Nghiên cứu về giới trong hệ thống chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ tại 4 tỉnh Hà Tây, Thái Bình, Thanh Hóa và Long An thuộc dự án IDRC - Pdf 27



NGHIÊN CỨU VỀ GIỚI TRONG HỆ THỐNG CHĂN NUÔI GIA CẦM NHỎ LẺ
TẠI 4 TỈNH HÀ TÂY, THÁI BÌNH, THANH HOÁ VÀ LONG AN
THUỘC DỰ ÁN IDRC
Vũ Chí Cương, Trần Thị Mai Phương,
1
Nguyễn Quý Khiêm,
1
Nguyễn Thị Nga,
1
Bạch Thị Thanh Dân và ctv
Viện Chăn Nuôi;
1
Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thuỵ Phương
Tóm tắt
Mối liên hệ mật thiết giữa chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng và giới từ lâu đã được biết
đến. Trong đại dịch cúm gia cầm mối quan hệ này càng trở nên quan trọng, tuy vậy đây cũng chính là câu hỏi cần có
lời giải rõ ràng hơn. Nhìn tổng quan ta thấy phụ nữ là những người chịu ảnh hưởng nhiều của đại dịch cúm gia cầm
bởi vì họ là những người tiếp xúc trực tiế với gia cầm đặc biệt là trong chăn nuôi nhỏ lẻ như chăm sóc, cho ăn, dọn
chuồng…. Việc hiểu rõ mối quan hệ về giới trong đại dịch cúm gia cầm là rất cần thiết và đòi hỏi phải được phân
tích đầy đủ.
Mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu này nhằm phân tích đa chiều và so sánh về mối liên hệ về giới trong đại
dịch cúm gia cầm ở 4 tỉnh của Việt Na: Ha Tay,Thai Binh, Thanh Hoa và Long an , từ đó rút ra những kết luận và
bài học chung để phục vụ cho việc xây dựng chiến lược về giới trong phòng chống dịch cúm gia cầm ở các tỉnh khác
có điều kiện tương tự. Kết quả cho thẩy: Phụ nữ là đối tượng tiếp xúc thường xuyên và trực tiếp với gia cầm nên
nguy cơ lây nhiễm rất cao và nguy cơ này càng cao hơn ở những phụ nữ có học vấn thấp. Phụ nữ hiếm khi nhận
được sự trợ giúp hoặc được tập huấn đầy đủ. Sự sao lãng đối với một nhóm sản xuất quan trọng này có thể làm mức
độ ảnh hưởng về kinh tế xã hội do dịch cúm gia cầm gây ra càng trầm trọng hơn. Các nhà chính sách thường “quên”
không đưa mục tiêu về giới vào khi lập chính sách, kế hoạch hoặc chiến lược phòng chống dịch cúm gia cầm
1. Đặt vấn đề

đánh giá về những hiểu biết và thói quen của nam giới và nữ giới về bệnh cúm gia cầm thông qua việc
thu thập thông tin từ trang trại, chợ trời, phương thức bày bán và tiêu thụ sản phẩm.Việc đánh giá và
phân tích về lĩnh vực giới trong đại dịch cúm gia cầm dựa trên kỹ thuật thu thập số liệu ở các mức độ
khác nhau.
3. Kết quả
3.1. Tổng quan tình hình dịch cúm gia cầm, sự ứng phó và chiến lược phòng chống
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên thông báo có dịch cúm gia cầm thể độc lực
cao và có liên quan đến sự lây nhiễm trên người. Đợt dịch đầu tiên xảy ra vào cuối năm 2003 và
từ đó đến nay dịch đã lan rộng ra khắp các tỉnh thành trong cả nước và tái xuất hiện nhiều lần với
tổng số gia cầm bị chết và tiêu hủy trong đợt đầu là khoảng 45 triệu con và cho đến nay thì con
số này đã lên đến 51 triệu. Số vụ nhiễm cúm gia cầm trên người cũng rất cao (cao nhất trong
khu vực), theo báo cáo của WHO tổng số người bị nhiễm cúm gia cầm là 106 người (trong đó có
52 người đã chết), đa số các trường hợp được báo cáo đều có tiếp xúc trực tiếp đến gia cầm ốm
hoặc chết hoặc giết mổ gia cầm và ăn thịt gia cầm. Dưới đây là bảng phân loại các trường hợp
mắc cúm gia cầm theo nhóm tuổi.
Bảng 1. Phân loại các trường hợp mắc cúm gia cầm theo nhóm tuổi ở Việt nam
Độ tuổi
Nam
Nữ
Không rõ
0-10
6
7
1
11-20
13
10

21-30
7

vị
Trình độ văn hóa
1
2
3
4
5
6
7
8
Nam
%
0.64
2.87
22.29
47.45
23.89
2.55
0.32
0.00
Nữ
%
2.33
16.28
30.23
37.21
8.14
2.33
2.33
1.16

64.76
13.72
Cả hai vợ chồng
8.42
10.13
0.95
79.94
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
%
Trước dự
án
Sau dự án Trước dự
án
Sau dự án Trước dự
án
Sau dự án
Cho gia cầm ăn Nhặt trứng Dọn chuồng
Trẻ em

38,57
23,05
39,14
26,77
Vợ
53,74
74,63
81,14
75,31
84,00
72,98
Cả hai vợ chồng
17,72
0,25
26,29
0,41
28,00
0

0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
%

quyết
định
Nuôi loại gia
cầm nào
sử dụng làm
thực phẩm
Bán gia cầm
Giữ tiền bán gia
cầm
Sử dụng tiền bán
gia cầm
Trước
dự án
Sau dự
án
Trước
dự án
Sau dự
án
Trước
dự án
Sau dự
án
Trước
dự án
Sau dự
án
Trước
dự án
Sau dự

32,45

51,83 0
10
20
30
40
50
60
70
%
Trước DA Sau DA Trước DA Sau DA
Nuôi loại gia cầm nào sử dụng làm thực phẩm
Chồng
Vợ
Cả hai

Biểu đồ 3a. Vai trò của nam và nữ trong việc ra quyết định
0
10
20
30
40
50
60
70
%

cơ bệnh cúm gia cầm. Những thông tin người dân có được thông qua chương trình truyền hình,
các chiến dịch tuyên truyền, loa phóng thanh, tập huấn, qua tuyền truyền của các cán bộ thú y,
các tờ rơi, tờ gấp. Nhận thức của người dân nói chung về phòng chống dịch cúm gia cầm ngày
càng cao từ sau khi dịch cúm gia cầm xảy ra, tuy nhiên nhận thức của chị em phụ nữ thì vẫn còn
rất hạn chế. Một số hộ chăn nuôi có tham gia các lớp tập huấn về chăn nuôi và phòng chống
dịch cúm gia cầm do hội nông dân, hội phụ nữ và trạm thú y huyện tổ chức, tuy nhiên vẫn còn
rất nhiều người không tham dự với lý do là nhận thức của họ yếu, không có thời gian và thời
gian biểu của các buổi tập huấn không phù hợp với công việc của họ.
Qua 3 năm thực hiện dự án, nhận thức của người dân về chăn nuôi an toàn sinh học để
giảm thiểu rủi ro liên quan đến cúm gia cầm, nhận thức của chị em phụ nữ được nâng lên rất
nhiều thông qua việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi
gia cầm. Kết quả thể hiện ở bảng 6
Bảng 6. Vai trò của nam và nữ trong việc quyết định áp dụng các biện pháp ATSH

Thực hiện ATSH
Tiên phòng
Gọi cán bộ Thú y

Trước DA
Sau DA
Trước DA
Sau DA
Trước DA
Sau DA
Chồng
14.86
19.1
16.29
20.48
22.86

0.25
Sau 3 năm thực hiện dự án, nhận thức của chị em phụ nữ được tăng lên. Nhận thức rõ tầm
quan trong của việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi nên chi em đã tự chủ
động áp dụng mà không bị động chờ ý kiến của chồng. Tuy nhiên chị em cũng mong muốn được
Chính phủ cấp miễn phí quần áo bảo hộ, găng tay, khẩu trang, ủng… và mong muốn gia cầm của
họ được tiêm vaccine hàng tháng thay vì 2 đợt/năm. Họ cho rằng gia cầm có chu kỳ ngắn, nếu
tiêm theo đợt thì những gia cầm mới sinh ra sẽ không được tiêm. Việc tổ chức các lớp tập huấn
được dự án đưa ra là hoàn toàn phù hợp vì có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu và đặc biệt các giảng
viên là những người của ban chỉ đạo dự án ở cấp xã nên họ cảm thấy rất tự tin khi đưa ra ý kiến
của mình.
3.4. Rủi ro, nguy hại và cơ hội liên quan đến lĩnh vực giới
Mặc dù phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, thực tế vẫn tồn tại xu
hướng thiên về nam giới hơn, họ là những người trong ban lãnh đạo, họ là những người ra quyết
định. Dự án đã và đang kết hợp với hội phụ nữ xã đang cố gắng thay đổi điều này bằng cách tổ
chức nhiều các lớp tập huấn riêng cho chị em phụ nữ, xây dựng các màng lưới phụ nữ ở cơ sở.
Theo Phan Văn Lục và ctv (2007), phụ nữ có vai trò quan trọng trong chăn nuôi gia cầm,
họ tham gia vào tất cả các khâu như chăn nuôi, vận chuyển, bán và giết mổ gia cầm và họ chịu
tác động trực tiếp nếu dịch cúm gia cầm xảy ra (ảnh hưởng kinh tế, xã hội, các phương pháp an
toàn sinh học cũng như sức khỏe cộng đồng), hơn nữa phụ nữ là những người dễ bị tổn thương
hơn nam giới.
Theo ý kiến của nhiều chị em phụ nữ, dự án tái cấu trúc đán gia cầm có xu hướng chuyển
từ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung an toàn sinh học có thể sẽ gây ảnh hưởng trực
tiếp đến những người nghèo. Một khi chăn nuôi trở thành hàng hóa, có thu nhập cao, lúc này nam giới sẽ
nhận lại trách nhiệm chăn nuôi và hậu quả là phụ nữ mất việc làm, mất thu nhập và lại trở thành người
làm thuê.
Nữ giới, đặc biệt những người không phải là thành viên của HLHPNVN hoặc những
người độc thân là chủ hộ thường khó có thể tham gia và được hưởng lợi từ những hoạt động phát
triển của cộng đồng. Họ rất khó tiếp cận được các thông tin về phòng chống dịch cúm gia cầm và
ít có cơ hội vay vốn để cải thiện đời sống. Chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ đựơc coi là kế sinh nhai của
những người phụ nữ bất hạnh này. Thiếu thông tin, thiếu hòa nhập càng làm tăng nguy cơ rủi ro

Phụ nữ là đối tượng tiếp xúc thường xuyên và trực tiếp với gia cầm nên nguy cơ lây nhiễm
rất cao và nguy cơ này càng cao hơn ở những phụ nữ có học vấn thấp.
Theo cách nghĩ truyền thống thì nam giới là chủ hộ và thường được mời tham dự các lớp
tập huấn. Vai trò của chị em trong chăn nuôi và tiêu thụ gia cầm đặc biệt là chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn
chưa được phân tích sâu và chưa được đưa vào như là mục tiêu và đối tượng tuyền truyền và đối
tượng hưởng lợi.
Phụ nữ hiếm khi nhận được sự trợ giúp hoặc được tập huấn đầy đủ. Sự sao lãng đối với một
nhóm sản xuất quan trọng này có thể làm mức độ ảnh hưởng về kinh tế xã hội do dịch cúm gia cầm
gây ra càng trầm trọng hơn.
Phụ nữ là tấm lá chắn chống lại bệnh tật. Với vai trò đầu tiên của họ là chăm sóc gia cầm,
chăm sóc, bảo vệ gia đình, những hiểu biết của họ có thể góp phần làm giảm nguy cơ mắc bệnh
cúm gia cầm cho gia đình họ nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Mặc dù không thể phủ nhận
vai trò của phụ nữ trong việc nâng cao sức khỏe và thay đổi thói quen của gia đình và cộng đồng,
nhưng trong khi lập chính sách, kế hoạch hoặc chiến lược phòng chống dịch cúm gia cầm người
ta thường “quên” không đưa mục tiêu về giới vào.
Những nhà làm kế hoặch về phòng chống dịch cúm gia cầm cần phải hiểu kỹ hơn sự khác
nhau rất lớn giữa nam và nữ trong việc mất thu nhập và mất kế sinh nhai khi bệnh cúm gia cầm
xảy ra. Khi được phỏng vấn, các bên liên quan (nhà lập chính sách, điều phối viên dự án, chính quyền các cấp và người nông dân) dường như chỉ dưa ra được một ý là giữa nam giới và nữ giới
không có sự khác nhau về khả năng lây nhiễm cúm gia cầm mà không phân biệt được nam giới
và nữ giới cần những sự quan tâm khác nhau khi xây dựng kế hoặch và chiến lược phòng chống
dịch cúm gia cầm. Nhìn chung lĩnh vực giới hình như không được coi là một yếu tố quan trọng trong
việc giảm nguy cơ lây nhiễm cúm gia cầm. Các chương trình phòng chống dịch cúm, kể cả chương
trình của quốc gia cũng đều không có một hợp phần hoặc một tầm nhìn nhất định về giới.
Lý do mà lĩnh vực giới bị bỏ quên có thể là: Những người lập kế hoặch về phòng chống
dịch cúm gia cầm, các kỹ thuật viên cả y tế và thú y ở các cấp đều là nam giới và họ chỉ quan
tâm đến khía cạnh kỹ thuật đặc biệt là trong tình trạng khẩn cấp. Những nhà lập chính sách này
thường không coi giới như là một công cụ để lập và thực hiện kế hoặch. Thiếu sự phân tích một

- Tăng cường tập huấn cho chị em phụ nữ về cách phòng chống bệnh cúm gia cầm trên người và
trên gia cầm. Khuyến khích và động viên chị em tham gia các lớp tập huấn.
- Tăng cường trang thiết bị và dụng cụ cần thiết cho các khóa đào tạo giành cho chị em.
- Tạo sự cân đối trong phân bổ lao động tham gia trong lĩnh vực thú y và y tế.
Những chỉ dẫn
1. Sự khác nhau về giới trong thu nhập từ sản xuất gia cầm và những sản phẩm gia cầm
2. Sự khác nhau trong việc ra quyết định liên quan đến sản xuất gia cầm.
3. Sự khác nhau về nhận thức và thói quen trong phòng chống cúm gia cầm
4. Mức độ tham gia của phụ nữ trong chiến dịch thông tin tuyên truyền và tập huấn
5. Mức độ tham gia của phụ nữ trong giám sát, ứng phó và các hoạt động chuẩn bị phòng
chống dịch bệnh
6. Sự khác nhau của giới trong tổ chức hội nông dân
7. Sự khác nhau về giới trong việc tiếp cận các dịch vụ tín dụng
8. Sự khác nhau trong việc tiếp cận kỹ thuật
9. Sự khác nhau trong phân công lao động
10. Tiếp cận các dịch vụ truyền thông
Tài liệu tham khảo
1. John Curry (2006). Market impact as hidden cost of avian influenza on rural livelihoods and households,
IGG HPAI symposium
2. Phan Van Luc, et al, (2007). The economic impact of highly pathogenic avian influenza – Related
biosecurity policies on the Vietnamese poultry sector, In: McLeod, A & F. Dolberg (eds.): Future of
poultry farmers in Vietnam after HPAI. A workshop held at Horison Hotel, Hanoi, March 8-9, 2007.
3. Le thi Mong Phuong 2006). Gender analysis in poultry production cin Chuc Son Town, Chuong My
District, Ha Tay Province and Cha La commune, Duong Minh Chau district, Tay Ninh province, Draft
FAO 2006.
4. Esther Velasco; Elisabel Dieleman; Sisipen Supakankunti , Tran Thi Mai Phuong (2008). Gender aspect
of Avian Influenza crisis in South East Asia : Laos, Thailand and Vietnam, June -2008, European Union’s
programme for Asia, fianl report, project No. 2007/146155, Version 1
5. Lebel.J (2003). Health and Ecosystem Approach, Ottawa: IDRC.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status