Nghiên cứu sác định hệ số tiêu hóa hồi tràng của một số axit amin thiết yếu trong một số loại thức ăn thường dùng cho lợn - Pdf 27



Nghiên cứu xác định hệ số tiêu hoá hồi tràng của một số
axit amin thiết yếu trong một số loại thức ăn
thường dùng cho lợn
Ninh Thị Len, Vũ Chí Cương, Trần Quốc Việt,
Nguyễn Thị Hồng, Ninh Thị Huyền
Bộ môn Dinh dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ
Tóm tắt
Hai thí nghiệm được tiến hành để xác định hệ số tiêu hóa hồi tràng biểu kiến (AID) và hệ số tiêu hóa hồi
tràng tiêu chuẩn (SID) của một số axit amin (AA) thiết yếu trong ngô Sơn la, khô dầu đỗ tương Trung Quốc, khô
dầu đỗ tương Mỹ, cám gạo và bột cá nhạt làm thức ăn cho lợn. Mỗi thí nghiệm sử dụng 1 khẩu phần phi protein để
xác định lượng axit amin nội sinh cơ bản (EAA) và các khẩu phần thí nghiệm để xác định AID và SID của AA trong
các nguyên liệu thức ăn như trên. Tổng số 11 lợn ngoại lai (Landrace x Yorkshire) khối lượng khoảng 30 kg được
mổ lỗ dò và đặt ống cannula được sử dụng. Dịch của mỗi lợn được thu liên tục từ 7 giờ sáng đến 6 giờ chiều trong 2
ngày liên tục để phân tích. Kết quả cho thấy hàm lượng tryptophan và histidin nội sinh có xu hướng bị mất ít hơn
các AA khác. AID của AA trong hai loại khô dầu đỗ tương khá cao và tương đương so với bột cá (cao hơn 0.80),
sau đó là của ngô và cám gạo. SID trong các nguyên liệu đều cao hơn so với AID của cùng loại AA (từ 1,5 đến
11,0%), đặc biệt ngô tăng 24% đối với tryptophan.
1. Đặt vấn đề
Trong nghiên cứu dinh dưỡng hiện đại cho gia súc dạ dày đơn, việc xác định hệ số tiêu
hoá axit amin hồi tràng đóng vai trò vô cùng quan trọng bởi vì điều đó được coi như cơ sở nền
móng của nghiên cứu xác định nhu cầu dinh dưỡng một cách chính xác và hiệu quả, đặc biệt là
nhu cầu axit amin và mối quan hệ cân bằng axit amin và năng lượng. Số liệu về hàm lượng
protein thô hay axit amin tổng số chưa thể phản ánh được giá trị sinh học của protein trong thức
ăn mà cần phải thông qua khả năng tiêu hoá hấp thu của chúng trong đường tiêu hoá. Thông
thường đối với các thành phần hoá học khác của thức ăn (năng lượng, xơ thô, tinh bột…) việc
đánh giá tỷ lệ tiêu hoá tổng số là chính xác nhất nhưng đối với protein và axit amin việc xác định
hệ số tiêu hoá hồi tràng (điểm cuối cùng của ruột non) cho kết quả chính xác hơn tiêu hoá tổng
số bởi vì sau khi được tiêu hoá bằng hệ thống enzyme tiết ra trong đường tiêu hoá phía trên (dạ
dày và ruột non) thì các protein hay axit amin của thức ăn tiếp tục bị hệ vi sinh vật trong ruột già

Thí nghiệm đợt 1: Thí nghiệm được thực hiện trên 6 lợn đực thiến giống ngoại, khối
lượng ban đầu khoảng 33 kg. Mỗi lợn được phẫu thuật để lắp đặt một cannula (van) tại điểm cuối
hồi tràng và điểm đầu của manh tràng theo phương pháp của Van Leeuwen và ctv (1991). Sau
khi phẫu thuật, toàn bộ gia súc được nuôi theo chế độ chăm sóc đặc biệt đến khi sức khỏe được
hồi phục hoàn toàn (15 ngày sau khi phẫu thuật), khối lượng cơ thể tương ứng khoảng 40 kg. Thí
nghiệm bố trí theo kiểu ô vuông Latin (2x2), lặp lại 3 lần, mỗi lần bao gồm 2 gia súc, 2 giai
đoạn, 2 khẩu phần thí nghiệm (khẩu phần phi protein và khẩu phần ngô vàng). Mỗi giai đoạn thí
nghiệm kéo dài 7 ngày trong đó 5 ngày thích nghi và 2 ngày thu dịch. Việc thu dịch được thực
hiện từ 7 giờ sáng tới 6 giờ chiều (cứ 2 giờ thu 1 lần). Dịch sau mỗi lần thu được được bảo quản
ngay trong tủ lạnh sâu (-20 độ C). Kết thúc giai đoạn thí nghiệm toàn bộ dịch của mỗi lợn được
trộn đều, lấy mẫu gửi phân tích. Lợn được ăn và uống nước tự do trong suốt giai đoạn thí
nghiệm.
Thí nghiệm đợt 2: Thí nghiệm được tiến hành trên 5 lợn đực thiến giống ngoại đã được
lắp cannula tại điểm cuối hồi tràng tương tự như thí nghiệm 1. Bố trí thí nghiệm theo kiểu ô
vuông La tinh đơn (5x5) với 5 khẩu phần (một khẩu phần phi protein và 4 khẩu phần thí nghiệm
(KP): KP khô dầu Trung quốc, KP khô dầu Mỹ, KP cám gạo và KP bột cá nhạt), 5 giai đoạn và 5
gia súc. Thời gian thu mẫu tương tự như thí nghiệm 1.
2.3.2 .Khẩu phần thí nghiệm Khẩu phần thí nghiệm được xây dựng từ các loại nguyên liệu thức ăn thí nghiệm đã được
nghiền nhỏ như tinh bột sắn, ngô, khô dầu đậu tương, bột cá và các loại thức ăn bổ sung: dicanxi
phốt phát (DCP), premix khoáng-vitamin, muối ăn Bột diatomit (thành phần chủ yếu là
khoáng không tan trong axit HCl) được trộn vào các khẩu phần với tỷ lệ 3% như là chất chỉ thị.
Thành phần nguyên liệu và thành phần hoá học của các khẩu phần thí nghiệm được trình bày ở
bảng 1.
2.3.3.Các chỉ tiêu phân tích
Các mẫu thức ăn và dịch thu được được phân tích các chỉ tiêu thành phần hoá học như
vật chất khô, nitơ tổng số, chất chỉ thị (khoáng không tan trong môi trường axit) theo phương
pháp AOAC (1990) và chỉ tiêu axit amin bằng phương pháp sắc ký lỏng.

KP cám
gạo
KP bột

Tinh bột sắn
84,45

54,45
54,45

74,45
Khô dầu Trung quốc 40
Khô dầu Mỹ
40 Ngô vàng

94,45
3
3
Premix KH-VTM
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
0,25
Muối ăn NaCl
0,3
0,3
0,3
0,3
0,3
0,3
Bột giấy
5 DCP
2
2
2
2
2
2

3117
3266
3226
2361
3206
*
Áp dụng cho cả 2 đợt thí nghiệm

3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả phân tích thành phần hoá học và hàm lượng các axit amin trong các nguyên
liệu thức ăn
Thành phần hoá học và hàm lượng các axit amin thiết yếu trong các loại nguyên liệu thức
ăn được trình bày ở bảng 2.
Bảng 2. Kết quả thành phần hoá học và hàm lượng axit amin trong nguyên liệu thức ăn (g/kg
VCK)
Nguyên liệu
Khô dầu Mỹ
Khô dầu TQ
Bột cá nhạt
Cám gạo
Ngô vàng
VCK
895
904
928
908
877
Protein (CP)
518
461

30,43
7,66
2,29
Methionin
8,20
7,45
23,03
3,08
2,05
Phenylalanin
22,11
20,49
24,48
6,59
2,63
Threonin
20,13
17,23
25,17
3,38
1,88
Tryptophan
9,45
8,04
5,21
2,37
0,67
Tyrosin
14,33
9,48

Kết quả về hàm lượng EAA trên lợn từ các nghiên cứu trước đây và từ nghiên cứu hiện
tại được trình bày ở bảng 3. Các số liệu trong bảng 3 cho thấy có sự dao động về hàm lượng
EAA giữa các thí nghiệm. Sự không thống nhất này liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó phải kể
đến yếu tố kỹ thuật phân tích, bởi vì theo Sève và ctv. (2000) ngay cùng một nghiên cứu kết quả
phân tích EAA mất đi không hoàn toàn giống nhau giữa các phòng thí nghiệm. Ngoài ra các yếu
tố như tuổi gia súc cũng có ảnh hưởng đến chu trình chuyển hoá tế bào thành ruột (de Lange và
ctv, 1989; Butts và ctv, 1993).
Bảng 3. Kết quả hàm lượng AA nội sinh (g/kg VCK TĂĂV) và so sánh với một số tài liệu tham
khảo
Chỉ tiêu
Kết quả TN 1
Kết quả TN 2
Tài liệu tham khảo
Sève và ctv (2000)
*
Stein (1998)
Smiricky
và ctv
(2002)
TB
± SE
TB
± SE
Khối lượng (kg)
40-50
-
40-70
-
0,12
0,011
0,14
0,017
0,14
0,17
0,11
0,37
0,26
0,26
0,03
Histidin
0,09
0,014
0,06
0,011
0,16
0,13
0,10
0,32
0,19
0,21
0,19
Isoleucin
0,23
0,035
0,12
0,018
0,26
0,33

0,16
0,030
0,19
0,023
0,08
0,13
0,05
0,22
0,14
0,17
0,16
Phenylalan
0,27
0,014
0,16
0,027
0,30
0,33
0,19
0,63
0,39
0,31
0,30
Threonin
0,28
0,021
0,18
0,049
0,33
0,39

0,26
Valin
0,26
0,026
0,13
0,025
0,34
0,48
0,25
1,02
0,71
0,76
0,39
*
Số liệu của 3 phòng phân tích
Kết quả của Stein (1998) cho thấy mật độ axit amin trong dịch ruột của lợn 60 kg thấp
hơn lợn 36 kg nhưng không khác với lợn 90 kg. Ngoài ra thành phần khẩu phần như hàm lượng
vitamin, khoáng, chất xơ cũng ảnh hưởng đến sự bài tiết axit amin. Vì vậy Stein và ctv. (2007)
khuyến cáo dùng khẩu phần phi nitơ để xác định EAA nên bao gồm các thành phần như tinh bột,
cellulose, đường, vitamin, khoáng đa lượng, vi lượng và dầu thực vật. Thêm vào đó sự không
đồng nhất về giống, môi trường và vị trí nghiên cứu cũng có thể làm cho kết quả EAA khác nhau
(Sève và ctv., 2000). Vì vậy tác giả gợi ý rằng việc xác định EAA và tỷ lệ tiêu hóa AA cần được
đánh giá trong cùng một điều kiện TN. So sánh kết quả hàm lượng nitơ và các loại EAA của thí
nghiệm này với các thí nghiệm trước đây cho thấy kết quả nhìn chung phù hợp với quy luật, theo
đó hàm lượng tryptophan và histidin có xu hướng bị mất ít hơn các axit amin khác. Kết quả này
có thể so sánh với kết quả của Sève và ctv. (2000) và Smiricky và ctv. (2002) song thấp hơn so
với kết quả của Stein (1998). Kết quả EAA đo được từ thí nghiệm 1 có xu hướng cao hơn so với
kết quả đo được trong thí nghiệm 2.
3.3. Hệ số tiêu hoá hồi tràng biểu kiến (AID) và tiêu chuẩn (SID) của các axit amin thiết
yếu trong các loại nguyên liệu thức ăn cho lợn

TB
± SE
TB
± SE
TB
± SE
TB
± SE
Protein thô
0,855
0,017
0,842
0,031
0,868
0,046
0,774
0,036
0,751
0,013
Cystein
0,848
0,020
0,863
0,016
0,827
0,035
0,738
0,013
0,814
0,023

0,037
0,838
0,025
Lysin
0,906
0,031
0,888
0,053
0,873
0,056
0,762
0,053
0,763
0,026
Methionin
0,808
0,065
0,811
0,044
0,871
0,059
0,708
0,052
0,854
0,014
Phenylalanin
0,914
0,024
0,898
0,034

0,032
0,817
0,058
0,902
0,043
0,853
0,034
0,787
0,027
Valin
0,930
0,013
0,881
0,039
0,904
0,046
0,786
0,069
0,757
0,013

Kết quả về hệ số tiêu hoá hồi tràng tiêu chuẩn của AA (SID) trong các loại thức ăn được
trình bày ở bảng 5. Do có sự hiệu chỉnh EAA nên các giá trị SID cao hơn giá trị AID của cùng
một loại nguyên liệu thức ăn. Nhìn chung các giá trị SID của khô dầu Mỹ và khô dầu Trung quốc
xấp xỉ nhau, ngoại trừ một số axit amin như valin, tylosin, trytophan và threonine. Kết quả về
SID của hai loại khô dầu đỗ tương trong thí nghiệm này có thể so sánh với kết quả SID của khô
dầu Ấn Độ của nhóm tác giả Ninh Thị Len và ctv (2009). Theo Karr-Lilienthal và ctv (2004) có
sự khác nhau nhỏ về SID giữa các loại khô dầu có chất lượng khác nhau cùng một xuất xứ,
nhưng không có sự khác nhau giữa các loại khô dầu chất lượng cao nhưng có xuất xứ khác nhau.
So với bột cá nhập khẩu (bột cá Peru) trong báo cáo trước đây của nhóm tác giả Ninh Thị Len và

0,893
0,017
0,885
0,031
0,929
0,046
0,826
0,036
0,849
0,009
Cystein
0,892
0,020
0,915
0,016
0,909
0,035
0,769
0,013
0,878
0,030
Histidin
0,920
0,029
0,916
0,035
0,892
0,067
0,875
0,021

0,056
0,795
0,053
0,902
0,010
Methionin
0,867
0,065
0,877
0,044
0,912
0,059
0,773
0,052
0,939
0,015
Phenylalanin
0,932
0,024
0,917
0,034
0,939
0,039
0,817
0,035
0,909
0,029
Threonin
0,936
0,024

Valin
0,944
0,013
0,896
0,039
0,923
0,046
0,805
0,069
0,844
0,025
* Được tính từ AID của ngô vàng và EAA trong thí nghiệm đợt 1

4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
Kết quả phân tích hàm lượng các axit amin thiết yếu trong một số loại thức ăn thông dụng
cho lợn ở Việt Nam như ngô vàng, khô dầu đậu tương, bột cá và cám gạo trong thí nghiệm hiện
tại nằm trong khoảng dao động đặc trưng của từng loại nguyên liệu so với các kết quả phân tích
trong và ngoài nước trước đây
Hệ số tiêu hoá hồi tràng tiêu chuẩn (SID) và tiêu hoá hồi tràng biểu kiến (AID) của cám
gạo có xu hướng thấp hơn các loại thức ăn khác như ngô, khô dầu và bột cá
Hệ số tiêu hoá hồi tràng tiêu chuẩn (SID) cao hơn hệ số tiêu hoá hồi tràng biểu kiến
(AID) trong cùng một loại nguyên liệu thức ăn.
4.2. Đề nghị
Tiếp tục nghiên cứu đánh giá hệ số tiêu hoá hồi tràng tiêu chuẩn và biểu kiến của axit
amin trong các loại thức ăn thông dụng khác.
Tài liệu tham khảo 1. Burgoon, K. G., Hansen, J. A. Knabe, D. A and Bockholt, A. J. 1992. Nutritional value of quality protein

12. van Leeuwen P, van Kleef D J, van Kempen G J M, Huisman J and Verstegen M W A. 1991. The post-
valve T-caecum cannulation technique in pigs applied to determine digestibility of amino acid in maize,
groundnut and sunflower meal. Journal of Animal Physiology and Animal Nutrition. 65:183-19.
13. Lã Văn Kính. 2003. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn gia súc Việt Nam. Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
14. Ninh Thị Len, Trần Quốc Việt, Lê Văn Huyên, Lại Thị Nhài, Nguyễn Thị Hồng. 2009. Xác định thành
phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho lợn nuôi thịt trong điều kiện nuôi dưỡng ở
Việt nam. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi năm 2008-Phần dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi: 87-111.
Viện Chăn nuôi. 2001. Bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn dùng cho gia súc
gia cầm. Nhà xuất bản Nông nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status