Timg hiểu chung về lạm phát
Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và
dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó.
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền
kinh tế
Thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là CPI - Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index) đo giá cả của một số lượng lớn các
loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế , được mua bởi "người tiêu
dùng thông thường”
Nguyên nhân gây ra lạm phát
- Lạm phát tiền tệ (monetary inflation)
Xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế. Đơn giản hơn là
tiền trong lưu thông tăng nhanh hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế. Cung
tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất
giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước, …)
khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên quá mức là nguyên nhân gây ra lạm phát.
- Lạm phát do cầu kéo (Demand pull – inflation)
Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức
giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt
hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng
hoá trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một
hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà khoa học
mô tả tình trạng lạm phát này là“quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hoá”.
- Lạm phát do chi phí đẩy (cost push – inflation)
Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm
cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí
nghiệp chắc chắn cũng tăng lên. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành
sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
- Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu
quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức
lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh từ đó.
Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992
Tăng trưởng(%) 2.33 3.78 5.1 8 0.1 6 8.6
Lạm phát(%) 774 223.1 394 34.7 67.4 67.6 17.6
Lạm phát 3 con số tiếp tục duy trì trong 3 năm 86,87,88 là do đến năm 1987 do thiên tai, sản lượng lương
thực cuối năm giảm 3,5% và đầu năm 1988 một số địa phương miền Bắc bị đói, giá cả lên cao, lạm phát chi
phí đẩy lại tiếp diễn. .Đứng trước tình hình đó, dân chúng tích trữ hàng hoá , lương thực, vàng và đô la càng
nhièu vì lo sợ rằng đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên cầu giả tạo, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát cầu
kéo, với tỉ lệ lạm phát là 223,1%, mức tăng trưởng GDP chỉ là 3,78%.
Đến năm 89 sau khi chính phủ áp dụng một số chính sách( nới lỏng tỉ giá ngoại tệ USD/VND, ) lạm phát đã
giảm xuống 2 con số. cụ thể 34,7%. Tuy nhiên lạm phát còn khá cao với mức 67% liên tiếp trong 2 năm 90,
91, từ năm 92 trở đi tình hình mới lắng dịu hơn.
Các biện pháp kiểm soát lạm phát trong giai đoạn này
Chính sách tiền tệ
Chính sách về lãi suất:thực hiện chính sách lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa-tỉ lệ lạm
phát ), tức là nâng lãi suất tiết kiệm lớn hơn tỉ lệ lạm phát nhằm thu hồi lượng tiền trong lưu thông về.
Lúc này cách giải quyết thất nghiệp ở nước ta là NHNN từng bước giảm dần la cho vay thông qua việc giảm
dần la huy động từ 12% xuống 9% rồi 6%/năm; 1,4% xuống 0,9% rồi 0,85%/ tháng.
Chính sách về tỉ giá hối đoái
Việc áp dụng tỉ giá hối đoái thực tế đã làm cho người dân không còn tích trữ hàng hoá , vàng, đô la mà bắt
đầu tích luỹ bằng đồng nội tệ.
Từ năm 1990, NHNN đã cải cách mạnh mẽ việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ . Đã xác định
được khối lượng tiền cung ứng hàng năm phù hợp với múc tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát .)
II.2.Giai đoạn 1993 – 2008
Kể từ năm 1993, lạm phát đã được khống chế khá tốt và hường dưới 2 con số.
Giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 là thời kỳ lạm phát thấp nhất của Việt Nam. Trong khoảng thời gian này,
CPI lần lượt chỉ ở mức 0.1%, -0.6% và 0.8%. Thời kỳ này gắn liền với giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính
Đông Á năm 1997 – 1998.
Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng cao từ năm 2004, tại Việt Nam, sau 11 năm liên tục lạm phát được kìm
giữ ở mức thấp (1 con số), thì đến năm 2007 lạm phát đã quay trở lại tốc độ “phi mã”, với mức 12,63%, cao
gấp rưỡi tốc độ tăng trưởng kinh tế (8,44%); trong đó các mặt hàng tăng giá cao nhất là thực phẩm (21,16%),
cao, nhưng lại không tạo ra được một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương ứng.
Hàng năm, đầu tư trong nền kinh tế đều quanh mức 40% GDP. Tỷ lệ đầu tư lớn này đòi hỏi một mức tăng
trưởng tín dụng và cung tiền cao để phục vụ nhu cầu đầu tư. Trong khi đó, tăng trưởng GDP chỉ quanh mức
7%, thậm chí năm 2008 và 2009 chỉ lần lươt đạt mức 6.19% và 5.32%.
Năm 2009, chính sách tiền tệ được mở rộng, lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc được ấn định ở mức thấp. Tăng
trưởng tín dụng năm 2009 lên đến 37.74%, và là mức khá cao so với trung bình những năm vừa qua. Tăng
trưởng cung tiền M2 lên mức 28.7%, mức tăng này thấp hơn so với năm 2006 và 2007, nhưng vẫn khá cao
so với năm 2008 và những năm còn lại trước đó.
(2) Lạm phát do chi phí đẩy
Trong năm 2010 và đầu năm 2011, giá nhiều mặt hàng cơ bản đã được điều chỉnh tăng nhiều lần. Trong năm
2010 giá điện tăng 6.8% từ 01/3/2010, giá xăng dầu điều chỉnh tăng 6.5% (tổng cộng 2 lần), than bán cho
ngành điện tăng từ 28 – 47%. Đầu năm 2011 tiếp tục tăng giá điện thêm 15,3% (từ 01/03/2011), giá xăng
dầu thêm 18% (24/0202011). Sự tăng giá các yếu tố đầu vào làm cho tình hình lạm phát ngày càng gia tăng
Năm 2010, mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng khoảng 10-15%, tùy từng khu vực. Việc tăng lương tối
thiểu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và làm tăng giá cả hàng hóa. Ngoài ra, việc tăng
lương tối thiểu cũng có thể tạo ra một hiệu ứng tăng giá ăn theo trên thị trường.
(3) Lạm phát do yếu tố cầu kéo
Trong dịp Tết Âm lịch vừa qua, giá của nhiều hàng hóa tăng một cách đột biến là do nguyên nhân cầu kéo.
Năm 2009, các gói kích thích kinh tế và việc tăng chi tiêu của chính phủ khiến nhu cầu một số hàng hóa tăng
mạnh. Hiệu ứng từ việc gia tăng nhu cầu này tiếp tục kéo dài sang năm 2010 và các tháng đầu năm 2011, gây
sức ép lên giá cả nhiều hàng hóa.
(4) Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá
Ngày 10/02/2010, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng tăng thêm
3.3%, đưa mức trần tỷ giá chính thức lên 18,9320 VND/USD + 3%. Ngày 11/02/2011,NHNN tiếp tục phá
giá tiền đồng thêm 9.3%, đưa mức tỷ giá chính thức lên 20,693 VND/USD +1%. Nhiều nhận định cũng quan
ngại về việc điều chỉnh tỷ giá này sẽ ảnh hưởng tới đà tăng giá của hàng hóa trong nước, vì tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu hiện nay đã bằng khoảng 1.5 lần GDP và nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu hơn là
xuất khẩu.
Nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam bị ảnh hưởng khá mạnh bởi tỷ giá. Vừa qua một số hàng
hóa như sữa, sắt thép… cũng tăng giá bán sau khi tỷ giá được điều chỉnh.
Thứ năm, thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; tiếp tục có lộ trình thích hợp để xoá bao cấp qua giá đối
với các loại hàng hoá dịch vụ còn bao cấp và phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát như: điện, xăng dầu,
nước sạch, than bán cho điện… Đồng thời, bộ sẽ có các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với những ngành sản
xuất gặp khó khăn, hỗ trợ đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, thực hiện các chính sách an sinh xã
hội.
Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương biện pháp bình ổn giá, kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội, tạo ra sự đồng thuận trong xã hội, giảm thiểu các
yếu tố tâm lý, kỳ vọng tăng giá trên thị trường.
Hạn chế tác nhân lạm phát
Có thể thấy, Nghị quyết 11 đã được sự hưởng ứng đồng thuận một cách nhanh chóng của các cơ quan ban
ngành, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài. Các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá rất cao tinh thần Nghị quyết
11.
Ở trong nước, có thể thấy Nghị quyết 11 đáp ứng nhanh với thị trường. Ngay khi Chính phủ đưa ra 6 nhóm
giải pháp trong vòng 1 tháng, các bộ ban ngành đã có chương trình hành động và có tác động tức thời đến
thị trường.
Theo đó, thị trường ngoại tệ và vàng đã cắt được “cơn sốt” so với trước đó, nhất là “cơn sốt” USD. Đến
nay, giá USD đã ổn định và đi xuống. Giảm sốc về USD trên thị trường nên giá USD trên thị trường chính
thức và thị trường tự do sát gần nhau. Tỷ giá ổn định tương đối sẽ hạn chế bớt tác nhân gây lạm phát.
Đây là yếu tố rất quan trọng bởi nếu chúng ta không ổn định được tỷ giá trong bối cảnh giá xăng dầu thế
giới tăng lên, dẫn đến chi phí đầu vào tăng thì nền kinh tế nước ta có nguy cơ bùng nổ lạm phát giống như
thời kỳ năm 2008 do vừa kết hợp của lạm phát thế giới cộng với tỷ giá (một hình thức lạm phát kép).
a.Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa quy định trần lãi suất huy động USD không quá 3%. Như vậy người có
USD sẽ cân nhắc việc nên tiếp tục giữ hay bán USD để gửi tiền đồng vì lãi suất tiền đồng cao và cơ hội để
gửi tiền đồng lãi suất cao sẽ giảm dần do khi đã kiềm chế lạm phát lãi suất tiền đồng sẽ giảm.
Điều này sẽ dẫn đến một số người dân bán USD để chuyển sang gửi tiền đồng. Khi đó lượng cung USD sẽ
tăng lên sẽ làm cho giá USD hạ. Khi giá USD không còn “sốt” thì việc người dân bán USD để lấy tiền đồng
gửi tại ngân hàng càng nhiều hơn và quyết sách đó của NHNN là quyết sách đúng.
b. NHNN vừa nâng dự trữ bắt buộc từ 4 lên 6% đối với tiền gửi ngoại tệ cá nhân bằng USD đã giúp cho