BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
* * * * * * * * * * * *
TRẦN NGỌC QUYÊN GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
PHI NHÂN THỌ CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM
BẢO VIỆT KIÊN GIANG Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI KIM YẾN TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010
Danh mục hình
Danh mục biểu đồ
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ
1.1. Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm phi nhân thọ 1
1.1.1. Nguồn gốc của bảo hiểm phi nhân thọ 1
1.1.2. Khái niệm về bảo hiểm 4
1.1.2.1. Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ 4
1.1.2.2. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ 5
1.1.2.3. Sự khác nhau giữa bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ 5
1.1.3. Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ 6
1.1.3.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm 6
1.1.3.2. Phân loại theo quy đònh hiện hành 7
1.1.4. Một số đặc điểm cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ 7
1.1.5. Các nguyên tắc chính trong bảo hiểm phi nhân thọ 7
1.1.5.1. Những rủi ro có thể được bảo hiểm 7
1.1.5.2. Tự bảo hiểm 8
1.1.5.3. Quyền được bảo hiểm 8
1.1.5.4. Sự trung thực tuyệt đối 8
1.1.5.5. Bồi thường 9
1.1.5.6. Thế quyền 9 1.1.5.7. Đóng góp bồi thường 9
1.1.5.8. Nguyên nhân gần 9
1.1.6. Bản chất của bảo hiểm phi nhân thọ 9
1.1.7. Sự cần thiết của bảo hiểm phi nhân thọ đối với đời sống kinh tế – xã hội .
11
1.1.8. Vai trò – tác dụng của bảo hiểm phi nhân thọ 13
1.1.8.1. Khía cạnh kinh tế - xã hội 13
ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang.
2.1. Thò trường bảo hiểm phi nhân thọ tỉnh Kiên Giang năm 2006 – 2010 29
2.1.1. Tình hình kinh tế, chính trò, văn hóa xã hội Kiên Giang 29
2.1.2. Các văn bản pháp lý của Việt Nam trong lónh vực bảo hiểm phi nhân thọ
30
2.1.3. Tình hình cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm 32
2.2. Tổng quan công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang 35
2.2.1. Lòch sử hình thành và phát triển của công ty Bảo Việt Kiên Giang 35
2.2.2. Mô hình tổ chức 36
2.3. Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của công ty bảo
hiểm Bảo Việt Kiên Giang giai đoạn 2006 – 2010 38
2.3.1. Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ đang triển khai tại công ty bảo hiểm
Bảo Việt Kiên Giang 38
2.3.2. Qui trình nghiệp vụ 39
2.3.2.1. Qui trình khai thác bảo hiểm phi nhân thọ 39
2.3.2.2. Qui trình bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ 41
2.3.3. Các kênh phân phối bảo hiểm của công ty Bảo Việt Kiên Giang 44 2.3.3.1. Kênh bán hàng trực tiếp 44
2.3.3.2. Kênh bán hàng qua đại lý 44
2.3.3.3. Kênh khai thác qua môi giới 45
2.3.4. Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm và đầu tư tài chính tại Bảo Việt Kiên
Giang 45
2.3.5. Doanh số, hiệu quả hoạt động kinh doanh của năm 2006 – 2010 45
2.3.5.1. Chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc 45
2.3.5.2. Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường 48
2.3.5.3. Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm 51
2.3.5.4. Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp 54
2.3.5.5. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ phí bảo hiểm 56
3.4.2. Đối với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 85
3.4.3. Đối với Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt 86
Kết luận chương 3 86
Kết luận 87
Phụ lục
- Phụ lục 1. Danh sách các công ty bảo hiểm phi nhân thọ
- Phụ lục 2. Doanh thu phí của Bảo Việt Kiên Giang 2006-2010
- Phụ lục 3. Tình hình chi bồi thường của Bảo Việt Kiên Giang 2006 -2010
- Phụ lục 4. Báo cáo hiệu quả kinh doanh theo phân cấp năm 2006
- Phụ lục 5. Báo cáo hiệu quả kinh doanh theo phân cấp năm 2007
- Phụ lục 6. Báo cáo hiệu quả kinh doanh theo phân cấp năm 2008
- Phụ lục 7. Báo cáo hiệu quả kinh doanh theo phân cấp năm 2009
- Phụ lục 8. Báo cáo hiệu quả kinh doanh theo phân cấp năm 2010 - Phụ lục 9. Tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm tối đa áp dụng cho các nghiệp vụ bảo
hiểm phi nhân thọ
- Phụ lục 10. Tình hình lao động tại công ty Bảo Việt Kiên Giang năm 2010
- Phụ lục 11. Kế hoạch đào tạo nghiệp vụ của công ty Bảo Việt Kiên Giang
năm 2010 – 2015
- Phụ lục 12. Hệ thống bảo lãnh viện phí tại Việt Nam
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
1. Bảng 1.1. Những thảm họa lớn trên thế giới và bồi thường của bảo hiểm
2. Bảng 1.2. Doanh thu phí bảo hiểm thế giới 2009
3. Bảng 1.3. Đầu tư tài chính của ngành bảo hiểm ở các nước phát triển năm 2004
4. Bảng 2.1. Thò phần của các công ty bảo hiểm trên thò trường Việt Nam
5. Bảng 2.2. Doanh thu phí BH của công ty Bảo Việt Kiên Giang năm 2006 -
2010
6. Bảng 2.3. Tình hình chi bồi thường năm 2006 – 2010
7. Bảng 2.4. Tỷ lệ chi bồi thường năm 2006 – 2010
8. Bảng 2.5. Chi phí hoạt động kinh doanh của BVKG từ 2006-2010
9. Bảng 2.6. Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt Kiên
Giang
10. Bảng 2.7. Chỉ tiêu tỷ lệ kết hợp của Bảo Việt Kiên Giang
11. Bảng 2.8. Nợ phí bảo hiểm của Bảo Việt Kiên Giang từ 2006 - 2010
12. Bảng 2.9. Tỷ lệ nợ phí bảo hiểm của BVKG từ 2006-2010
13. Bảng 2.10. Hiệu quả kinh doanh qui c của Bảo Việt Kiên Giang 2006-
2010
14. Bảng 2.11. Tỷ lệ hiệu quả kinh doanh qui c của Bảo Việt Kiên Giang
15. Bảng 2.12. Tỷ trọng các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường cao của BVKG PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bảo hiểm là dòch vụ tài chính, dựa trên cơ sở tính toán khoa học, áp dụng
biện pháp huy động nhiều người, nhiều đơn vò cùng tham gia xây dựng quỹ bảo
hiểm bằng tiền dùng để bồi thường thiệt hại về tài chính do tài sản hoặc tính
mạng của người được bảo hiểm chẳng may bò tai nạn rủi ro bất ngờ. Sự ra đời,
hình thành và phát triển của ngành bảo hiểm gắn liền với sự phát triển của nền
sản xuất hàng hóa, đồng thời hoạt động bảo hiểm thâm nhập vào đời sống xã hội
ngày càng rộng rãi hơn.
Quá trình hình thành và phát triển của ngành bảo hiểm nước ta trong hơn
30 năm qua cho thấy rõ rằng, bảo hiểm là một hình thức bồi thường kinh tế,
chẳng những rất cần thiết mà còn giữ vai trò đặc biệt trong việc phát triển nền
kinh tế. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo
hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự
phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn đònh đời sống nhân dân.
Trong hệ thống kinh tế - xã hội nói chung và hệ thống tài chính nói riêng,
bảo hiểm tồn tại như là một bộ phận cấu thành với hai hình thức chính là bảo
hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại (nhân thọ và phi nhân thọ). Ngày nay, bảo
hiểm phi nhân thọ với nhiều loại hình đa dạng, phong phú đã thâm nhập vào mọi
lónh vực của cuộc sống, trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người.
Tuy nhiên trong giai đoạn gần đây, đặt biệt là năm 2008, bảo hiểm phi
nhân thọ Việt Nam đã trải qua một thời gian đầy biến động, doanh thu không đạt
như mong muốn.
Nguyên nhân thứ nhất là do chòu tác động xấu của tình hình kinh tế trong
nước và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Khi các doanh nghiệp và nhà đầu tư cắt
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của
công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang 2006 - 2010.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm
phi nhân thọ của công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: các vấn đề về kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
của công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang
- Phạm vi nghiên cứu bảo hiểm phi nhân thọ:
+ Không gian: công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang.
+ Thời gian: từ 2006 đến 2010.
4. Phương pháp thực hiện.
Để giải quyết các mục đích mà đề tài hướng đến, tác giả đã sử dụng chủ
yếu phương pháp nghiên cứu đònh tính: thống kê, phân tích mô tả. Số liệu thống
kê dùng cho mục đích phân tích bao gồm:
+ Nguồn số liệu kinh doanh thực tế tại công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên
Giang 2006 - 2010.
+ Số liệu tổng hợp về tình hình bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 2006 -
2010.
5. Nội dung nghiên cứu.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hiểm phi nhân thọ
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của
công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi
nhân thọ của công ty bảo hiểm Bảo Việt Kiên Giang.
minh Tiền sử, thời Cổ đại, thời Trung cổ và thời Cận đại, có các kho lúa nơi mọi
người dự trữ lương thực để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Câu chuyện trong
kinh thánh Joseph giải thích giấc mơ của vua Ai Cập là một ví dụ minh họa
nguyên tắc mà người ta áp dụng để tổ chức dòch vụ nói trên. Kinh nghiệm cho
thấy rằng đôi khi cũng xảy ra mất mùa hoặc quân xâm lược ngăn cản người dân
của một thành phố thu hoạch ở vùng nông thôn xung quanh. Mặc dù mỗi hộ gia
đình có thể tự dự phòng cho những trường hợp xấu nói trên, tuy nhiên, những thò
dân đã sớm nhận ra rằng việc dự trữ chung hoặc theo từng cộng đồng có hiệu quả
hơn. Mỗi người có khả năng sẽ phải đóng vào một khoản thuế nhỏ trong những
năm được mùa, khi giá lương thực xuống thấp. Người ta thực hiện việc thu mua
lương thực có thể dự trữ được là lúa mì. Nông dân thấy hài lòng do họ có thể bán
được nhiều hơn (với giá cao hơn) so với khi cơ quan thuế không thực hiện việc
thu mua lương thực trên thò trường.
Gặp khi mất mùa, khi thành phố bò vây hãm, cơ quan thuế sẽ xuất ra
lương thực dự trữ để nuôi sống cư dân thành phố. Vì vậy ý tưởng về việc lập một
quỹ chung (trong trường hợp này là quỹ lương thực) đã xuất hiện trong tiềm thức
2 con người. Ý tưởng này tỏ ra rất phù hợp đặc biệt là cùng với sự xuất hiện khái
niệm rủi ro.
Vào cuối thế kỷ XV khi Châu Âu thực hiện những chuyến đi khai phá
đến Châu Á và Châu Mỹ, mở đường cho cái gọi là “cuộc cách mạng thương mại”
(xảy ra trước “cuộc cách mạng công nghiệp”), ý tưởng về rủi ro và thành lập một
quỹ chung đã xuất hiện cùng một lúc. Nếu một đội tàu nhỏ tìm cách đi từ Châu
Âu tới Indonexia, mua bán hàng hóa tại đó và trở về với nhiều loại hàng hóa hấp
dẫn, song lại có rủi ro là một số tàu không hoàn thành chuyến trở về. Một số tàu
có thể bò chìm do bão tố; cạn kiệt nguồn cung cấp (hoặc đội thủy thủ chết vì bệnh
tật); lạc đường, bò chìm do quá tải, hoặc bò mối mọt ăn thủng. Những người tham
gia đầu tư vào những chuyến đi mạo hiểm đó đã cảm thấy sự cần thiết phải cùng
như vậy, theo như kiểu khai thác bảo hiểm của Lloyd’s. Vì vậy khái niệm góp
vốn chung đã được đề cập đến trong một bối cảnh khác. Người ta kêu gọi mọi
người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ thuê các
chuyên gia để lựa chọn các rủi ro có thể bảo hiểm và bồi thường cho người được
bảo hiểm bằng số tiền trích ra từ quỹ chung mà công ty đã đem đầu tư khi rủi ro
xảy ra. Quỹ này được xây dựng trên cơ sở số tiền mà công ty thu được sau khi
bán cổ phần cho các cổ đông, cộng với thu nhập nhờ quỹ đầu tư và phí bảo hiểm
do người được bảo hiểm nộp. Chỉ cần khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một
cách đầy đủ và chính xác trong việc lựa chọn rủi ro để bảo hiểm và số phí bảo
hiểm phải đóng cho mỗi loại rủi ro cụ thể thì quỹ này sẽ luôn có khả năng bồi
thường tổn thất cho người được bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro và trả lãi cổ phần cho
các cổ đông ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu tư của mình.
Vào thời gian đầu, lónh vực hoạt động chủ yếu của công ty bảo hiểm là
hỏa hoạn. Tại những thành phố đông đúc của thế kỷ XVII, hầu hết nhà cửa đều
4 dựng bằng gỗ, người ta dùng lửa để sưởi, đun nấu và dùng để chiếu sáng. Vì vậy
rủi ro nhà bắt lửa là rất cao. Trong cộng đồng làng xã trước khi diễn ra một quá
trình đô thò hóa, khi một ngôi nhà bò cháy rụi, tất cả những người hàng xóm xây
dựng lại ngôi nhà. Nguyên tắc trợ giúp tương hỗ trực tiếp được áp dụng. Ngược
lại ở thành phố, do hàng xóm của gia đình có nhà bò cháy đều có những nghề
nghiệp chuyên môn riêng (ví dụ như thợ điện, thợ dệt, thợ giầy, thư ký hoặc buôn
cá), họ không có khả năng cũng như thời gian để giúp hàng xóm xây dựng lại
ngôi nhà trong trường hợp xảy ra hỏa hoạn. Thay vào đó, họ đóng phí bảo hiểm
cho một công ty bảo hiểm để nhận được hai cam kết: cung cấp dòch vụ cứu hỏa
(chẳng hạn như dập lửa, ngăn không cho lan sang nhà khác và hạn chế đến mức
thấp nhất mức độ thiệt hại do vụ cháy gây ra) và bồi thường bằng tiền mặt cho
người được bảo hiểm để tạo điều kiện cho họ thuê mướn những thợ chuyên môn
cần thiết (như thợ xây, thợ ngói, thợ mộc ) sửa chữa lại hư hỏng (hoặc xây lại
nói có rất nhiều mục đích khác nhau. Từng loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ
đáp ứng một nhu cầu nhất đònh. Chẳng hạn một hợp đồng bảo hiểm hưu trí lập ra
một khoảng tiền hưu cho người được bảo hiểm; hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ
giúp cho người được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm trong
trường hợp anh ta tử vong; hoặc các hợp đồng trợ cấp sẽ lập ra một khoảng tiền
trợ cấp trọn đời cho người được bảo hiểm đến một độ tuổi nhất đònh ở các trường
hợp người được bảo hiểm đi vay vốn, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một trường
hợp thế chấp trong trường hợp người được bảo hiểm bò chết.
Mối quan hệ giữa người ký kết hợp đồng, những người được bảo hiểm
và những người thụ hưởng là mối quan hệ phức tạp.
Đối với hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ nhằm chống lại các hậu quả
của một biến cố bất lợi, người ta biết khá rõ ai là người thụ hưởng bảo hiểm.
Chẳng hạn: nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của một biến cố. Nhưng đối với hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ, điều này hoàn toàn không phải như vậy. Trong các bảo
hiểm trong trường hợp tử vong, người thụ hưởng bảo hiểm không phải là nạn
nhân của biến cố. Người được bảo hiểm chết song người thụ hưởng bảo hiểm là
6 những người thân thuộc có mối quan hệ gần gũi với người được bảo hiểm, ví dụ
như: vợ chồng, con cái, của người được bảo hiểm. Điều này làm hạn chế sự tự do
của người được bảo hiểm. Người được bảo hiểm không phải lúc nào cũng tự do
thay đổi người thụ hưởng. Ngoài ra chưa kể đến tính chất của hợp đồng bảo hiểm
này, đôi khi dẫn đến những vụ án hình sự về các hành động phạm tội của người
thụ hưởng.
1.1.3. Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ.
1.1.3.1. Phân loại theo đối tượng bảo hiểm.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụ bảo
hiểm phi nhân thọ được chia thành 3 nhóm:
- Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo
- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;
- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;
- Bảo hiểm nông nghiệp;
- Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ qui đònh.
1.1.4. Một số đặc điểm cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ.
- Trước tiên, hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ là một hoạt động thỏa
thuận (nên còn gọi là bảo hiểm tự nguyện);
- Hai là, sự tương hổ trong bảo hiểm phi nhân thọ được thực hiện trong
một "cộng đồng có giới hạn", một "nhóm đóng";
- Ba là, bảo hiểm phi nhân thọ cung cấp dòch vụ đảm bảo không chỉ
cho các rủi ro bản thân mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
1.1.5. Các nguyên tắc chính trong bảo hiểm phi nhân thọ.
1.1.5.1. Những rủi ro có thể được bảo hiểm.
Một rủi ro có thể được bảo hiểm phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
8 - Tổn thất ngẫu nhiên: đối với người được bảo hiểm một sự cố có thể
được bảo hiểm phải hoàn toàn ngẫu nhiên. Những sự cố chắc chắn xảy ra sẽ
không thể được bảo hiểm do không hề có yếu tố không chắc chắn về tổn thất và
vì vậy việc chuyển giao rủi ro sẽ không diễn ra.
- Đònh mức tài chính: bảo hiểm không loại trừ được rủi ro nhưng nó cố
gắng bảo vệ về mặt tài chính trước những hậu quả có thể xảy ra.
- Rủi ro đồng loại: một trong những đặc tính của rủi ro có thể được bảo
hiểm là cần có nhiều rủi ro đồng loại.
1.1.5.2. Tự bảo hiểm.
Thay cho việc mua bảo hiểm trên thò trường hoặc để bổ sung cho chính
bản thân tổ chức của mình bằng cách thò trường bảo hiểm thương mại áp dụng
mức miễn thường khiếu nại, một số tổ chức cộng đồng đã thành lập một quỹ riêng
để đáp ứng cho những tổn thất có thể được bảo hiểm. Do việc các tổ chức này tự
được bảo hiểm.
1.1.5.8. Nguyên nhân gần.
Nguyên nhân gần có nghóa là chủ động, hữu hiệu, tạo nên một chuỗi
các sự kiện dẫn đến một hậu quả mà không cần có sự can thiệp của bất kỳ một
động lực nào, được bắt đầu và hoạt động tích cực từ một nguồn mới, độc lập.
1.1.6. Bản chất của bảo hiểm phi nhân thọ.
Cơ chế hoạt động của bảo hiểm tạo ra một “sự đóng góp của số đông
vào sự bất hạnh của số ít” trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng
đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Như vậy, thực chất
mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ của các tổ chức
bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa những
người tham gia trong cùng một cộng đồng bảo hiểm xoay quanh việc hình thành
10 và sử dụng quỹ bảo hiểm – một hình thức đặc biệt của các khoảng dự trữ bằng
tiền.
Các mối quan hệ kinh tế phát sinh gắn với việc tạo lập và phân phối
quỹ bảo hiểm được thể hiện ở hai mặt:
- Một là, chúng nảy sinh trong quá trình huy động phí bảo hiểm để lập
quỹ bảo hiểm. Nguồn thu hình thành quỹ bảo hiểm càng lớn khi số lượng người
tham gia bảo hiểm càng đông.
- Hai là, chúng nảy sinh trong quá trình sử dụng quỹ bảo hiểm. Quỹ
bảo hiểm trước hết và chủ yếu được sử dụng để bù đắp những tổn thất cho người
được bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro bảo hiểm làm ảnh hưởng đến sự liên tục của
đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế xã hội.
Quỹ bảo hiểm còn được sử dụng để trang trải các hoạt động của chính người bảo
hiểm, tham gia vào các mối quan hệ phân phối mang tính pháp đònh (thuế, phí…)
và mang lại lãi kinh doanh (trong trường hợp là bảo hiểm thương mại).
Như vậy, thực chất bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh