XÓA bỏ TÍNH TRẠNG học THỤ ĐỘNG của SINH VIÊN TRONG đào tạo hệ tín CHỈ - Pdf 27

XÓA BỎ TÍNH TRẠNG HỌC THỤ ĐỘNG CỦA
SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO HỆ TÍN CHỈ
Trương Minh Hòa
Khi viết đề tài này, đôi khi hiểu ý đối trọng trở nên đồng nghĩa : nâng
cao tính tự chủ trong sinh viên, tuy nhiên khi thực hiện thì thấy ngoài một số
điểm tương đồng nhung có khá nhiều dị biệt: Tính tự chủ sv: sinh có học dù
ít nhiều, học nhưng không định hướng, học không có mục tiêu, do đó chỉ cần
định hướng học tập cho sv là đủ, còn phá bỏ tính thụ động trong sv thì nó
hơi nặng nề hơn vì : mất phương hướng, không có động cơ, không ham thích
chuyện học. Đề tài nầy đứng ở góc độ giảng viên, người dạy làm sao , tổ
chức lớp học, khơi gợi, tạo điều kiện và môi trường tốt nhất để sinh viên có
thể tự học, tự nghiên cứu, mạnh dạn phát biểu xóa bỏ dần tính thụ động.
1. Thực trạng
Sự thụ động trong sinh viên đã là một hiện tượng phổ biến trong các
trường Đại học, nó là giảm chất lượng đào tạo, giảm uy tín nhà trường, đặc
biệt sản phẩm tạo ra không đạt chuẩn đầu ra, xã hội không sử dụng được, đi
tìm lời giải pháp xóa bỏ tính thụ động trong sinh viên đồng thời nâng cao
tính chủ động tích cực trong học tập là bài toán khó không chỉ nhà trường ta
mà còn cả xã hội phải tham gia.
2. Biểu hiện thụ động
2.1 Đọc chép
Sự siêng năng, ngoan ngoãn trong giảng đường đã làm mất đi ý nghĩa
tích cực, vì sinh viên không có thời gian tiếp thu và phản biện chất vấn lại,
ích lợi là giáo viên không phát vấn và như vậy sẽ không lo phải trả lời câu
hỏi từ giáo viên.
Mặc dù đã có tài liệu, giáo trình, những lúc học trong giảng đường, sv
cũng ghi chép quá nhiều hoặc có động tác tương tự nhằm tránh phải trả lời
câu hỏi từ giáo viên, việc thụ động tiếp thu kiến thức làm cho chất lượng đào
tạo kém, không bảo đảm chuẩn đầu ra.
2.2 Thư viện ít người lui tới
Thư viện chỉ đông vào mùa thi, mùa chuẩn bị làm báo cáo thực tập,

4. Giải pháp
4.1 Về phía sinh viên
4.1.1 Xây dựng động cơ học tập
4.1.1.1 Mục tiêu lớn
Tạisaochọntrườngnầy,ngànhnghề nầy
Học xong đạt đượcchuẩngì
Saukhiratrườnglàm đượcgìvàcáckế hoạch tương lai
Việcxác định đượcmục tiêu đàotạosẽ giúpsinhviênxâydựng đượcmụctiêuhọc
tậpvàcácquitắchọctậpmộtcáchnghiêmtúc như:
Thựchiệncácyêucầutừ nhà trườngvàgiáoviênbộ môn
Có kế hoạch học bổ sung các môn khác phục vụ cho công việc tương lai: ngoại
ngữ,tinhọc,kỹ năng làmviệcnhóm,kỹ năng sống
Từ đósinhviênsẽ có thái độ hànhvithíchhợptronggiảng đườngvaxãhội.
4.1.1.2 Mục tiêu môn học
Mụctiêuhọctậpcủatừng môn : đóngvaitròquyết địnhchokếtquả mônhọc,góp
phầncảithiệnhìnhảnhvàchấtlượnghọctập.Nhiềugiáoviênkhôngnhấnmạnhmụctiêu
môn họcnênnhiềusinhviênchỉ biếthọcvà học, nhưng không biết đíchđến, do đódễ lạc
đườngvàchánnảnkhithấymônhọcnầymênhmôngquá.
Xác địnhyêu cầu:trongtiếthọc,giáoviêncónêuyêucầu đốivới sinh viên, nhưng
đôi khi dể dãi,trướcsaugì cũngtrìnhbàyhếtnộidung,hayyêucầukhôngrõràngnênsinh
viênthườngcótrangtháivàolớphọcchờ nghegiảng hơn làtìmhiểutrước.
4.1.2 Phương pháp học tập
Khi xác định đượcmụctiêuhọctập,sinhviêncầnxâydựng phương pháphọctập
phùhợpmôitrường đạihọc:tự chủ sángtạo.
4.1.2.1 Học cá nhân
a. Đọc trước tài liệu của giáo viên
nắm vững rồi mớithamkhảotàiliệukhác,nếukhông dể tẩu hỏa nhập mavìkiến
thứcnhiều,rốirắm,khôngnhấtquán.
b. Nắm bản chất môn học
Xác địnhmụctiêu,yêucầu,vàtim đượccáicuốicùngmônhọclàđạt được điềugì,

bàitoánlớn.
h. Sơ kết và tổng kết từng môn
Họcxongtừngbài,từngmôn,nêncó đề cương, nhậnxét,tómý,cácvấnđề cònbỏ
ngỏ,cácvấnđề chưa giảiquyết.
4.1.2.2 Xây dựng nhân cách sinh viên trong học tập và nghiên cứu
khoa học
Trangbị tinhthầnhọc Đạihọc
Bồidưỡngcáchhọc,làmviệcở đạihọctheotinhthần:tự chủ,sángtạo,liênkết.
Biếtlàmviệctheonhóm
Dám đặtcâuhỏivàthamgiathảoluậncùnggiáoviên
Cótinhthầnnghiêncứukhoahọc:
Biếttìm kiếm thu thậpthôngtintừ nhiều nguồn : báo chí, thư viện,Internet, bước
đầubiếttổnghợpthôngtintừ ngườikháccungcấpcho,dầndầnbiếttự viếtlấycácbàibáo
cáochoriêngmình.
Tự trọng:khôngcopybàilàm, bàithi,khônglấysảnphẩmcủangườikháclàmcái
củamìnhtheokiểucopy,dán, đổitên.
Khôngỷ lại:khôngỷ lạivàotậpthể,sự dể dãicủagiáoviên
4.2. Giáo viên
4.2.1 Đủ năng lực giảng dạy
Yêu cầu này có vẻ ngớ ngẩn vì muốn làm giáoviênphải có bằng cấp, trải qua thi
tuyển,sáthạch củatrường,tuynhiênngoàikiếnthức chuyên môn được đàotạo, giáoviên
cầnnắmrõnộidungvàyêucầumôn mìnhgiảng,từ đócócácbàigiảng,kế hoạchhọctập
phùhợp.
Ngoàira,giáoviênphảicómộttrình độ sư phạmnhất địnhđể có thể đứnglớp,bao
quát điều khiển hoạt động lớphọc, xử lý các tìnhhuống,vàđặc biệt giảng sinh viên hiểu
bài và chịu học mônhọccủa mình,giảngdạy khôngcó nghĩa là đọc-chép màlà các hoạt
độngchuyểngiaokiếnthức, công nghệ, biến quá trình đàotạothành quá trìnhtự đào tạo.
Trongthựctế,cógiáoviênchỉ đọcchép,cógiáoviênsử dụngmáytính,projectorbiếnquá
trình đọc-chépthànhxem-chép.
Tùy theo đối tượng,nội dung môn học, nộidung bài học (hay chương) giáoviên

khi giảng,hãycố gắngtruyềncho sinhviên lửacủangườithầy,dầndà sẽ thấykết quả mà
dạy xong lớp học đó, mình vẫn còn cảm xúc vì đã mang lại cho sinh viên cái mới, thiết
thựcvàphongcáchlàviệc.
4.2.3 Trách nhiệm giáo viên
Ngoài nhiệt tình, giáo viên có trách nhiệm lớn là dẫn dắt lớp học, do đó
không phải chỉ vào lớp làm duy nhất một nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho
sinh viên mà con hướng dẫn cách học tập, nghiên cứu Do đó giáo viên còn
có các trách nhiệm sau đây:
a. Cung cấp tài liệu
Phải cung cấp đầy đủ tài liệu học tập: giáo trình, tài liệu đọc thêm, tài liệu
tham khảo.
Việc cung cấp giáo trình có thể dể dàng vì hầu như môn học nào cũng
bắt buộc phải có giáo trình hay bài giảng. Tuy nhiên việc cung cấp bài giảng,
giáo trình tham khảo, tài liệu đọc thêm hình như có quá ít giáo viên thực
hiện điều này, như vậy dể đánh đồng học theo Tín chỉ và Niên chế như nhau
b. Đề cương chi tiết môn học (syllabus)
Cần công bố đề cương chi tiết môn học để sinh viên biết rõ lịch trình
học, kiểm tra và các hoạt động khác trong chương trình môn học, sinh viên
chủ động nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu, bởi vì trong đề cương chi tiết nầy
có phân rõ tiết thứ mấy làm kiểm tra, bao lâu thì nộp tiểu luận, tạo ra hoạt
động khoa học trong lớp và cả trường, sau nầy, khi học các môn tiếp theo,
sinh viên đã có nề nếp tốt sẽ tự động làm việc theo hướng dẫn giáo viên,
hình thành thói quen nghiên cứu khoa học và giúp sinh viên đạt được mục
tiêu môn học.
Qua theo dõi các giáo viên giảng dạy ở Khoa Tài Chính Kế Toán (
gồm nhiều tổ bộ môn, nhiều khoa tham gia giảng dạy), việc cung cấp đề
cương chi tiết môn học (syllabus) xưa nay hiếm, do đó cần sự hướng dẫn
cụ thể từ nhà trường để bất cứ môn học nào cũng phải có syllabus cho sinh
viên.
c. Bài tiểu luận và cách cho điểm

tưởng mang đến cho sinh viên dồi dào, viết một mạch 20-30 trang, trong
đó có các đoạn trích dẫn nguyên văn để chứng minh, minh họa thì phải viết
lại trên giấy nguyên văn, vậy còn thì giờ đâu mà sáng tạo. Có lẻ nên xem
xét lại mấy môn học liên đến vi tính cũng không cần đưa vào nhà trường
nữa. Và giáo trình của giáo viên nầy cũng nên viết tay để bảo đảm đó là
hàng chính hãng.
4.2.3 Bài thuyết trình
a. Mục tiêu bài thuyết trình
nghiên cứu, tìm tòi, biên tập, làm việc theo nhóm và quan trọng là
diễn thuyết trước đám đông. Giáo viên cần có đề cương, danh mục đề tài,
công phu hơn bài tiểu luận, hướng dẫn cho sinh viên tổ chức thuyết trình
và thuyết trình, nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử trước đám đông. Sau
mỗi một lần thuyết trình là một bài học kinh nghiệm mà các nhóm khác
phải học tập, sau nầy, khi ra đời, nếu có tổ chức thuyết trình như hội chợ,
Invents, quảng cáo thì sinh viên ta không bở ngở, lóng cóng để trượt
nhiều cơ hội trong cuộc đời
b. Sinh viên phải kiểm soát được buổi thuyết trình
Đừng để cảnh một nhóm người ngồi đầu bàn, có đầy đủ thiết bị truyền
thông như : Laptop, projector, bảng chiếu, bút laser, sóng Wifi phục vụ
Internet nhưng chỉ có một người đứng nói (hay lần lượt xếp hàng để nói),
đọc nội dung dựa vào xấp tài liệu A4 in sẳn, không quan tâm khán phòng
có những ai, đối tượng ngồi có chú ý không, xử lý tình huống ra sao khi ồn
ào, không tập trung. Nếu chấp nhận kiểu thuyết trình trên, vô tình phủ nhận
hoạt động nhóm, không nâng được tầm thuyết trình trước đám động tự tin,
không kiểm soát khán phòng, thì thuyết trình cũng không đạt mục tiêu đề
ra. Phải giao nhiệm vụ tổ chức cho sinh viên, giáo viên chỉ quan sát, đánh
giá cho điểm nhóm thuyết trình, sau đó rút kinh nghiệm. Có như vậy sinh
viên không ỷ lại vào giáo viên, khi thuyết trình, khán phòng ồn ào có giáo
viên ổn định dùm.
c. Bài kiểm tra và thi

 Ví dụ : Lớp XNK13AB học môn "Thương mại điện tử" có 1 buổi
học nhóm khoảng 60 phút về nội dung " Liệt kê các ngân hàng có
giao dịch qua cổng thanh toán trực tuyến" và " Các cổng thanh toán
trực tuyến ở Việt Nam" hay " Dạo qua các chợ ảo kiểu nhóm mua
Groupon" Nội dung nầy không khó, nhưng giảng viên trình sẽ trở nên
nhàm chám, còn sinh viên thì hình như biết nhưng để đó. Còn nếu
như làm việc nhóm thì phải có phòng học để 10 nhóm (khoảng 100
sv) tách ra, sử dụng laptop ( 1 nhóm có 1- 3 laptop là hiện thực) để
tim tòi, biên tập bằng word khoảng 45 phút, 15 phút còn lại là biên
tập thanh bài thu hoạch và nộp bài. Khi sinh viên làm việc, những gì
trước đây bạn thấy, bạn nghĩ sẽ thay đổi.
Có thể tham khảo một hai đoạn phim của lớp QT12AB và Mar12AB
khi thực hiện bài học thảo luận nhóm ở đây
/>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status