căn cứ các chỉ tiêu sinh trưởng, sản lượng và
chất lượng chọn được 4 cá thể có triển vọng đã
2 ĐBTtd208 147 176,3 159,5 - 17,3 16,58
3 ĐBTtd401 167 192,5 174,2 - 17,2 16,24
4 ĐBTtd405 165 206,4 186,8 - 16,9 15,52
5 ĐBTtd409 166 215,2 194,8 - 17,2 17,85
6 ĐBT402 175 224,6 203,3 - 17,0 15,48
7 ĐBTtd506 178 239,7 216,9 - 16,9 16,18
8 ĐBTtd509 175 237,9 215,3 - 16,7 15,56
9 ĐBTtd501 170 245,1 221,8 - 16,7 15,94
10 ĐBTtd3513 171 178,7 161,7 - 16,6 15,38
11 ĐBTtd3516 155 185,5 167,9 - 16,6 15,42
12 ĐBTtd3519 148 170,5 154,3 - 16,4 16,06
13 ĐBPtd503 112 145,7 - 111,6 16,4 15,88
14 ĐBPtd204 137 178,3 - 136,6 16,4 15,56
15 ĐBPtd106 141 154,9 - 118,7 16,3 16,0
16 ĐBPtd157 132 146,5 112,3 16,6 16,12
17 ĐBPtd213 127 148,7 113,9 16,5 15,4
18 ĐBPtd307 115 150,6 115,4 16,7 15,92
19 ĐBPtd3502 126 145,2 111,3 16,4 16,37
20 ĐBPtd208 137 147,7 113,2 16,3 15,18
PH1 (Đ/C) 110 130,5 100 15,5 16,64
TRI777 (Đ/C) 85 110,5 100 16,1 16,38
Qua bảng 7 cho thấy: Cá thể ĐBTtd506 có
số búp trên cây đạt cao nhất (178 búp), sau đó
đến các cá thể ĐBTtd402, ĐBT509, ĐBTtd205
đạt trên 170 búp/cây và thấp nhất là TRI777 Đ/C
chỉ đạt 85 búp/cây.
Năng suất ở cá thể ĐBTtd501 cao nhất đạt
245,1 g/cây tiếp đến là các cá thể ĐBTtd506,
ĐBTtd509, ĐBTtd402 dao động từ 224,6 - 239,7
hể để
phát triển thành dòng gồm các cá thể ĐBTtd205,
ĐBTtd208, ĐBTtd401, ĐBTtd405 có năng suất
cao hơn đối chứng PH1 từ 35,1 - 58,2%, cao hơn
đối chứng TRI777 từ 59,5 - 86,8%.
3.4.2. Tuyển chọn các dạng đột biến từ lai
hữu tính
Từ quần thể các cá thể thu được từ phương
pháp lai hữu tính đã chọn ra được 30 cá thể ưu tú
trong đó: Từ các cặp lai giữa các dòng chè phân
lâp với các giống chè chất lượng cao đã chọn
được 11 cá thể và từ lai hữu tính giữa các dòng
chè phân lập với nhau đã chọn được 19 cá thể.
Bảng 8. Khả năng sinh trưởng, năng suất của các cá thể thu được từ các tổ hợp lai giữa các dòng đột
biến ph
ân lập với nhau và với các dòng chè chất lượng cao (tuổi 2 năm 2012)
Năng suất cá thể
TT Tên cá thể
Cao
cây
(cm)
Rộng tán
(cm)
ĐKG
(cm)
Tổng số
búp/cây
Trung bình
(g/cây)
So với PH1
26 ĐBPL225 69,2 48,2 2,15 137 134,5 103,07 -
27 ĐBPL245 71,3 47,6 1,90 142 156,8 120,15 -
28 ĐBPL320 70,0 45,9 1,90 143 162,7 124,67 -
29 ĐBPL345 69,2 47,8 2,20 135 142,9 109,50 -
30 ĐBPL422 70,3 48,6 2,20 130 129,5 99,23 -
31 PH1 (Đ/C) 62,5 48,3 2,00 155 130,5 -
32 TRI777 (Đ/C) 68,7 50,3 1,93 95 110,8 -
613
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Hiện nay
các cá thể mới được 2 tuổi, bước
đầu theo dõi năng suất cá thể cho thấy: Cá thể
ĐBTL252 năng suất cá thể cao nhất đạt 240,1 g/cây
cao hơn 116,7% so TRI777 Đ/C. Sau đó đến cá
thể ĐBTL224 đạt 234,7 g/cây tăng 111,82% so
với TRI777Đ/C. Các cá thể chọn lọc trên các cặp
lai giữa các dòng phân lập được chọn trên
TRI777 lai với các giống chè chất lượng cao cơ
bản có năng suất cá thể cao hơn các cá thể được
chọn lọc trên các dòng đột b
iến được phân lập từ
PH1. Trong các cá thể được tạo ra từ các dòng
đột biến trên PH1 lai với các giống chất lượng
cao và các dòng chè phân lập có cá thể ĐBPL263
có năng suất cao nhất đạt 185,5 g/cây tăng
42,14% so với PH1 đối chứng, sau đó đến cá thể
ĐBPL262 và ĐBPL278 đạt 180,5 - 179,9 g/cây
tăng 37,85 - 38,31% so với đối chứng.
Như vậy cho thấy tất cả các cá thể chọn lọc
đều sinh trưởng kh
do chọn được 20 cá thể). Từ đó đã chọn được 12
cá thể ưu tú nhất đã tiến hành nuôi hom để nhân
giống khảo nghiệm so sánh giống. Các cá thể
chọn lọc có các đặc điểm quý được thể hiện tại
các bảng sau:
Bảng 9.
Một số đặc điểm quý của các cá thể chè chọn lọc từ các quần thể đột biến (tuổi 2)
Năng suất Chất lượng
TT Tên dòng
Năng suất
( g/cây)
So
PH1Đ/C
(%)
So TRI777
Đ/C (%)
HL.
tanin%
HL.
axit
amin%
HL.chất
thơm
Điểm thử
nếm chè
xanh
Điểm thử
nếm chè
đen
1 ĐBK2 210,50 232,61 - 28,32 2,56 52,53 17,5 16,3
lượng axit amin cao trên 2,5%. Hàm lượng tanin
nhỏ và hàm lượng axit amin cao, hàm lượng chất
thơm lớn thể hiện các cá thể chọn lọc đều có
thành phần nội chất rất tốt, phù hợp với chế biến
sản phẩm
chè xanh và chè ôlong, vì vậy trong
thời gian tới chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và
tuyển chọn để mở rộng các cá thể có triển vọng
vào sản xuất.
Đánh giá chất lượng chè xanh cho thấy: Các
cá thể chế biến chè xanh đều có chất lượng khá,
có điểm thử nếm dao động từ 16,1 - 17,5 điểm,
tất cả các cá thể đều có điểm thử nếm cao hơn so
với đối chứng
PH1 và TRI777.
Đánh giá chất lượng chè đen cho thấy: Các
cá thể đều có chất lượng chè đen đạt loại khá,
trong đó điển hình là các cá thể ĐBP17,
ĐBTL219, ĐBPL278, ĐBTtd405 có chất lượng
chè đen rất khá, có hương thơm mát, ngọt đặc
trưng chè đen, vị chát dịu có hậu, màu nước đỏ
nâu viền vàng.
Qua đánh giá năng suất, chất lượng của các
cá thể chọn lọc cho thấy: Các
cá thể có chất
lượng chè xanh tốt đó là: ĐBK2, ĐBK1,
ĐBTtd205; ĐBTtd208; các cá thể có chất lượng
chè đen tốt: ĐBP17, ĐBTL219, ĐBPL278,
ĐBTtd405; các cá thể có năng suất cao điển hình
là ĐBK2, ĐBTL252, ĐBT5, ĐBK1.
- Dưới các tác nhân vật lý, hóa học trên hạt
chè và trên hom chè qua đánh giá về hình thái,
sinh trưởng, năng suất, chất lượng đã chọn ra
được 50 cá thể có nhiều đặc điểm quí, từ đó đã
chọn được 4 cá thể có triển vọng để nhân giống
phục vụ cho khảo nghiệm so sánh giống, đó là
các cá thể: ĐBK2, ĐBT5, ĐBK1, ĐBP17 có
năng suất cao hơn đối chứng 86,5 - 132,6%.
Điểm thử nếm trên 16,8 điểm.
- Đã thu được 1.785 cá thể từ giao phấn tự
do trên các dòng chè đột biến đã phân lập. Từ đó
đã chọn được 20 cá thể có đặc điểm quý về năng
suất tăng 11,3 - 121,8% so với đối chứng, điểm
thử nếm đạt trên 16,3 điểm và đều cao
hơn so với
đối chứng. Từ đó đã chọn được 4 cá thể
ĐBTtd205, ĐBTtd208, ĐBTtd401, ĐBTtd405 có
năng suất cao hơn đối chứng 59,5 - 86,8% điểm
thử nếm trên 17 điểm.
- Khi lai giữa các dòng đột biến đã phân lập
với các dòng chất lượng cao và giữa các dòng chè
phân lập với nhau đã chọn được 30 cá thể lai có
đặc điểm
quý về năng suất và chất lượng. Đã
chọn được 4 cá thể ưu tú nhất là ĐBTL219,
ĐBTL252, ĐBPL263, ĐBPL278 có năng suất
cao hơn đối chứng 37,85 - 116,7%, chất lượng tốt
đều đạt trên 17,2 điểm, đã tiến hành nhân giống
để khảo nghiệm so sánh giống.
suất, thành phần sinh hóa của một số dòng đột biến
có triển vọng từ giống gốc TRI777”, Tạp chí Khoa
học - Công nghệ của Bộ Nông nghiệp và PTNT số
20/2006, tr 30 - 32.
7. Hoàng Quang Minh, Nguyễn Như Toản (2005).
Hiệu ứng chiếu xạ tiag
ma (nguồn Co
60
) lên hạt lúa
và những biến đổi di truyền trong thế hệ M1 và M2.
( />ame=Pages1&go=page&pid=103)
8. Đinh Thị Phòng, Nguyễn Minh Hùng, Lê Mệnh
(2005). “Phân tích mức độ thay đổi phân tử một số
dòng chè đột biến”, Những vấn đề nghiên cứu cơ
bản trong khoa học sự sống, NXB. Khoa học và Kỹ
thuật tháng 11/2005, tr 1347 - 1350.
9. Trần Duy Quí (1997). Các phương pháp mới trong
chọn tạo giống cây trồng. NXB. Nông nghiệp Hà
Nội.
10. Nguyễn Văn Toàn, Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm
(1998). Phương
pháp chọn giống chè, Tuyển tập các
công trình nghiên cứu về chè 1988 - 1997, NXB.
Nông nghiệp, tr. 309 - 325.
11. Lê Xuân Trình (2001). Nghiên cứu sự di truyền một
số đột biến thực nghiệm ở ngô nếp Việt Nam, Luận
án Tiến sĩ sinh học, tr 35.
12. Nguyễn Văn Vinh (1999). Tạo nguồn vật liệu khởi
đầu để cải tiến giống dâu tằm bằng kĩ thuật in vitro
kết hợp xử lý ti
KOM
PACTEHИEBOДCTBE, CTp. 33 Maxapaдэe -
Aӊaceули 1986.